BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LƯƠNG THỊ LIÊN
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ SUY GIÁP TRẠNG BẨM SINH
TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC TỪ THÁNG 6 NĂM
2009 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 2010
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
Khoá 2004-2010
Chuyên ngành: Y tế cộng đồng
Người hướng dẫn khoa học
TS.LÊ ANH TUẤN
PGS. TS. NGÔ VĂN TOÀN
HÀ NỘI 2010
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGTBS : Suy giáp trạng bẩm sinh
CTSLSS : Chương trình sàng lọc sơ sinh
HMGT : Hormon giáp trạng
T
3
: Triiodothyronin
T
4
: Tetraiodothyroxin
TRH : Thyroid releasing hormon
TSH : Thyroid stimulating hormon
ELISA : Phương pháp định lượng miễn dịch enzym
KN : Kháng nguyên
KT : Kháng thể
RIA : Radio immuno assay
kỷ trước, sau hơn 40 năm, hệ thống sàng lọc sơ sinh đã được thiết lập tại nhiều
quốc gia trên thế giới. Ngày nay, chương trình sàng lọc sơ sinh không chỉ mở rộng
về quy mô và phạm vi sàng lọc mà các nhà khoa hoc còn mở rộng số lượng bệnh
được sàng lọc, điển hình như suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD,
phenylxetone niệu
Suy giáp trạng bẩm sinh là bênh phổ biến đứng thứ 2 sau bướu cổ, không chỉ
có tần suất cao ở trong vùng dịch tễ bướu cổ mà gặp ở mọi nơi trên thế giới. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến suy giáp như thiểu sản tuyến giáp, cấu trúc bất thường
của tuyến giáp, tuyến giáp lạc chỗ hoặc không có tuyến giáp. Bệnh này thường ít
được phát hiện sớm hoặc chỉ được chỉ định sàng lọc khi mẹ có bệnh lý về tuyến
giáp (cường giáp đang điều trị thuốc). Tỉ lệ thiểu năng tuyến giáp hiện nay ở các
nước trên thế giới từ 1/3500 đến 1/4000 trẻ mới sinh ra. Một nghiên cứu về SGBS
tại 5 tỉnh: Tp HCM, Lâm Đồng, Hà Giang, Đà Nẵng, Huế năm 2004-2005 đã sàng
lọc cho 19.200 trường hợp, phát hiện có 4 trẻ bị SGBS, tần suất mắc là 1/4800.
Tuy bệnh SGTBS đã được sàng lọc ở Việt Nam từ rất sớm nhưng những
nghiên cứu về tỷ lệ bệnh ở trẻ sơ sinh được sàng lọc ở Việt Nam vẫn chưa nhiều.Vì
vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tỷ lệ bệnh suy giáp trạng bẩm sinh tại một
số tỉnh phía Bắc từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010” nhằm những mục
tiêu sau
Mục tiêu nghiên cứu:
• Mô tả tỷ lệ suy giáp trạng bẩm sinh tại một số tỉnh phía Bắc từ tháng 6
năm 2009 đến tháng 3 năm 2010.
• Mô tả một số yếu tố liên quan với tình trạng suy giáp trạng bẩm sinh.
4
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ
1. Một số hiểu biết về bệnh suy giáp trạng bẩm sinh
1.1. Định nghĩa:
SGTBS là một tình trạng giảm chức năng tuyến giáp, sản xuất hormon tuyến giáp
dưới mức bình thường, làm giảm nồng độ hormon máu do đó gây giảm chuyển hoá
(Feedback) âm tính: Khi nồng độ hormon giáp trong máu tăng cao sẽ ức chế vùng
dưới đồi và tuyến yên, làm TRH và TSH giảm tiết, do đó tuyến giáp giảm bài tiết
T
3
, T
4
. Ngược lại, khi nồng độ T
3
, T
4
trong máu giảm thấp sẽ có tác dụng kích thích
vùng dưới đồi và tuyến yên tiết nhiều các TRH và TSH, hậu quả là T
3
, T
4
lại được
tiết nhiều. Nhờ cơ chế điều hoà này mà nồng độ hormon tuyến giáp trong máu ở
người bình thường luôn ở mức bình thường.
