Đề án môn Kinh tế Du lịch
LỜI MỞ ĐẦU
Con người luôn luôn thích đi du lịch, được đi chơi đó đây trong một số ngày
nghỉ trong năm là một điều thú vị và là hình thức nghỉ ngơi tích cực, có văn hoá. Quan
hệ với tự nhiên của con người được thể hiện qua sự tiếp xúc trực tiếp với các cảnh đẹp
của tự nhiên, sự tiếp xúc này phải thể hiện rõ sự trân trọng, đối xử có đạo đức. Đứng
trước vẻ đẹp do thiên nhiên và con người tạo nên cần phải có quan hệ đối xử ở mức độ
văn hoá cao.
Một trong các nhiệm vụ chính của du lịch là dạy cho con người biết yêu mến và
kính trọng tự nhiên, hiểu biết các quy luật của tự nhiên, thật sự có ý thức bảo vệ. Vai
trò làm chủ tự nhiên luôn luôn làm giàu có thêm cho nền văn minh loài người. Nếu
chúng ta can thiệp tích cực vào các quá trình tự nhiên thì cần phải có sự cân nhắc kỹ
càng, kết hợp xem xét các quy luật tự nhiên để tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Xuất phát từ quan điểm đó, ngành du lịch cần phải trở thành một trong những ngôi
trường giáo dục con người, ngôi trường của thẩm mỹ và nhân đạo. Du lịch là một
ngành kinh tế sử dụng một phần lớn tài nguyên thiên nhiên, điều đó không có sự thay
đổi. Trong một số trường hợp du lịch có thể gây ra sự thay đổi tổng thể tự nhiên, sự
biến đổi này phần lớn là sự biến đổi xấu đi.
Quần thể chùa Hương là danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam đã được Bộ
VH – TT quy hoạch rộng 18.000 ha, chủ yếu nằm trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa
phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gồm 6 thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục
Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn. Chùa Hương không phải là một ngôi chùa mà là một hệ
thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực có những ngọn núi đá vôi
và rừng nhiệt đới. Lễ hội Chùa Hương được bắt đầu từ Tết Nguyên đán, kéo dài trong 3
tháng, thu hút 90% lượng khách du lịch đến với Chùa Hương trong cả năm. Những
ngày cao điểm, Chùa Hương đón tiếp trên 30.000 khách du lịch. Như vậy, trong một
thời gian ngắn, lượng khách du lịch ồ ạt đến với Chùa Hương đã gây một sức ép rất lớn
lên môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại đây.
Bài viết này của em đề cập đến tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay đang diễn
ra tại chùa Hương mùa lễ hội trong những năm gần đây. Bài viết được chia làm 3 phần
chính:
quanh với cái tên là "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết
Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
2
Đề án môn Kinh tế Du lịch
Như vậy, phần lễ là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn
giáo ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Những tính
chất tôn giáo có phần bị tình yêu thiên nhiên, tinh yêu nam nữ, tình cảm cộng đồng…
tràn đầy chất thẩm mỹ vừa thanh cao, rất trần tục lấn đi. Trẩy hội chùa Hương vì vậy cả
tâm hồn và thể xác đều được đắm sâu vào trong mây ngàn cỏ nội. Ngày hội, làng tổ
chức rước thần từ đền ra đình. Cờ trống đi trước dàn nhạc bát âm kế theo, trai thanh gái
lịch phù kiệu, ông già bà cả thành tâm tiễn thần. Không khí ấy làm tâm linh mọi người
sảng khoái. Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn
văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng
làm lễ tế rước các vị thần làng.
Sau lễ mở cửa chùa du khách trẩy hội trên ba tuyến đó đông dần, mà cao điểm nhất
là ngày 18 tháng hai âm lịch. Tương truyền là ngày khánh đản Đức Quan Thế Âm,
nghĩa là ngày sinh của bà Chúa Ba ở chùa Hương.
