vận dụng một nội dung triết học để nghiên cứu một hiện tượng thực tế - Pdf 10

Đ ề tài: Vận dụng một nội dung triết học để nghiên cứu một
hiện tợng thực tế.
Mở đầu
Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế
rất sôi động, các nớc nhanh chóng thực hiện các chính sách kinh tế nhằm đa
kinh tế phát triển, trong đó con ngời là vị trí trung tâm. Muốn vậy các nớc
không còn con đờng nào khác là phải thực hiện công nghiệp hoá - hiện đi
hoá. Do vậy vấn đề công nghiệp hoá là vấn đề chung mang tính toàn cầu
khiến mọi ngời đều phải quan tõm nghiên cứu.
Trong giai on hin nay, Vit Nam vẫn thuộc loại những nớc nghèo
nhất thế giới, nền kinh tế cũn ở tình trạng lạc hậu, đất nớc cha thoỏt khỏi
khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất cha ổn định,
tình hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bội chi ngân sách còn lớn, tốc độ
tăng dân số cao, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng
tăng (6,28% dân số thành thị thất nghiệp), đời sống nhân dân còn nhiều khó
khăn; tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tính theo đầu ngời thuộc loại thấp
nhất thế giới: 220USD, tốc độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nớc trong
khu vực. Gắn liền với nền kinh tế đó là lối làm ăn tản mạn và tuỳ tiện của
sản xuất nhỏ. Cùng với những thuyền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế
thừa cũng có những truyền thống lạc hậu của nhng ngi ó cht đang đè
nặng lên vai ngời đang sống Vì vậy muốn không bị tụt hậu xa hơn nữa,
muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất yếu phải thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành trung -
ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và
Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (20-25/1/1994) đã xác định tới
đây nớc ta chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bớc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc
làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan
trọng hàng đầu trong thời gian tới.Chủ trơng đó tiếp tục đợc hoàn thiện và
có bớc phát triển mới ở các Đại hội VII,VIII,IX và trong nhiều Nghị quyết

ta hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế xã hội nào. C. Mác viết:
Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái
gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những t liệu lao động
nào
Phơng thức sản xuất, cách thức mà con ngời ta tiến hành sản xuất
chính là sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và
quan hệ sản xuất tơng ứng.
1.2 Lực lợng sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lợng
sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C.
Mác gọi là quan hệ song trùng của bản thân sự sản xuất xã hội: quan hệ
của ngời với tự nhiên và quan hệ của con ngời với nhau.
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa ngời với giới tự nhiên.
Lực lợng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con ngời trong quá trình sản
xuất tạo ra của cải xã hội. Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động với
kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng lao động, biết sử dụng t liệu sản xuất để tạo
ra của cải vật chất.Trong quá trình sản xuất, lao động của con ngời và t liệu
sản xuất, trớc hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lợng
sản xuất. Trong đó, lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là ngời lao động
T liệu sản xuất bao gồm đối tợng lao động và t liệu lao động.
Trong t liệu lao động có công cụ lao động và những t liệu lao động
khác cần thiết cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C. Mác đã nêu một t tởng
quan trọng về vai trò của lực lợng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ
xã hội. C. Mác viết: Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với
những lực lợng sản xuất. Do có đợc những lực lợng sản xuất mới, loài ngời
thay đổi phơng thức sản xuất của mình, và do thay đổi phơng thức sản xuất,
cách kiếm sống của mình, loài ngời thay đổi tất cả quan hệ xã hội của
mình. Cái cối xay quay bằng tay đa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay

Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc
vào ý muốn của con ngời, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật
chất thuộc đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực l-
ợng sản xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan
hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một
hệ thống mang tính ổn định tơng đối so với sự vận động không ngừng của
lực lợng sản xuất. Các quan hệ sản xuất của một phơng thức sản xuất là một
hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phong phú và đa dạng biểu hiện dới
nhiều hình thức. Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò
và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói
riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung.
4
Tính chất của quan hệ sản xuất trớc hết đợc quy định bởi quan hệ sở
hữu đối với t liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trng cơ
bản của phơng thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi
nền kinh tế- xã hội xác định, quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất luôn luôn có
vai trò quyết định đối với tất cả các quan hệ xã hội khác . Quan hệ sở hữu là
quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản
xuất. Chính quan hệ sở hữu- quan hệ giữa các tập đoàn ngời trong việc
chiếm hữu các t liệu sản xuất đã quy định địa vị của từng tập đoàn trong hệ
thống sản xuất xã hội. Đến lợt mình, địa vị của từng tập đoàn ngời trong hệ
thống sản xuất lại quy định cách thức mà các tập đoàn trao đổi hoạt động
cho nhau, quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức quản lý quá trình sản
xuất. Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phơng thức phân
phối sản phẩm cho các tập đoàn ngời theo địa vị của họ đối với hệ thống
sản xuất xã hội. Định nghĩa quyền sở hữu t sản không phải là gì khác mà
là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản xuất t sản.( 7).
Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài ngời đã từng trải qua, lịch
sử đã chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với t
liệu sản xuất: sở hữ t nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại

phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vơn tới tối u. Trong tr-
ờng hợp ngợc lại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan
hệ sở hữu, ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội.
Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý
hiện đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc
biệt đối với việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản
xuất ở tầm vĩ mô, trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trớc
đây. Đây là điều rất đáng lu ý trong việc phân tích và đánh giá vai trò của
các quan hệ sản xuất hiện đại.
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các
quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là
những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền
kinh tế- xã hội.
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức
quản lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của
con ngời, nên các quan hệ phân phối là chất xúc tác của các quá trình
kinh tế- xã hội. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của
sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội; hoặc trong tr-
ờng hợp ngợc lại, nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển
của xã hội.
1.4 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời
nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của
6
toàn bộ lịch sử loài ngời- Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Quy luật này vạch ra tính chất phụ
thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lợng sản
xuất. Đến lợt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lợng sản
xuất.

đã nhận định giai cấp t sản không thể biến những t liệu sản xuất có hạm
7
ấy thành những lực lợng sản xuất hùng mạnh mà lại không biến chúng từ
chỗ là t liệu sản xuất do cá nhân sử dụng thành những t liệu sản xuất xã hội,
chỉ có thể đợc sử dụng chung bởi một số đông ngời( 8). Trên thực tế, tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất không tách biệt với nhau.
Quan hệ sản xuất đợc hình thành, biến đổi, phát triển do lực lợng sản
xuất quyết định.
Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả
cao hơn, con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động
và chế tạo ra những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến
đổi và phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen
lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ.
Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất. Còn
quan hệ sản xuất là yếu tố tơng đối ổn định, có khuynh hớng lạc hậu hơn sự
phát triển của lực lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất là nội dung của phơng
thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó. Trong mối
quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức; hình
thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trớc, sau đó hình thức mới
biến đổi theo. Tất nhiên, trong quan hệ với nội dung , hình thức không phải
là mặt thụ động, nó cũng tác động trở lại đối với việc phát triển của nội
dung.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng
hình thành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản
xuất. Sự phù hợp đó là động lực cho lực lợng sản xuất pats triển mạnh mẽ.
Nhng, lực lợng sản xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hớng t-
ơng đối ổn định. Khi lực lợng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan
hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thành chớng ngại đối với sự
phát triển của nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phơng
thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan

phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực l-
ợng sản xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản
xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy
định phơng thức phân phối phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc
hởng. Do đó ảnh hởng đến thái độ của quảng đại quần chúng lao động- lực
lợng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích
hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa
học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao động
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách giản đơn tính tích cực của quan
hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu. Mỗi kiểu quan hệ sản
xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu,
quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản
xuất mới trở thành động lực thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển
sản xuất.
9
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác
động của quy luật này đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản
xuất: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa và
phơng thức sản xuất cộng sản tơng lai.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay
thế kế tiếp nhau từ thấp lên cao của các phơng thức sản xuất. Nhng không
phải bất cứ nớc nào cũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phơng
thức sản xuất mà loài ngời đã biết đến. Thự tế phát triển của lịch sử nhân
loại cho thấy, tùy theo điều kiện lịch sử- cụ thể, một số nớc có thể bỏ qua
một hoặc một số phơng thức sản xuất để tiến lên phơng thức sản xuất mới
cao hơn. Đó chính là sự biểu hiện của quy luật chung trong điều kiện cụ thể
của mỗi nớc. Quy luật chung chi phối sự vận động phát triển của tất cả các

2.3 Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.3.1 Trang bị kỹ thuật và công nghệ theo hớng hiện đại trong các
ngành của nền kinh tế quốc dân
Nội dung này đợc thực hiện qua hai cách:
- Tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ
thuật để tự trang bị
- Trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại còn đợc thực hiện thông qua nhận
chuyển giao công nghệ mới từ các nớc tiên tiến
Nhận chuyển giao công nghệ mới là cách đi sớm đa nhanh nớc ta lên
hiện đại gắn với con đờng rút ngắn con đờng phát triển hiện đại.
Thực chất của việc chuyển giao công nghệ mới là sự chuyển đổi
quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa kỹ thuật công nghệ từ các nớc
công nghiệp tiên tiến sang các nớc có nền kinh tế kém hoặc đang phát triển.
Nếu nh hàng hóa thông thờng thì sự vận động của nó đi từ nơi có giá
thấp đến nơi có giá cao, thì trái lại hàng hóa kỹ thuật công nghệ lại có đặc
điểm đi từ nơi có trình độ cao đến nơi có trình độ thấp.
Để hiện thực hóa việc chuyển giao cần coi trọng các điều kiện về vốn
và đội ngũ làm công tác nhận chuyển giao
2.3.2 Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã
hội
Sự phân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hóa
tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau:
- Tỷ trọng và tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; tỷ trọng và số
tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên.
- Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm u thế so với lao
động giản đơn trong tổng lao động xã hội.
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất chất( dịch vụ)
tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
11
ở nớc ta, phơng hớng phân công lại lao động xã hội hiện nay cần