1.2.3. Vai trò của hormon TSH
TSH là hormon của thuỳ trước tuyến yên, tác dụng lên mô đích là tuyến
giáp.
• Tăng số lượng và kích thước tế bào tuyến giáp, phát triển các mao
mạch của tuyến, do đó làm tăng trọng lượng tuyến [5].
• Tăng tổng hợp và giải phóng hormon T
3
,T
4
• Tăng hoạt bơm iod do đó làm tăng khả năng bắt iod của tế bào tuyến
giáp.
• Tăng gắn iod vào nhân Tyrosin.
Với sự phát triển thể chất sau khi sinh
Bao gồm sự phát triển hệ xương, các cơ quan tương xứng cả về cấu trúc và
chức năng. Sự phát triển thể chất ở trẻ em là một quá trình diễn ra liên tục và chịu
sự tương tác của nhiều yếu tố: di truyền, nội tiết, môi trường,… [6].
Ngay sau đẻ,sự phát triển thể chất bắt đầu phụ thuộc vào HMTG, hormon
tăng trưởng (GH) cũng như các yếu tố tăng trưởng (GF).
Tác dụng với sự phát triển của xương
HMGT có tác dụng trực tiếp và gián tiếp lên sự phát triển hệ xương. Cùng
với GH, HMGT tăng kích thích biệt hoá xương, sự chín xương tăng sự đổi mới
xương làm giảm độ đậm đặc xương. HMGT kích thích phát triển các sụn đầu
xương và trực tiếp kích thích xương phát triển theo chiều dài. Ngoài ra HMGT còn
gây tăng huỷ xương và kích thích tái tạo các mô xương mới. Trẻ SGTBS nếu điều
trị muộn sẽ lùn và tuổi xương chậm hơn so với tuổi thực.
Với sự phát triển của hệ thần kinh
HMGT đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển bình thường của hệ
thần kinh bao gồm não bộ cũng như hệ thần kinh ngoại biên. Giai đoạn quan trọng
nhất cho sự phát triển của não bộ là sau khi sinh đến 2-3 tuổi. Đến lúc 3 tuổi, trọng
lượng não bộ đã tăng gấp 3 lần so với giai đoạn sơ sinh. Thiếu HMGT trong thời
kỳ này gây: giảm phân chia tế bào thần kinh đệm, giảm phân nhánh các đuôi gai
7
các nơron, giảm myelin hoá, tổn thương dẫn truyền thần kinh, giảm khối lượng
não. Các hậu quả trên lâm sàng là: chậm phát triển vận động, rối loạn hành vi ứng
xử, rối loạn vận ngôn, điếc, giảm trương lực cơ, run giật, co giật và các mức độ
phát triển tâm thần. Cơ chế cử những tác dụng này còn phức tạp,các giả thiết cho
rằng HMGT tương tác với yếu tố tăng trưởng thần kinh - NGF [17]. Tất cả các
thương tổn thần kinh do thiếu HMGT như trên đều không hồi phục và sẽ gây ảnh
hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống của trẻ nếu điều trị muộn.
Tóm lại, HMGT có vai trò quan trọng trong sự phát triển thể chất và tâm
thần của trẻ nhất là trong vài năm đầu tiên. Các ảnh hưởng của thiếu HMGT là
toàn diện và nặng nề, những trẻ SGTBS điều trị muộn có thể coi như những trẻ tàn
thường và có tính chất gia đình, những người trong gia đình có thể mắc bệnh. Đặc
điểm lâm sang là: có suy giáp trạng và có bướu cổ.
Dựa vào các rối loạn sinh hoá thấy có những rối loạn tổng hợp
• Rối loạn tập trung Iod
• Rối loạn hữu cơ Iod
• Rối loạn ghép đôi các Iodothyroxin
• Rối loạn thuỷ phân Thyroglobulin
• Rối loạn khử Iod
• Rối loạn tổng hợp Thyroglobulin.
1.5. Triệu chứng lâm sàng
Tuỳ theo mức độ và thời gian bị bệnh, cũng như tuỳ theo nguyên nhân gây
bệnh thấy có những biểu hiện lâm sàng khác nhau.