Trong suốt những ngày hội là sự nồng nhiệt của tuổi trẻ, là sự thành kính của các
bậc cao niên, là sự hoan hỷ mà nam phụ lão ai ai cũng có phần riêng của mình. Cả ở
những triền núi thấp cao, những rừng cây, rừng mơ… là những đoàn người trẩy hội. Kẻ
đi ra, người đi vào, kẻ đi lên, người đi xuống bồng bềnh vào những đám mây nhẹ. Họ
gặp nhau, quen hay không quen cũng vui vẻ chào nhau bằng một lời chào: "Nam mô a
di đà Phật" nhẹ nhàng. đằm thắm và ấm áp…
Du khách đến chùa Hương sẽ có dịp được chứng kiến và may mắn tham dự vào
không khí sinh hoạt văn hóa của lễ hội. Cảm nhận tinh thần thiên nhiên của ngày hội
lịch sử ấy để từ đó hồi âm về quá khứ của tổ tiên ở một làng quê ven chân núi.
Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét
độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi
Phật. Chính vì vậy, nói đến chùa Hương là nghĩ đến con đò - một dạng của văn hóa
Bảo, đến nhà tổ ở Thiên Trù thành tòa điện Phật tráng lệ. Kể từ đó tới nay, công việc
kiến tạo chùa có lúc hưng, lúc thịnh nhưng chùa Hương không bị lãng quên trong tâm
trí nhân dân. Điều này phản ánh vai trò của đạo Phật trong việc gây dựng, phát triển
Hương Sơn thành một đại kỳ quan của đất nước
Nguồn tư liệu thứ hai đáng chú ý là Phật thoại. Theo cuốn Nam Hải Quán Thế Âm
- một truyện nôm ra đời vào khoảng thế kỷ XVIII - XIX thì chùa Hương là nơi lưu dấu
tu hành của công chúa Diệu Thiện con vua Diệu Trang Vương nước Hưng Lâm. Dân
gian quen gọi công chúa Diệu Thiện là Bà Chúa Ba. Bà tu hành chín năm ở động
Hương Tích đắc đạo trở thành Đức Quán Thế Âm bồ tát, sau trở về diệt trừ cái ác, đáp
hiếu cha mẹ, phổ độ chúng sinh.
Phật thoại truyền miệng còn phong phú hơn. Các cụ bô lão làng Phú Yên (làng
quản lý tuyến Tuyết Sơn) thì kể: Khi mãnh hổ cõng Bà Chúa Ba đến núi Hương Sơn,
ban đầu bà tu hành ở chùa Hỏa Quang, nay là nền đình làng Phú Yên, sau đó bà lên núi
để tĩnh tâm, tu hành ở động Tuyết Sơn. ít lâu sau, bà ngược hướng Bắc tu ở động
Hương Tích.
Phật thoại do các cụ ở làng Yến Vĩ kể cho biết: khi Ngọc Hoàng sai thần linh hóa
hổ đến cứu bà Diệu Thiện (vì quyết chí tu hành, không tuân theo lời cha, nên bị vua cha
sai lính giết), mãnh hổ cõng bà vào núi Hương Sơn. Chỗ bà xuống đầu tiên là hang
Thánh Mẫu, còn gọi là am Phật Tích, tương truyền trong hang còn dấu một bàn chân bà
in trên đá. Am Phật Tích (dấu tích nhà Phật) có tên từ đó. ở đấy bà sang một vũng nước
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
4
Đề án môn Kinh tế Du lịch
trong hang bên cạnh tắm gội rửa nỗi oan ức bụi trần. Chỗ đó sau thành chùa Giải Oan,
có giếng Giải Oan (gọi là Thiên Nhiên Thanh Trì). Trước cửa hang có dòng suối gọi là
suối Giải Oan. Người xưa quan niệm ai oan ức điều gì, thành kính đến nơi đây lễ Phật,
uống nước ở giếng Giải Oan coi như đã giải được nỗi uẩn khúc trong lòng.
Vậy là trong tâm thức của nhân dân đều cho rằng bà Chúa Ba đã tu hành đắc đạo ở
núi rừng Hương Sơn. Câu chuyện về bà Chúa Ba là câu chuyện nhà Phật sáng tác dựa
trên các kinh điển đạo Phật. Nam Hải Quán Thế Âm bồ tát là biểu tượng đẹp đẽ của sự
gặp nhau chào hỏi, câu cửa miệng là Nam Mô A di đà Phật. Trong cách nói dân gian,
người ta bảo đi chùa Hương, ít ai nói đi du lịch Hương Sơn.
