LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước (NSNN) là công cụ tài chính chủ yếu của nhà nước để đảm
bảo về mặt vật chất cho bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà nhà
nước đảm nhận. Trong phạm vi địa phương, ngân sách địa phương (NSĐP) tồn tại như
một tất yếu khách quan, là công cụ để chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội của mình.
Trong bối cảnh hiện nay, với việc phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa hiện đại
hóa được đặt ra rất nặng nề. Với nguồn thu ngân sách hạn hẹp, không ổn định, trong
khi nhu cầu chi ngân sách ngày càng lớn, đòi hỏi phải tăng cường quản lý NSNN là
nhiệm vụ lớn của phường Trung Tự trong hiện tại cũng như tương lai. Với hy vọng có
thể góp một phần nhỏ bé vào việc tăng cường quản lý ngân sách nhà nước một cách
hiệu quả hơn em đã chọn đề tài sau cho chuyên đề thực tập của mình:
“Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích tình hình thu chi ngân
sách phường Trung Tự thời kỳ 2003-2007”
Kết cấu đề tài gồm 3 chương chính:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Chương 2: XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU CHI NSĐP
Chương 3: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH THU CHI NSĐP Ở PHƯỜNG TRUNG TỰ (thời kỳ 2003-2007)
Do thời gian và kiến thức có hạn nên đề tài của em không tránh khỏi thiếu sót.
Em rất mong được sự đánh giá và góp ý của các thầy cô giáo để cho đề tài của em hoàn
thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cám ơn PGS-TS Nguyễn Công Nhự đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt thời gian thực tập cũng như giúp em hoàn thành tốt chuyên đề thực
tập!
1
thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài
chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập được sáng tạo ra trong
khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất
cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội .Như vậy, về hình thức
có thể hiểu: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước có trong
dự toán, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của nhà nước.
Tuy nhiên, hoạt động của Ngân sách Nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn
tài chính của xã hội gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung là
Ngân sách nhà nước. Trong quá trình phân phối đó đã làm nảy sinh các quan hệ tài
chính giữa một bên là nhà nuớc và một bên là các chủ thể trong xã hội. Những quan hệ
tài chính này bao gồm:
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh tế này phát
sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình thức các loại thuế
mà doanh nghiệp phải nộp. Đồng thời, Ngân sách chi hổ trợ cho sự phát triển của
doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hổ trợ vốn…
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan hệ này
phát sinh trong qúa trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc Ngân sách nhà
nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước. Đồng thời, trong cơ chế kinh tế thị
trường các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu
này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách, một phần trang trải
các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này được thể hiện
qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc
3
nộp các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhà nước
các khoản trợ cấp theo chính sách qui định.
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính: Quan hệ này phát sinh khi
Là một quốc gia thống nhất, dựa trên nguyên tắc phân chia hành chính lãnh thổ
theo các cấp: trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (và tương
đương), xã (và tương đương). Các đơn vị hành chính lãnh thổ từ tỉnh xuống xã là
những cấu trúc lệ thuộc theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục
tùng trung ương. Do vậy, tổ chức hệ thống NSNN cũng đảm bảo tính tập trung thống
nhất, phù hợp với hệ thống hành chính 4 cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã).
Phù hợp với tổ chức bộ máy Nhà nước ta hiện nay, hệ thống NSNN được tổ chức
thành một hệ thống thống nhất như sơ đồ ở Hình 1.1:
5
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa NSNN với tổ chức bộ máy chính quyền
Bảng 1.1: Các khoản mục thu, chi Ngân sách nhà nước
Nội dung của ngân sách hiện nay
6
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Chính quyền
địa phương
NS
Trung ương
Chính quyền
Trung ương
NS cấp tỉnh
Tỉnh
NS cấp huyện
Huyện
NS cấp xã
Xã
3. Thu sự nghiệp
X
4. Thu từ quỹ dự trữ nhà nước
X
5. Thu sử dụng đất: Thu nhập từ tài sản và đất đai nhà
nước
X
6. Vốn đóng góp của các tổ chức và cá nhân đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
X
7. Đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nước
X
8. Bất động sản Nhà nước được hưởng theo di chúc
X X
9. Thu kết dư ngân sách năm trước.
X X
10. Tiền bán hoặc cho thuê các tài sản Nhà nước trong
các đơn vị hành chính sự nghiệp
X
11. Tiền phạt và tịch thu
X X
12. Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
X X
13. Viện trợ không hoàn lại (bằng tiền mặt hoặc các
hình thức khác) của các tổ chức, chính phủ và các cá
nhân nước ngoài
X
7
X
Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.