9
1.5.1. Suy giáp trạng phát hiện sớm
Thường gặp do loạn sản tuyến giáp, rất ít gặp do rối loạn tổng hợp.
- Trẻ mới đẻ có triệu chứng
• Chiều cao giảm, cân nặng thường lớn hơn bình thường hoặc bình
thường
• Hạ thân nhiệt
• Trẻ biếng ăn, mút bú kém, bú lâu, táo bón.
• Vàng da sớm và kéo dài.
• Khó thở, tím tái.
• Tóc rậm, khô, thô, lông mày thưa, rậm lông ở lưng.
• Thâm nhiễm ở cung mày và mũi, da lạnh, khô, có các vân tím, thóp
trước và sau rộng, các đường khớp rộng.
• Khóc khàn, lưỡi to dày, môi dày.
• Giảm trương lực cơ, thoát vị rốn.
• Trẻ không khóc hoặc khóc ít, ngủ nhiều, thờ ơ với xung quanh.
• Càng ngày càng thấy chậm lớn rõ, lùn không cân đối, các chi ngắn,
chậm phát triển tinh thần và vận động.
Nồng độ T
4
toàn phần máu giảm: rất hiếm giảm về không, có khi cbỉ hơi
giảm. Sự thay đổi của T
4
tuỳ thuộc vào nguyên nhân và thời gian bị bệnh.
Nồng độ T
3
toàn phần máu giảm: nếu chỉ T
3
giảm nặng là bệnh nặng. Có
trường hợp T
3
bình thường hoặc chỉ thấy T
3
giảm.
Trong suy giáp trạng còn bù, nồng độ T
3
, T
4
có thể bình thường.
11
• Xét nghiệm nồng độ TSH máu
Xét nghiệm này thương có giá trị chuẩn đoán nguyên nhân bệnh:
o TSH máu tăng: gặp trong suy giáp trạng tiên phát. Trong trường
hợp T
3
, T
4
giảm nhẹ hoặc còn bù thì TSH bình thường hoặc tăng
• Độ tập trung I
131
: độ tập trung I
131
giảm trong rối loạn tổng hợp
hormon tuyến giáp.
• Các xét nghiệm khác
o Phản xạ đồ gân gót: kéo dài hơn bình thường (bình thường 0,20-
0,30 giây).
o Chuyển hoá cơ bản giảm (xét nghiệm này ít có giá trị thực hành ở
trẻ em vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm).
o Cholesterol máu tăng, ở trẻ nhỏ có thể bình thường.
o Huyết đồ: thiếu máu đẳng sắc, hồng cầu bình thường.
o Điện tim: nhịp xoang chậm, PR kéo dài, biên độ sóng P và phức bộ
QRS giảm, đoạn ST và sóng T dẹt hoặc đảo ngược.
1.7. Điều trị
Mục đích: Dùng liệu pháp thay thế hormon tuyến giáp suốt đời để duy trì
tình trạng bình giáp
1.7.1. Thuốc:
có 2 loại thuốc chính
• Tinh chất tuyến giáp toàn phần
• Hormon tuyến giáp
1.7.1.1. Hormon tuyến giáp
• Levothyroxin (Thyroxi : T
4
) : (µg/kg/ngày)
Liều Levothyroxin theo tuổi
13
Tuổi Levothyroxin (µg/kg/ngày)
0-6 tháng 8-10
1.7.1.2. Tinh chất tuyến giáp
(Thyroidin, Thyranon): Hiện nay không sử dụng để điều trị SGTBS vì kết quả
không ổn định.
14
2. Chương trình sàng lọc suy giáp trạng bẩm sinh trên thế giới và tại Vịêt Nam
2.1. Sàng lọc suy giáp trạng bẩm sinh và ý nghĩa của nó
Thuật ngữ “sàng lọc sơ sinh” dùng để mô tả một số xét nghiệm được làm
trong những ngày đầu tiên sau khi trẻ ra đời. Ý nghĩa của sàng lọc sơ sinh là để tìm
kiếm, rà soát một số bệnh có thể gây ra di chứng nặng nề về thể chất và trí tuệ
thậm chí là tử vong, mặt khác khi được phát hiện và điều trị sớm thì trẻ sẽ phát
triển như bình thường, chi phí cho điều trị rất rẻ mà đạt được hiệu quả cao.