Đạo Phật đã ngấm vào lòng người, khẳng định vị trí ở Hương Sơn mà hệ quả là
được triển khai trong một không gian ba tuyến, với hệ thống chùa chiền, tượng đài có
nhà sư trụ trì, làm công việc truyền đạo và hành lễ, dẫn tới các sinh hoạt cũng mang
đậm phong cách nhà Phật. Người Việt phần nhiều theo đạo Phật thì việc hàng năm
đông người đi hội cũng là điều dễ hiểu, tạo nên sắc thái một mùa hội chùa (hội tôn
giáo) ở đất Hương Sơn.
Văn hóa dân gian thể hiện những nội dung dân tộc. Tư tưởng của một tộc người có
thể tìm thấy qua nền văn hóa đó.Nếu như ở một làng Việt, tam giáo Nho, Phật, Đạo
đồng hành phát triển thì ở Hương Sơn, đạo Nho biểu hiện tư tưởng của giai cấp thống
trị thời phong kiến mà cốt lõi là tam cương, ngũ thường không tìm được chỗ đứng. Đất
hội Hương Sơn không dễ gì chấp nhận tính gia trưởng, trọng nam khinh nữ, sự phân
chia đẳng cấp của Nho giáo, nên vắng bặt văn chỉ thờ Khổng Tử. Đạo giáo ngoại lai mà
biểu hiện của nó là thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thái Thượng Lão Quân cũng
không được chuộng như ở một số nơi khác. Như bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương đã
cảm tác "Người quen cõi Phật chen chân xọc, Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm", bởi có
cảnh, có người có không khí hội nên ai cũng thích thú cuộc chơi núi của mình.
Cuộc leo núi ấy tạo ra trong con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn lên đến cái đỉnh
của cái đẹp (nơi ấy là hang động). Và, sự kỳ vọng cái đẹp hẳn sẽ làm con người thêm
phần sảng khoái tin yêu cuộc đời này.Và ở chốn bồng lai tiên cảnh này, con người lại
thể hiện khát vọng rất thực của cuộc đời, cầu mong sự sinh sôi nảy nở, ước mong cuộc
sống đầy đủ. Nhà nông cầu mong mình làm ruộng gạo vun lên thành đụn gạo trắng như
ngọc, người buôn bán mong sao có lẽ, có lời, tiền của như cây vàng, cây bạc. Ai muốn
con trai thì xoa đầu núi cậu, ai ước con gái thì xoa đầu núi cô. Còn người bệnh thì tin
rằng những giọt nước rớt tí tách từ bầu sữa tiên (vú mẹ) sẽ trợ thêm sức mạnh cho
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
6
Đề án môn Kinh tế Du lịch
người mau khỏe… Đó thực là những tín ngưỡng của người lao động. Nơi đây không có
trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi,
cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là
nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho
cuộc sống con người thêm phong phú
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
7
Đề án môn Kinh tế Du lịch
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ,
thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp
hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ
chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con
người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thxuận lợi cho sự phát
triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản
xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống
và hoạt động sản xuất của mình.
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và
sinh vật trên trái đất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực
và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình
bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như
khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai thác quá mức không
gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất
đi khả năng tự phục hồi.
1.Tác động của môi trường đến du lịch
Quần thể Hương Sơn được coi là một đại kỳ
loài người, dần dần hình thức này hội nhập với tôn giáo thích ứng để biến thành một
miền thánh địa. Hiện nay cả người Kinh và người miền núi cũng còn sử dụng nhiều
hang làm chùa - như nhiều chùa Mường, rồi chùa Bà Đen (Tây Ninh), chùa Non Nước
(Đà Nẵng) Cả ba tuyến du lịch (Hương Tích, Long Vân, Tuyết Sơn) đều khai thác
các vị trí động đá để thu hút khách. Ven suối có hang Sơn Thủy Hữu Tình, hang Long
Vân, hang Cá. Trên núi có hang Hồng Sơn, hang Sũng Sàm, hang Trú Quân, có động
Tiên, động Tuyết Sơn, động Hương Tích. ở Hương Sơn thường chùa đi liền với hang,
hay gọi đúng tên là chùa hang (chùa ở trong hang) như chùa Tuyết Sơn, chùa Cá, chùa
Cây Khế, chùa Hinh Bồng, chùa Tiên, chùa Giải Oan Trong tất cả các hang động, nổi
bật hơn cả là động Hương Tích và động Tuyết Sơn.