X
Các chương trình mục tiêu quốc gia.
X
Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính
phủ.
X
Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội.
X
Trợ cấp cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp theo quy
định của pháp luật.
X
Trả lãi tiền do Chính phủ vay
X
Viện trợ cho các tổ chức và chính phủ nước ngoài
X
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
X X
2. Chi đầu tư phát triển
50% được dùng để chi cho các chương trình mục
tiêu quốc gia ưu tiên nhưng cũng có thể dùng để làm
ngân sách dự phòng
X
vv.1.1.2 Ngân sách địa phương (NSĐP)
Ngân sách nhà nước gồm Ngân sách trung ương (NSTW) và NSĐP. Ngân sách
địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân
(HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) theo quy định của Luật tổ chức HĐND và
UBND theo quy định hiện hành. Theo đó, ứng với mỗi cấp chính quyền có HĐND thì có
cấp NSNN tương ứng (Hình 1.2). Trong đó, NSĐP có ba cấp như sau:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh)
bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh.
9
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách
huyện) bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn.
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Hình 1.2: Phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay
Như vậy, NSĐP là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền
bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp, được giao nhiệm vụ đảm nhận các
khoản thu và nhiệm vụ chi có tính chất địa phương (phản ánh nhiệm vụ thu chi theo
lãnh thổ), đảm bảo tổ chức quản lý toàn bộ kinh tế - xã hội của chính quyền cùng cấp.
1.1.3 Vị trí, vai trò của NSĐP
Xét trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia, NSTW chi phối phần lớn các nguồn thu
Trong hệ thống NSNN và trong mối quan hệ với NSTW, NSĐP vừa có vị trí độc
lập, vừa có vị trí phụ thuộc. Vai trò phụ thuộc của NSĐP thể hiện ở chỗ: Nguồn thu
của NSĐP thường là nguồn thu "loại 2", bao gồm các khoản thuế được phân cấp, phí
và lệ phí địa phương. Về chi, bên cạnh các nhiệm vụ chi cho bộ máy quản lý địa
phương và cho các dịch vụ công cộng của địa phương, NSĐP còn phải đảm nhận các
nhiệm vụ chi quan trọng về giáo dục, y tế và đảm bảo xã hội.
Nhà nước ta thực hiện xây dựng hệ thống NSNN trên nguyên tắc: vừa đảm bảo
vai trò chủ đạo của NSTW, ngân sách cấp trên, vừa phải phát huy tính năng động sáng
tạo trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương và cơ sở.
Vì vậy, NSĐP có vị trí độc lập tương đối trong hệ thống NSNN, thể hiện ở chỗ: các
11
cấp chính quyền có quyền lập, chấp hành và quyết toán ngân sách của mình trên cơ sở
các chính sách, chế độ đã ban hành; Chính quyền địa phương được phép ban hành quy
định về một số khoản thu (phí và lệ phí, huy động đóng góp ) và một số chính sách
phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn trong phạm vi được phân cấp, đồng thời phát huy
tính chủ động sáng tạo trong việc khai thác các thế mạnh của địa phương để tăng
nguồn thu, đảm bảo chi, thực hiện cân đối ngân sách.
Căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSĐP được Luật NSNN quy định,
HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân
sách của chính quyền địa phương (bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện
và ngân sách cấp xã) theo những nguyên tắc nhất định. Như vậy, mỗi một tỉnh sẽ có
một nội dung, cơ cấu và mức độ nguồn thu và nhiệm vụ chi khác nhau phù hợp với
nhiệm vụ kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh đối với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh
tế, địa lý, dân cư và trình độ quản lý của từng tỉnh.