Hệ thống sàng lọc sơ sinh đối với suy giáp bẩm sinh phải được xây dựng
thành chuơng trình bao gồm 6 thành tố quan trọng là giáo dục về suy giáp bẩm
sinh, sàng lọc, theo dõi, chẩn đoán, điều trị và đánh giá [12].
• Giáo dục về suy giáp bẩm sinh: phải tiến hành giáo dục suy giáp bẩm
sinh rộng rãi trong dân chúng, cũng như các nhà lãnh đạo hoạch định
chính sách quốc gia, cán bộ, nhân viên y tế, thực hành, cũng như sự
tham gia hưởng ứng của người dân.
• Sàng lọc suy giáp bẩm sinh: trước khi lấy máu gót chân trẻ, nhân viên
y tế phải tư vấn cho gia đình hiểu rõ về xét nghiệm sàng lọc suy giáp
bẩm sinh và đồng ý thực hiện xét nghiệm.
o Thời điểm lấy mẫu máu tốt nhất là trong 3-7 ngày sau sinh với
TSH vì lúc này trẻ đã bắt đầu thích nghi với môi trường bên
ngoài.
o Khi thực hiện lấy mẫu nhân viên y tế phải thực điền đầy đủ
thông tin vào phiếu lấy mẫu.
o Nhân viên y tế có thể thực hiện lấy máu ở gót chân hoặc ở tĩnh
mạch.
o Mẫu nên để khô tại nhiệt độ phòng 4 tiếng trước khi cho vào
phong bì chuyển đến trung tâm xét nghiệm.
điều tiết, bổ sung kịp thời những khiếm khuyết mang tính bẩm sinh, sẽ dẫn đứa trẻ
đến tàn phế và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tuy tần suất mắc bệnh
này không cao, nhưng số người mang gen bệnh và tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh là
không ít trong cộng đồng, nó âm thầm lan truyền trong dòng họ, chủng tộc và ảnh
hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số. Đó là tiền đề để ngành sức khoẻ thế
giới đề xuất biện pháp sàng lọc sơ sinh, nhằm phát hiện sớm và can thiệp sớm bệnh
lý này [16].
Đến năm 1963, bác sỹ Robert Guthry đã phát triển thành kỹ thuật máu giọt
trên giấy để làm thành quy trình sàng lọc sơ sinh ở 29 bang trong Hợp Chủng Quốc
Hoa Kỳ cho một số bệnh lý huyết sắc tố, rối loạn nội tiết, chuyển hoá và một số
bệnh nhiễm khuẩn. Từ đó họ đề nghị làm một số xét nghiệm đơn giản như test
ferric để chẩn đoán bệnh Phenylketon niệu. Đây là nhóm nghiên cứu đầu tiên trên
thế giới của văn phòng sức khoẻ bà mẹ trẻ em của Massachusetts đã tham gia vào
chương trình y tế cộng đồng về sàng lọc sơ sinh cho trẻ em [16].
Ngay từ khi chương trình bắt đầu, người ta sử dụng giấy thấm máu để
chuyển mẫu máu từ những vùng xa đến phòng xét nghiệm. Tuỳ từng điều kiện về
kinh tế và các bệnh lý di truyền của từng quốc gia khác nhau mà sàng lọc ưu tiên
các bệnh có tần suất mắc cao nhất để làm sàng lọc sơ sinh, trong đó có bệnh lý suy
giáp trạng bẩm sinh.
Cũng thời điểm này, giữa những năm 60, Australia và Newzealand bắt đầu
làm thử nghiệm chương trình sàng lọc sơ sinh, đến đầu 1970 thì phát triển thành
chương trình quốc gia với 8 loại bệnh Phenylketon niệu.
Tại các nước Châu Âu như Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Thụy Điển,
Bỉ cũng được tổ chức thành chương trình quốc gia vào những năm 70.