Chù
a Hinh
Bồng
Chùa Giải
Oan
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
9
Đề án môn Kinh tế Du lịch
Động Hương Tích
Động Hương Tích đã to lại rộng. Người xưa coi động Hương Tích là miệng con
rồng. Theo quan niệm dân gian, đã đi chùa Hương mà chưa tới động Hương Tích coi
như chưa tới chùa Hương. Du khách đến Hương Tích lặng người chiêm ngưỡng những
nhũ đá - những tác phẩm tuyệt mỹ mà tạo hóa phải thầm lặng hàng triệu năm bồi hoàn
mới thành khối, thành hình lạ lùng đến thế. Bởi vậy vào năm Canh Dần (1770) Tĩnh Đô
vương Trịnh Sâm, người có tài văn chương tuần thú qua vùng Hương Sơn, đề thơ ở
động chùa Tiên, sau lên thăm động Hương Tích đã đặt bút cho khắc năm chữ: "Nam
thiên đệ nhất động" (động đẹp nhất trời Nam). Điều đó, chứng tỏ không phải ngày hôm
nay mà cách đây hơn hai thế kỷ non nước Hương Sơn đã nổi tiếng.
Sau động Hương Tích là động Tuyết Sơn. Động này Phan Huy Chú đã từng giới
thiệu trong sách Lịch triều hiến chương loại chí: "Tuyết Sơn ở huyện Hoài An, có
vào tên tự, địa chỉ những người cúng tiến chạm
khắc trên chuông được biết ở thời ấy danh thắng
chùa Hương đã lan tỏa khắp xứ Bắc Kỳ nên nhiều
nội cung, phó tướng, đề đốc, quận phu nhân và
các tín thí ở đồng quê đã góp công của đúc nên chiếc chuông này. Đây là quả chuông
khá đẹp hiện treo ở trong động Hương Tích có niên đại Cảnh Hưng 27 tức năm 1766.
Đáng lưu ý là quả chuông đúc thời Tây Sơn niên hiệu Cảnh Thịnh nhị niên (1793)
trước treo trong động Hương Tích, nay treo ở nhà tổ chùa Thiên Trù. Văn khắc trên
chuông cho biết công lao của nhà sư tự Hải Viên đã đi phổ khuyết thập phương đúc nên
quả chuông này. Chuông cao 1m02, đường kính đáy là 0,56m. Thân chuông có gờ chia
làm bốn múi. Bốn góc nổi bốn vú chuông, xung quanh vú là hạt tròn trông như hình
bông cúc. Chuông chùa như khí cụ tụ linh khí núi sông và phát tiếng ngân vang vọng
như những đợt mưa thấm nhuần vào chúng sinh.
Ngoài giá trị của tượng Phật như đã nói ở phần trên thì ở chùa Hương cổ vật bằng
đá khá nhiều. Điển hình là bia đá. Loạt bia dẹt, bia trụ (tứ trụ, lục trụ ), bia ma nhai
(bia mài khắc trên vách đá) theo thống kế sơ bộ có khoảng 60 đơn vị. Trong đó bia có
niên đại sớm nhất là bia Thiên Trù tự bi ký hiện dựng ở nhà bia trên đường từ bến
Thiên Trù vào chùa. Bia có niên đại Chính Hòa thứ bảy (1686). Nhờ bia này người đời
sau biết được thời ấy hòa thượng Viên Quang "một lòng thanh khiết, tinh thông tam
bảo, trong tu sửa động báu Hương Tích, ngoài mở Phật cảnh Thiên Trù".
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
11
Đề án môn Kinh tế Du lịch
Đây là tấm bia đá lớn, diềm bia được người nghệ sĩ chạm đẽo công phu, các nét
chạm bay bướm mà khỏe khoắn đưa được hơi thở của cuộc sống dân dã lên mặt bia qua
hình tượng các con vật như voi, cua, trâu, vịt rất có giá trị phản ánh tư tưởng của
đương thời. Ít nhiều có giá trị nghệ thuật là bệ đá đặt trước điện thờ Phật ở động Hương
Tích thuộc loại hình nghệ thuật thời Lê - Trịnh do hai vương phủ Nguyễn Hữu Phước -
Lê Trung Vũ.
Do đó, tuy du khách đến chùa Hương có nhiều mục đích khác nhau nhưng mục
nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh
xung đột xã hội.
+ Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du
lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền,
đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật
hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông.
+ Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng
phí.
+ Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây
phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại.
+ Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà
hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ
thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các phương tiện xấu
xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh
quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây
suy thoái môi trường tệ hại nhất.
+ Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể
tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe dọa các loài động
thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn
trùng ). Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di
chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá
cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền
3. Thực tế môi trường ở chùa Hương mùa lễ hội.
a/ Những kết quả đã đạt được.
Hàng năm, lượng khách hành hương đổ về các khu di tích, lễ hội, danh lam thắng
cảnh tăng cao. Như vậy, khâu tổ chức và quản lý, đặc biệt là công tác lo bảo đảm an
ninh, trật tự, giữ gìn vệ sinh môi trường và bảo vệ cảnh quan cho các khu di tích, thắng
cảnh càng đè nặng lên vai các ban quản lý, ban tổ chức lễ hội tại nhiều địa phương.
Phát triển du lịch- dịch vụ chú ý tới hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề
quan trọng là đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Qua đó,
Mùa lễ hội Chùa Hương năm 2007 có nhiều thay đổi sau những đợt trùng tu của
khu di tích: Con đường từ nhà Bia tới cổng Nam Thiên Môn đã được hoàn thiện rất
đẹp. Nhiều động, chùa trong cả quần thể được trùng tu, cải tạo. Các lòng động và sân
cũng được xây kè chắc chắn. Các pho tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát, Tổ sư được tu lý
theo đúng phương pháp cổ truyền công phu. Quan trọng nhất là hệ thống lưới điện đã
vào đến lòng động Hương Tích, thay thế cho điện phát máy , đảm bảo đủ ánh sáng cho
du khách hành lễ. Phần lớn kinh phí dành để tôn tạo, tu sửa trùng tu chùa Hương đều
do sự đóng góp công đức của các Phật tử và nhân dân địa phương
Để nâng cao chất lượng phục vụ và đảm bảo an toàn cho du khách trẩy hội, hệ
thống cáp treo đã được Công ty cổ phần Du lịch vận tải Hương Sơn đầu tư 1.500 tỷ
đồng hoàn thành xong việc bảo trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng để phục vụ tốt du khách.
Để phục vụ khách hành hương, hệ thống cáp treo Hương Tích hoạt động từ 4 giờ 30
đến 20 giờ. Đặc biệt, cầu Vân Đình (Ứng Hòa) nằm trên quốc lộ 21B (tuyến đường
chính từ TP Hà Đông đi Chùa Hương) đã cơ bản hoàn thiện và thông cầu trước Tết
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
14
Đề án môn Kinh tế Du lịch
Mậu Tý, đảm bảo sự thông thoáng cho đi lại trên tuyến
đường này.Hệ thống đường bộ từ khu vực chùa Thiên
Trù ra vào các hang động trong quần thể di tích thắng
cảnh Hương Sơn cũng được đầu tư thêm 10 tỷ đồng để
mở rộng, giúp du khách đi lại thuận tiện. Tuy nhiên,
Ban tổ chức cũng thông báo nhiều dịch vụ trong mùa
lễ hội năm nay tăng giá từ 10 đến 50% như vé cáp treo,
vé thắng cảnh, vé đò đến các loại đồ ăn thức uống, nhà
trọ.
Để đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách, năm 2008 Ban Tổ chức lễ hội đã cấp thêm
thuyền, đò chở khách. Có khoảng 3600 đò lớn, nhỏ được đánh số để phục vụ du khách
trên suối Yến đều được đăng kiểm và gắn biển số, quy định tải trọng, 100% người lái
đò đều được tập huấn để đảm bảo an toàn và phục vụ tốt du khách; hành lang ATGT
hội chùa Hương năm 2008 với đầy đủ các tiểu ban, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến
công tác đầu tư cơ sở hạ tầng và đảm bảo an ninh. UBND huyện đã cấp kinh phí hơn 7
tỷ đồng nâng cấp, mở rộng bến Trình (120m), đường lên xuống từ Thiên Trù lên động
Hương Tích (915m), xây dựng 3 công trình vệ sinh tự hoại, 3 trạm công an trên lộ trình
hành hương Ban quản lý đầu tư chùa Hương cũng đang hoàn thành tuyến đường từ
bến Trò lên sân Thiên Trù.