1.2 Thu và chi NSĐP
Luật NSNN quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NSTW và NSĐP được ổn
định từ 3 - 5 năm, bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100%, các khoản thu
phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng như nhiệm vụ chi trên cở sở quán triệt các nguyên
theo kế hoạch của tỉnh đã được phê duyệt thì tỉnh được phép giữ lại 100 % số thu phân
chia và chính phủ trung ương sẽ tiến hành cấp phát bổ sung ngân sách để bù đắp số
thiếu hụt này.
1.2.2 Chi NSĐP
Chính quyền trung ương và tỉnh sẽ cùng nhau xác định dự toán thu và chi. Ngân
13
sách Nhà nước bao gồm tất cả các khoản chi ở cấp trung ương (chi tiết các khoản chi ở
Bảng 1.1) và thông qua ngân sách tỉnh, tổng hợp các khoản chi đã được phê duyệt cho
các tỉnh, huyện và xã. Một phần đáng kể số thu thuế nhà nước được thu ở tỉnh và tỉnh
được giữ lại theo tỉ lệ qui định để trang trải cho các dịch vụ đã được Quốc hội thông
qua. Bộ Tài chính lập báo cáo cho tiêu vào cuối năm để báo cáo số chi thực tế từ ngân
sách dự toán. Một số tỉnh huy động được thêm nguồn thu thông qua việc có khả năng
thu vượt số thu địa phương và thu phân chia và thông qua một số loại thuế và phí đã
được trung ương đồng ý. Chính quyền địa phương đã được phép huy động một số
nguồn thu từ phí, lệ phí và phí giao thông. Chẳng hạn như phí trường học và bệnh viện,
phí sử dụng đường và các khoản đóng góp tự nguyện của cộng đồng. Đồng thời, chính
quyền địa phương được phép huy động vốn đầu tư trong nước trong một số trường hợp
cụ thể do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Ngoài ra, nhiều dịch vụ có thể giao cho
Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện như xử lý chất thải, cung cấp nước và điện và giao
thông địa phương. Các doanh nghiệp này có thể đi vay trong và ngoài nước sau khi
được trung ương cho phép (bảo lãnh chính phủ) và phải tuân thủ Luật Doanh nghiệp.
Chi NSĐP chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng,
an ninh, chi giáo dục đào tạo, y tế, trợ cấp xã hội do địa phương trực tiếp quản lý. Việc
đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách trong điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ quản
lý của các vùng, miền khác nhau là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năng của
địa phương, xử lý kịp thời các nhiệm vụ của nhà nước trên phạm vi của từng địa
phương. Luật NSNN cùng đã phân cấp nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ
thông quốc lập các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô
hụt của ngân sách địa phương do chênh lệch giữa tổng số chi và tổng số thu trong cân
đối ngân sách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.
15
Cơ chế cân đối ngân sách này tạo ra thế chủ động rất lớn cho chính quyền địa
phương cho phép giải quyết trước hết các nhu cầu cấp bách để ổn định đời sống và trật
tự xã hội, hơn nữa nó cũng vạch ra một ranh giới rõ ràng về phạm vi tiêu dùng nằm
trong giới hạn các khoản thu nhập do nền kinh tế tạo ra. Các khoản thu bù đắp thiếu
hụt chỉ phục vụ cho chi đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của chính phủ.
1.3 Thực trạng ngân sách nhà nước hiện nay
1.3.1 Thực trạng ngân sách nhà nước thời gian qua
Thứ nhất, ngân sách nhà nước nói riêng, tài chính công nói chung ngày càng trở
thành công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh
tế.
- Công tác quản lý ngân sách nhà nước góp phần làm cho tiềm lực tài chính quốc
gia phát triển liên tục, đạt được sự ổn định tương đối vững chắc.
Với chiến lược ưu tiên tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển, tốc độ tăng chi
thời gian qua đã đạt trung bình khoảng 19%/năm, cao gấp 2 lần tốc độ tăng chi thường
xuyên so với năm trước. Trong đó, tập trung đầu tư phát triển các hệ thống giao thông,
thủy lợi quan trọng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội như: công trình thể dục thể
thao, trường học, bệnh viện. . . Tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo đã liên
tục tăng từ 12,8% (1997) lên 15,2% (2001) và đạt xấp xỉ 16,1% (2003), đến năm 2006
đã đạt gần 55000 tỷ đồng.