17
Trong hơn 40 năm qua, chương trình sàng lọc sơ sinh tại các quốc gia trên
thế giới đã làm giảm tỷ lệ chết và chậm phát triển tinh thần. Tiềm năng của chương
trình mang lại là rất lớn kể cả về lợi ích kịnh tế và lợi ích về chính trị xã hội. Tuy
nhiên chương trình cũng đòi hỏi những nổ lực lớn để vượt qua được những trở ngại
khi mới bắt đầu triển khai.
giai đoạn mở rộng, phát triển ở các tỉnh phía Nam và miền Trung tập trung vào 2
bệnh là suy giáp bẩm sinh và thiếu men G6PD. Cho đến nay nhờ chương trình sang
lọc suy giáp bấm sinh, các tỉnh trong dự án đã phát hiện ra rất nhiều trẻ mắc bệnh,
góp phần làm giảm gánh nặng điều trị bệnh cho gia đình và xã hội. Đồng thời qua
thời gian thực hiện chương trình sang lọc sơ sinh, tỷ lệ mắc bệnh của thiểu năng
giáp bẩm sinh tại Hà Nội được phát hiện là 1/2500 sơ sinh và tần suất mắc suy giáp
bẩm sinh tại 12 tỉnh thành miền Bắc là 1/4221. Như vậy qua hơn 5 thập kỷ nghiên
cứu và thực hành, chương trình sang lọc suy giáp bẩm sinh đã được toàn cầu hoá
khắp năm châu lục chung và tại Việt Nam nói chung (trong đó có Hải Phòng và
Thái Nguyên là hai tỉnh nằm trong mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi).Tại bệnh
viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2002 đã triển khai chương trình sang
lợc sơ sinh cho hang ngàn trẻ sinh ra tại bệnh viện chủ yếu 2 bệnh suy giáp bẩm
sinh và thiếu men G6PD [1].
Tại Việt Nam từ năm 2006 cho đến nay đề án nâng cao chất lượng dân số
thong qua xây dựng và mở rộng chương trình sang lọc sơ sinh đã được triển khai
trong cả nước trong đó Bệnh viện Phụ sản trung ương phụ trách 12 tỉnh phía Bắc
cho tới năm 2010 bao gồm: Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Ninh Bình và Thái
Nguyên. Miền Nam do bệnh viện Từ Dũ phụ trách bao gồm: Thành phố Hồ Chí
19
Minh, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Tháp, Tây
Ninh, Cà Mau, Vĩnh Long và Thừa Thiên Huế, Bà Rịa-Vũng Tàu. Từ năm 2009
Tổng cục Dân số/KHHGD đã hỗ trợ và xây dựng trung tâm sang lọc nữa tại miền
Trung là trường Đại học Y Dược Huế và mở rộng them 07 tỉnh ở Khu vực Miền
Trung là: Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Bình Định và Gia Lai.
Có tần số mắc cao, tỷ lệ mắc trên thế giới 1/4000 sơ sinh, ở Châu Á 1/2500
sơ sinh. Theo một số nghiên cứu gần đây ở nước ta tỷ lệ suy giáp bẩm sin vào
khoảng 1/3700 trẻ sơ sinh sống [1].
Một nghiên cứu về SGBS tại 5 tỉnh: Tp HCM, Lâm Đồng, Hà Giang, Đà
Nẵng, Huế năm 2004-2005 đã sàng lọc cho 19.200 trường hợp, phát hiện có 4 trẻ
tuyến giáp từ người mẹ mắc bệnh tuyến giáp (ví dụ viêm tuyến giáp), tuy nhiên sự
truyền bị động kháng thể chống tế bào tuyến giáp lại không làm tổn thương tuyến
giáp ở động vật [29].
Cũng có giả thuyết miễn dịch cho rằng có liên quan đến sự chuyển qua
những tế bào có khả năng miễn dịch từ mẹ sang bào thai. Những tế bào đó có thể
gây ra thương tổn tuyến giáp từ một phản ứng thải loại quá mẫn chậm. Ở động vật
những thương tổn này đã xảy ra sau khi truyền thụ động tế bào lymphocyte từ
động vật mắc bệnh viêm tuyến giáp [21,29].