Tuy nhiên, vấn đề khiến BTC băn khoăn và là thực trạng tái diễn hàng năm, đó là
công tác đảm bảo ANTT, chống mê tín dị đoan, vệ sinh môi trường. Ông Lê Văn
Sang, Phó Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, Trưởng BTC Lễ hội chùa Hương năm 2008
cho biết: Chúng tôi đã phối hợp với CA tỉnh, CAH Mỹ Đức lên phương án đảm bảo
tuyệt đối an toàn ANTT, bố trí 100 cán bộ cảnh sát ứng trực 24/24h trên tất cả các
tuyến nhằm tạo mọi thuận lợi cho du khách thập phương, tiến tới giảm thiểu và triệt
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
16
Đề án môn Kinh tế Du lịch
tiêu tình trạng kẻ gian móc túi, gây lộn xộn trong những ngày cao điểm lễ hội. Bên
cạnh đó, hệ thống hàng quán dịch vụ được bố trí ngăn nắp, thông thoáng hơn. Quy
hoạch dịch vụ trong khoảng sân từ nhà bia đến Nam Thiên Môn được mở rộng ra 20m,
thay vì 10m để tăng hiệu quả diện tích sử dụng. Dọc tuyến Thiên Trù lên động Hương
Tích,chúng tôi bắt buộc hạn chế dịch vụ hàng quán, kiên quyết thực hiện đúng mốc
giới, đặc biệt trước cổng động Hương Tích sẽ không bố trí hàng quán, tạo điều kiện cho
du khách ra vào thuận lợi.
Một vấn đề khác thường xuyên xảy ra tại các lễ hội mùa xuân là công tác vệ sinh
môi trường. Công tác giữ gìn ANTT và bảo vệ, làm sạch môi trường Chùa Hương sẽ
luôn được coi trọng nhất: Lực lượng bảo vệ địa phương được tăng cường. Mỗi chủ đò
đều phải có biển ghi tên, số hiệu đeo trước ngực. Trong trường hợp chủ đò có hành vi
bắt chẹt khách thì khách chỉ cần nhớ tên, biển hiệu, báo với bất cứ ai trong BTC thì chủ
đò đó sẽ bị xử lý nghiêm và phải bồi thường cho khách đi đò. Để giữ sạch môi trường
dòng suối Yến trên mỗi thuyền đều có 1 sọt rác, không để tình trạng vứt rác bừa bãi
xuống dòng suối. Mọi hành vi đổ rác xuống suối Yến của các cửa hàng ven bờ đều sẽ
Mùa lễ hội chùa Hương 2008 đã ghi nhận những nét mới từ công tác tổ chức của
BTC lễ hội chùa Hương như: quy hoạch lại các điểm dịch vụ, hàng quán và đầu tư kinh
phí để phục vụ sửa chữa cơ sở hạ tầng. Tuyến đường lên động chính đã được mở rộng
thêm, những đoạn đường cao, nguy hiểm được đổ bê tông có lan can bảo vệ. Dọc
đường vào suối Yến cứ 500 mét lại có một biển báo, nhắc nhở du khách bảo vệ môi
trường, niêm yết giá vé và cảnh báo du khách cẩn thận. Công tác vệ sinh môi trường đã
được tăng cường, đặc biệt an ninh mùa lễ hội cũng được thắt chặt hơn
Các biển
báo nhắc
nhở dọc bờ
suối Yến
Để nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du khách trong 3 tháng diễn ra lễ hội, xã
thường xuyên phối hợp với Sở GT-VT tập huấn về Luật Giao thông đường thủy cho lái
đò; phát triển rộng mạng lưới bưu chính viễn thông. Để dịch vụ du lịch phát triển, xã
luôn tạo mọi điều kiện và khuyến khích các hộ kinh doanh các mặt hàng dịch vụ, tăng
cường chỉ đạo thúc đẩy phát triển các ngành nghề để tận dụng số lao động nhàn rỗi, tập
trung phát triển các loại đặc sản và mang dấu ấn đặc trưng của Hương Sơn như: Sản
xuất rượu mơ Hương Tích, rau sắng chùa Hương, bánh củ mài thương hiệu Chú Béo
Ngoài ra, xã khuyến khích nhân dân đa dạng hóa các loại hình dịch vụ như: Kinh doanh
các loại quần áo trang phục của các dân tộc trang trí với nhiều họa tiết khác nhau, các
đồ chơi dân gian để du khách có thể lựa chọn làm quà lưu niệm.