- Ngân sách nhà nước góp phần cho Nhà nước thực hiện cải thiện đời sống cán
bộ, công chức và thực hiện các chính sách xã hội. Mức tiền lương cơ bản của các công
chức được điều chỉnh từ 210.000đ/tháng năm 1997 lên 540.000đ/tháng năm 2008.
Trong 4 năm 1999-2002, NSNN đã đầu tư khoảng 3.500 tỷ đồng thực hiện
Chương trình 135, trong đó nguồn vốn của ngân sách Trung ương là 3.200 tỷ đồng. Sự
đầu tư này đã góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
sự nghiệp y tế, sự nghiệp khoa học - công nghệ và môi trường, sự nghiệp kinh tế và các
sự nghiệp khác, chi quản lý hành chính và chi chương trình mục tiêu đã được công
khai chi tiết.
1.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với ngân sách nhà nước
Thứ nhất, chống thất thu NSNN. Thu ngân sách có nhiều nội dung, song có 2 nội
dung quan trọng nhất, đồng thời cũng dễ bị thất thu nhất là: thuế và các khoản thu
mang tính chất thuế, thu từ kinh tế nhà nước. Đây là vấn đề rất lớn, luôn nổi cộm trong
quản lý ngân sách nhà nước. Để xử lý vấn đề này hiện nay có thể có một số phương
pháp sau:
Một là, Nhà nước cần có chính sách, biện pháp vĩ mô tích cực nhằm khuyến
khích mọi người dân, các tổ chức khai thác triệt để các tiềm lực phát triển mở rộng sản
xuất kinh doanh. Cần có sự đổi mới nhiều hơn nữa hệ thống các công cụ tài chính để
kích thích nhân dân phát triển sản xuất kinh doanh.
Hai là, chống thất thu thuế đang là vấn đề nóng bỏng hiện nay. Để chống thất thu
thuế cần xử lý một số vấn đề chủ yếu sau:
- Thường xuyên đổi mới thuế sao cho mức thuế suất đáp ứng được yêu cầu giải
quyết hài hòa quan hệ lợi ích: lợi ích nhà nước, lợi ích nhà kinh doanh và lợi ích người
lao động.
- Đổi mới phương thức thu đáp ứng yêu cầu ''thuận lợi nhất cho người nộp''
- Đổi mới chính sách, chế độ đối với các cán bộ, công chức hoạt động trong các
ngành, lĩnh vực thu NSNN theo hướng thực hiện chế độ đãi ngộ thỏa đáng. Đây là điều
kiện đảm bảo cho số công chức này yên tâm làm việc, tâm huyết với công việc được
Nhà nước giao (thỏa đáng ở đây được hiểu là họ được bảo đảm thu nhập theo chế độ
nhà nước đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình họ có cuộc sống ổn định theo mặt
bằng giá từng thời kỳ); đồng thời, có chế tài xử phạt mang tính răn đe mạnh khi số cán
18
bộ công chức này có hành vi tiêu cực. Điều này có tác dụng chủ động ngăn chặn mọi
Thứ ba, tiếp tục đổi mới phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính
quyền.
Trong hoạt động thực tiễn ở nước ta, muốn đạt được mục đích đó, cần giải quyết
hai vấn đề:
Một là, năng lực của cơ quan chính quyền nhà nước mỗi cấp ở địa phương, đặc
biệt là cơ quan quyền lực nhà nước, thực sự đủ sức thực hiện nhiệm vụ đã được phân
cấp trong quản lý ngân sách nhà nước.
Hai là, tính đồng bộ về mặt thể chế trong việc quy định sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong cùng một cấp chính quyền để quản lý ngân sách nhà nước.
Thứ tư, nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát kết quả quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.
Cấp phát vốn của ngân sách nhà nước phải gắn liền với công tác ''hậu kiểm''.