Matsuura, N, Yamda năm 1980 đã nghiên cứu 2 trẻ trong một gia đình bị
SGT thoáng qua được sinh ra từ một bà mẹ bị SGT do viêm tuyến giáp Hashimoto.
Kháng thể kháng receptor của TSH đã được chứng minh có trong huyết thanh của
mẹ và hai trẻ. Kháng thể antimicrosome và antithyroglobuline ngưng kết hồng cầu
dương tính ở bà mẹ và hai đứa trẻ nhưng đã âm tính ở hai trẻ sau 6 đến 8 tháng. Sự
phát triển vận động, thể lực, tinh thần của trẻ bình thường vào lúc 2 đến 4 tuổi [21].
21
Các nhà nghiên cứu gợi ý một liên quan của loạn sản tuyến giáp với HLA-
AW các nhóm B18. Tuy nhiên nghiên cứu của Jacobsen trong 33 trường hợp SGT
đã chỉ ra không có sự tương quan giữa SGT và các nhóm HLA [29].
Năm 1980 đã có hai báo cáo mâu thuẫn nhau về type HLA ở bệnh nhân
SGT. Nghiên cứu ở Nhật cho thấy mối liên quan giữa SGTBS và HLA type
AW24, nhưng nghiên cứu ở phía Bắc trung tâm Florida đã so sánh nhóm trẻ bị
bệnh và nhóm chứng đã không thấy bằng chứng sự tăng tần suất mắc bệnh ở nhóm
HLA - kháng nguyên A, nhưng lại có gợi ý tần suất mắc cao hơn ở bệnh nhân có
HLA type B18 [19,21,29].
Theo La Franch (1997) sự phát sinh của loạn sản tuyến giáp còn chưa rõ
ràng,một vài trường hợp là kết quả của đột biến những nhân tố sao chép PAX 8 và
TTF 2 (đột biến di truyền trội nhiễm sắc thể thường). Những đột biến mất chức
năng gen receptor TSH đã được chứng minh nguyên nhân một vài dạng có tính
chất gia đình của một số bệnh nhân không có tuyến giáp [18,24].
Gluters (1999) đột biến gen receptor TSH di truyền lặn nhiễm sắc thể thường cũng
131
của người mẹ khoảng 10- 225 µi
và uống vào giữa tuần 12 và tháng thứ 5 ủa thời kỳ thai nghén đã gây tổn thương
tuyến giáp ở trẻ em và khi trẻ ra đời sẽ bị SGTBS vĩnh viễn [21,49]
4. Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
Vùng Đông Bắc Bộ: Gồm có 11 tỉnh là Quảng Ninh, Bắc Kạn, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái,
Lào Cai. Vùng này có diện tích khoảng 63.627km
2
, trong đó ¾ diện tích là đồi núi.
Tính đến năm 2008 tổng dân cư trong vùng là 8.527.700 người, mật độ dân cư thưa
23
thớt với khoảng 140 người/km
2
. Khu vực Đông Bắc có địa hình phức tạp, việc đi
lại và giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong vùng đặc biệt là vùng cao, vùng
xa gặp nhiều khó khăn. Đây cũng là khu vực tập trung nhiều dân tộc khác nhau:
Tày, Nùng, Dao, có khoảng trên 30 dân tộc trong vùng. Phần lớn dân cư có trình
độ dân trí thấp và trong vùng có sự chênh lệch đáng kể giữa trình độ học vấn và
chuyên môn kỹ thuật giữa các tỉnh trong vùng. Các tỉnh : Thái Nguyên, Phú Thọ,
Bắc Giang, Quảng Ninh có trình độ kinh tế xã hội phát triển không thua kém so
với các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Các tỉnh còn lại trong vùng kinh tế, xã hội kém
phát triển hơn.
Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 10 tỉnh/ thành phố là Hải Phòng, Hà Nội,
Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam,
Vĩnh Phúc. Khu vực ĐBSH có diện tích khoảng 21061,5 km
2
. Tổng dân số trong
vùng tính đến năm 2008 là 19.654.800 người, mật độ dân cư trong vùng thuộc mức
cao nhất cả nước khoảng 933 người/km