Đồng thời, xã thường xuyên tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm cho các chủ
cửa hàng kinh doanh ăn uống để đảm bảo an toàn cho khách trong suốt thời gian diễn
ra lễ hội và mỗi năm đều tổ chức phát động Tuần lễ nước sạch cho hơn 5.000 cán bộ và
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
18
Đề án môn Kinh tế Du lịch
nhân dân trong xã Số lượng khách du lịch bốn phương hằng năm đến tham quan lễ
hội chùa Hương ngày một tăng. Đạt được những kết quả trên là có sự tập trung thống
nhất của chính quyền xã và người dân Hương Sơn. Với mục đích phát huy tối đa lợi thế
thường mang tính trực tiếp, mạnh mẽ và nhanh chóng. Do vậy, việc bảo vệ cảnh quan
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
19
Đề án môn Kinh tế Du lịch
môi trường cần được coi là một trong những nội dung quan trọng của công tác bảo vệ
môi trường du lịch.
Khi diễn ra lễ hội không gian di tích trở nên chật chội, vì số người đột ngột đến
tham dự và trảy hội. Không gian di tích được hình thành từ lâu đời khi mà cư dân thời
đó chắc chắn sẽ ít hơn nhiều lần thời hiện tại. Người xưa trảy hội thường là đi bộ. Thời
hiện đại người ta đến với lễ hội bằng nhiều phương tiên cơ giới là chủ yếu. Không gian
di tích đã chật hẹp càng trở nên chật chội bởi các loại xe cơ giới gầm rú, thải khí độc.
Ai đã từng đi dự lễ hội chùa Hương, lễ hội Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Kho từng chứng kiến
cảnh này. Số người tham dự đông, kéo theo nó là hàng loạt dịch vụ cho người trảy hội:
ăn, uống, ngủ, nghỉ, vệ sinh cá nhân. ở một số hội lớn, diễn ra dài ngày thấy có một số
nhà vệ sinh theo kiểu tự hoại, xây kiên cố, tuy nhiên phần lớn là tạm bợ theo lối dịch vụ
để thu tiền là chủ yếu, không được xử lý. Rất nhiều hàng quán mọc lên với đủ hình
thức nấu nướng. Hàng trăm, hàng ngàn và có thể là hàng vạn con người ăn, uống, hút
tiện tay xả rác trên đường đi với vỏ hộp, giấy gói.
Các lễ hội được tổ chức vào mùa xuân lại chủ yếu vào tháng Giêng mùa cây cối
đâm chồi nảy lộc, lẽ ra cây cỏ phải được nâng niu bảo vệ nhưng người ta mặc sức dẫm
đạp, nhiều khi trèo lên cây cối. Không thiếu những cô cậu muốn lưu tên tuổi đã dùng
dao hoặc những vật nhọn khắc lên cây. Nhiều người hái lộc nhưng chặt cả những cành
đa, cành si Tan hội cây cối quanh di tích như trải qua một trận bom, trận bão.
Không khí lễ hội rất đông người ăn xin họ nằm ngồi hoặc đi lại dọc đường chèo
néo, van xin tiền của khách. Để khách động tâm, người ăn xin thường ăn mặc rách
rưới, bộ mặt lem luốc gớm ghiếc. Sau một ngày ăn xin họ thường tề tựu vào một nơi
nấu nướng ăn uống, góp một phần không nhỏ làm ô nhiễm môi trường sinh thái.
Theo tục lệ, “tháng Giêng là tháng ăn chơi” – mùa của lễ hội, nhân dân khắp cả
nước đang nô nức vãn cảnh, trẩy hội, lễ chùa cầu phúc, lộc. Tuy nhiên, do sự thiếu ý
thức của những người dự lễ hội, hầu hết các lễ hội đều xảy ra tình trạng rác thải tràn
hiện một vài người ở tổ vệ sinh luôn tay nhặt rác. Có thể dễ dàng nhận thấy một điều,
cả du khách, người dân địa phương đều tồn tại một cách nghĩ “ăn xổi ở thì”, cả năm
đến một lần, mua bán cũng chỉ một lần, thảnh thử “cùng nhau xả rác”.