Công việc này do các cơ quan chức năng (kiểm toán nhà nước, thanh tra tài chính, cơ
quan tài chính) thực hiện. Bên cạnh đó, một hoạt động hậu kiểm vô cùng quan trọng và
mang tính quyết định sẽ do cơ quan quyền lực nhà nước tại mỗi cấp (Quốc hội, HĐND
các cấp) có ngân sách thực hiện. Năng lực kiểm tra, giám sát của các cơ quan trên ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng của toàn bộ quá trình quản lý ngân sách nhà nước. So với
yêu cầu hiện nay, năng lực của các cơ quan trên là điều đáng lo ngại cả về mặt số
lượng lẫn chất lượng. Do vậy, nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ
quan này là vấn đề cần quan tâm giải quyết không chỉ trong thể chế, chính sách, mà cả
trong kỹ năng quản lý ngân sách nhà nước. Những người làm việc trong hệ thống cơ
20
quan quyền lực nhà nước các cấp cần được đào tạo và đạo tạo lại thường xuyên nhằm
cập nhật những vấn đề mới trong quản lý ngân sách nhà nước.
Thứ năm, quy định rõ ràng trách nhiệm vật chất của những ngưới đứng đầu cơ
quan chính quyền nhà nước mỗi cấp trước kết quả quản lý ngân sách nhà nước của cấp.
Cần căn cứ vào mức dự toán của mỗi cấp chính quyền đã được giao phải thực
hiện và những cam kết về kết quả đầu ra gắn liền với các chỉ tiêu của dự toán đó mà
Chỉ tiêu thống kê phản ánh mặt lượng gắn liền với mặt chất của hiện tượng số lớn
trong điều kiện thời gian không gian cụ thể. Chỉ tiêu thống kê khái quát tất cả các đặc
điểm, tính chất từng đơn vị cá biệt. Vì vậy nó phản ánh những mối quan hệ chung của
một nhóm số lớn các đơn vị hoặc hiện tượng. Các chỉ tiêu thống kê luôn tồn tại trong
điều kiện không gian thời gian cụ thể.
Kết cấu của chỉ tiêu thống kê bao gồm 2 mặt:
- Mặt nội dung của chỉ tiêu có tên gọi, điều kiện thời gian và không gian
- Mặt trị số phản ánh qui mô hoặc cường độ của hiện tượng với các loại thang đo
khác nhau.
2.1.1 Yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình thu chi ngân sách nhà nước nói
chung và ngân sách địa phương nói riêng không chỉ đơn thuần là nêu ra có những chỉ
tiêu nào trong hệ thống, mà còn phải đảm bảo có thể thu thập được nguồn thông tin để
22
tính toán các chỉ tiêu một cách đầy đủ. Vì thế, để có thể xây dựng một hệ thống chỉ tiêu
thống kê tình hình thu chi ngân sách một cách khoa học, hợp lý, cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
- Xác định đúng bản chất, tiêu chuẩn đánh giá tình hình thu chi ngân sách.
- Số liệu thu thập được qua hệ thống chỉ tiêu thu chi ngân sách cho phép vận dụng
được các phương pháp thống kê hiện đại và phương pháp toán học để nghiên cứu và
phân tích toàn diện, sâu sắc tình hình thu chi ngân sách.
- Các tài liệu thu thập được phải có tính nhạy bén, kịp thời phản ánh được mọi sự
biến đổi của hiện tượng nghiên cứu đúng lúc cần thiết. Yêu cầu này giúp cho Chính
phủ và các cơ quan có thẩm quyền đưa ra các quyết định, mệnh lệnh có tính chuẩn xác,
kịp thời mang lại lợi ích cao.
- Số liệu thu thập được phải chính xác, khách quan mới có thể dùng làm căn cứ
tin cậy cho việc tổng hợp, phân tích và rút ra kết luận đúng đắn về hiện trạng, các yếu
tố ảnh hưởng đến biến động thu chi ngân sách. Trên cơ sở đó mới có thể tính toán, lập
Tổng thu ngân sách địa phương bao gồm các nhóm sau
*) Tổng các khoản thu NSĐP hưởng 100%
Bao gồm các khoản sau:
a) Thuế nhà, đất;
b) Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí;
c) Thuế môn bài;
d) Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
e) Tiền sử dụng đất;
g) Tiền cho thuê đất;
h) Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
24
i) Lệ phí trước bạ;
k) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
l) Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ dự
trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương;
m) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá
nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương;
n) Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác
nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;
o) Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công an khác;
p) Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
q) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước;
r) Thu kết dư ngân sách địa phương;
s) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
*) Tổng các khoản thu NSĐP được hưởng theo tỉ lệ % so với NSNN
Bao gồm các khoản sau:
a) Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu;
b) Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các