ở nớc ta qua hàng chục năm xây dựng cơ cấu kinh tế đã đem lại
những thành công nhất định, tạo dựng đợc một bộ phận cơ sở vật chất, công
nghệ nhất định. Song trong việc bố trí cơ cấu kinh tế có những sai lầm
không nhỏ về cơ cấu ngành, chạy theo công nghiệp nặng, cơ khí quá nhiều,
xem nhẹ công nghiệp và kết cấu hạ tầng; chạy theo quy mô lớn; công nghệ
12
lạc hậu Qua nhiều lần đại hội, Nhng kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đến nay, dới ánh sáng của sự đổi mới nói chung, trong đó có đổi mới
việc xây dựng cơ cấu kinh tế, đến nay đã đa lại chuyển động bớc đầu quan
trọng.
Thông qua cách mạng khoa học kỹ thuật và phân công lại lao động
với những tính quy luật vốn có của nó, thích ứng với điều kiện nớc ta, Đảng
ta đã xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý: cơ cấu kinh tế công- nông
nghiệp- dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng.
Cơ cấu nói trên ở nớc ta trong thời kỳ quá độ đợc thực hiện theo ph-
ơng châm: kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi
nhọn- tiên tiến vừa tận dụng đợc nguồn nhân lực dồi dào, vừa cho phép rút
ngắn khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nớc;
lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến quy mô lớn nhng phải là quy
mô hợp lý và có điều kiện; giữ đợc nhịp độ( tốc độ) phát triển hợp lý, tạo ra
sự cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong nền kinh
tế
3. Vấn đề đổi mới quan hệ sản xuất dẫn đến phát triển lực lợng
sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam
nớc ta trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trớc đây, đã có lúc
chúng ta tởng rằng có thể thiết lập đợc một quan hệ sản xuất cao hơn, đi tr-
ớc để mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển. Song kết quả lại diễn ra trái
với mong muốn của chúng ta. đó là lực lợng sản xuất không phát triển, tình
trạng trì trệ kéo dài, hàng hóa sản xuất ra kém chất lợng, giá thành cao
không thể cạnh tranh với hàng ngoại, lại khan hiếm không đủ để thỏa mãn

ngày 13- 1- 1981 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động
trong lĩnh vực nông nghiệp là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình đổi
mới. Nhng cái mốc quan trọng đánh dấu sự đổi mới toàn diện và sâu sắc
nền kinh tế xã hội là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng
12 năm 1986. Với Nghị quyết Đại hội VI, chúng ta đã dứt khoát đoạn tuyệt
với cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển dần kinh tế
sang cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế kinh tế mới
khuyến khích phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng
quan hệ kinh tế với các nớc, các khu vực trên thế giới, động viên mọi ngời
làm giàu trong khuôn khổ luật pháp cho phép.
Đờng lối của đảng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, đợc nhân dân
lao đng hứng khởi hởng ứng và đã đem lại nguồn sinh khí mới, tạo đà cho
nền kinh tế phát triển nhanh chóng và dần dần đi vào thế ổn định. Sau tám
năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt đợc những thành tựu
đáng kể: tăng trởng kinh tế khá, lạm phát đợc đẩy lùi, đời sống nhân dân đ-
ợc cải thiện từng bớc. Sở dĩ có sự chuyển biến đi lên theo hớng vững chắc
nh vậy chính là nhờ chúng ta đã đổi mới từng bớc quan hệ sản xuất cho phù
hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất, do đó đã giải phóng sức sản
14
xuất của xã hội, khai thác đợc các tiềm năng cả ở bên trong và bên ngoài,
làm cho lực lợng sản xuất nớc ta có những bớc phát triển nhảy vọt về chất.
Việc giải phóng lực lợng sản xuất có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong tiến trình đổi mới nền kinh tế nớc ta, bởi vì:
Thứ nhất: nền kinh tế nớc ta còn kém phát triển do điểm xuất phát
thấp, đang ở trạng thái đan xen nhiều loại hình và thành phần kinh tế ở
những trình độ rất khác nhau nh phân tán và tập trung, thủ công và hiện đại,
lạc hậu và tiên tiến Trong tình hình đó, nếu không kiến tạo đợc những
hình thức quan hệ sản xuất đa dạng thích ứng với trình độ của lực lợng sản
xuất ở tất cả các thành phần kinh tế hiện có, chúng ta sẽ không thể khai
thác đợc tiềm năng to lớn của những thành phần kinh tế đó. Vì vậy, thừa