Rác tại khu du lịch chùa Hương đáng rung hồi chuông báo động. Rác mọi nơi mọi
chỗ, từ cổng vào đến bên trong, từ suối đến đường bộ. Ngồi trên cáp treo nhìn xuống
đường bộ lên động Hương Tích sẽ thấy cơ man nào là rác. Rác được xả ra từ các hàng
quán dịch vụ bên đường, từ khách thập phương, trong khi đó số lượng thùng rác BTC
đặt ra dọc đường quá ít. Có chỗ, tìm cũng chẳng thấy nên khách cũng chẳng ngần ngại
xả rác luôn ra đường
Từ bến đỗ cáp treo vào động Hương Tích, những tấm biển quảng cáo, bảng chỉ dẫn
nhà vệ sinh lẫn giữa những biển hiệu quán kem, sữa chua- giăng lên, trông lem nhem
lắm. Còn người bán rau sắng, khoai Tam Đảo, mơ hương thì cứ bày ra lối đi mà bán.
Khách muốn đi thì phải tránh. Số khách lên chùa Hương từ 1 vạn – 3 vạn người/ngày,
thì rác xả ra là bao nhiêu tạ, bao nhiêu tấn? Cũng có những con thuyền đi hớt rác nhưng
khách thập phương vẫn hồn nhiên vứt xuống suối Yến. Ban tổ chức Lễ hội dẫu có lo
cũng thật khó xuể khi ý thức về vệ sinh môi trường của du khách quá kém.
Chuyện vứt rác xuống suối, rác vứt ra lối đi - Ngỡ chuyện nhỏ mà không hề nhỏ
với một Lễ hội lớn như Chùa Hương. Có thể phải có biện pháp quản lý mạnh tay hơn,
kẻo mùa sau rác vẫn còn là chuyện âu lo về môi trường đối với động, núi, và suối ở
chốn được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất động” này.
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
22
Đề án môn Kinh tế Du lịch
Ngay tại các chùa hệ thống vứt rác cũng chỉ là tạm bợ.
Những ngày đầu khai hội chùa Hương, đường sá sạch đẹp hơn, bến Đục được khơi
lòng rộng và sâu hơn. Tuy nhiên, cảnh quan hữu tình cũng không làm du khách thôi bất
an về tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng ở các cửa hàng ăn.
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
23
Rửa bát đũa, xoong nồi bằng nước sông cho tiện
Lễ hội chùa Hương vào ngày cao điểm đã thải ra môi trường 7 tấn rác thải rắn và
khoảng 20.000 lít nước thải/ ngày; một số khu du lịch sinh thái lượng rác thải của du
khách cũng khá lớn nhưng ý thức về vệ sinh môi trường còn hạn chế, khu sản xuất của
các làng nghề còn nằm trong khu dân cư có lượng rác thải, nước thải nhiều nhưng phần
lớn chưa có hệ thống xử lý đạt chuẩn Chính vì vậy, tỉnh Hà Tây đã xây dựng cơ chế
phối hợp giữa ngành Du lịch và Tài nguyên - Môi trường về công tác bảo vệ môi
trường du lịch, xây dựng chiến lược, kế hoạch bảo vệ môi trường dài hạn và tăng
cường đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, có biện pháp xử lý kịp thời những vi
phạm trong vấn đề bảo vệ môi trường du lịch
Có hai đối tượng tạo ra các hoạt động tại các khu di tích: chủ nhà và khách. Khách
thập phương mới là những người chủ yếu tạo ra các sản phẩm phế thải, tạo ra ách tắc
giao thông vì chen lấn lộn xộn.
Không có một quốc gia nào trên thế giới giống như Việt Nam trong việc cúng tế,
ăn gì cúng nấy. Việc cúng tế, hóa vàng mã trước tiên là của nhà chùa, chúng tôi biết
những nguyên tắc lễ giáo, cúng Quan Thế Âm cần những gì, cúng Đức Thánh Mẫu cần
gì. Và không có cúng mặn.
Nhưng khách hành hương đa số mang theo đồ ăn, cúng lễ xong là ăn và xả rác
ngay tại chỗ. Họ không biết nguyên tắc đã đành nhưng thực tế họ chỉ đang nghĩ cho
bản thân trước khi nghĩ đến việc cúng lễ. Ví dụ, có đoàn đi khoảng 10 người thì phải
Phạm Thị Ngọc Hạnh - Lớp Du lịch 47
25