đòi hỏi chúng ta phải tăng cờng mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực với tất
cả các nớc, các khu vực trên thế giới. Để giải phóng và phát triển lực lợng sản xuất,
chúng ta thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
trong đó có thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa.
Một đất nớc vừa phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa lại vừa thừa
nhận sự phát triển của thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa. Điều đó không phải là
một nghịch lý, vấn đề đặt ra ở đây là, chúng ta sẽ sử dụng chủ nghĩa t bản nh thế
nào để phát triển nhanh chóng lực lợng sản xuất mà vẫn xây dựng đợc đát nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa.
Hơn bảy mơi năm trớc đây, Chính sách kinh tế mới đợc Lê nin đề ra cùng
với sự thừa nhận, toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi
căn bản( 12) đã cứu vãn kinh tế nớc Nga Xô viết trẻ tuổi khỏi sụp đổ. Đó là quan
điểm từ bỏ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng
hóa, mở rộng trao đổi, thực hiện chủ nghĩa t bản nhà nớc. Chủ nghĩa t bản nhà nớc
theo Lê nin là cao hơn nhiều so với nền sản xuất nhỏ, rằng: Chúng ta phải lợi
dụng chủ nghĩa t bản, ( nhất là bằng cách hớng nó vào con đờng chủ nghĩa t bản
nhà nớc) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu t sản và chủ nghĩa xã hội, làm ph-
ơng tiện, con đờng, phơng pháp, phơng thức để tăng lực lợng sản xuất lên( 13).
Chúng ta sẽ không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nếu không
xây dựng nền công nghiệp tiên tiến. Nớc ta xuất phát từ một nền kinh tế tiểu nông,
con đờng phát triển mang tính tự phát sẽ là trải qua chủ nghĩa t bản, song để tránh
cho nhân dân khỏi những đau khổ mà chế độ t bản chủ nghĩa có thể gây ra, Đảng
ta dứt khoát lựa chọn con đờng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, chúng ta cần sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc
nh một công cụ hữu hiệu, bắt nhà nớc t bản phải cày trên mảnh đất vô sản, biến
thành phần kinh tế t bản t nhân thành một trợ thủ đắc lực cho chủ nghĩa xã hội.
Rõ ràng, công cuộc đổi mới đòi hỏi một t duy mềm dẻo, năng động và nhạy
bén, phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác- Lê nin và t t-
ởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là t tởng của Lê nin về chính sách kinh tế mới, về chủ
nghĩa t bản nhà nớc, sáng tạo nhiều hình thức quá độ, những nấc thang trung gian

ợc triển khai thực hiện cơ bản, mức thu nhập bình quân của ngời dân cũng đợc
nâng lên( xấp xỉ 200 đô la/năm).
Chúng ta giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh. Về mặt
chính trị, chúng ta tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhà nớc, nâng cao chất lợng quản lý
của đội ngũ cán bộ. Về quan hệ đối ngoại, với chủ trơng muốn làm bạn với tất cả
các nớc trên thế giới, chúng ta đã đặt đợc quan hệ ngoại giao với hầu hết các nớc
trên thế giới. Theo thống kê thì chỉ số ghi nhận quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam là 55,1%( thuộc vào diện trung bình trên thế giới).
17
Trong khó khăn chung, khu vực doanh nghiệp nhà nớc vẫn giữ đợc vai trò
chủ đạo của toàn bộ ngành công nghiệp xét trên cả hai yếu tố quy mô và tốc độ.
Đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất( 46,7%) lại bao gồm toàn bộ ngành công
nghiệp then chốt của toàn bộ nền kinh tế và đuy trì đợc nhịp độ tăng trởng cao
8,7%. Năm 1998, tỷ trọng của công nghiệp quốc doanh trung ơng chiếm 65,45
tổng giá trị sản xuất của công nghiệp quốc doanh nói chung. Khu vực công nghiệp
ngoài quốc doanh vẫn duy trì tốc độ tăng trởng 6,3%. Các công ty cổ phần,
TNHH, doanh nghiệp t nhân có quy mô lớn trong giá trị sản xuất ngoài quốc
doanh tăng trởng khoảng 4,5%. Khu vực công nghiệp đầu t có vốn nớc ngoài tuy
chịu ảnh hởng trực tiếp của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á, khu vực này
vẫn đạt kết quả khả quan: phát triển toàn diện và giữ vững tốc độ tăng trởng cao so
với các năm trớc: 1998 tăng 1,6% so với năm 1997. Không chỉ bổ sung nguồn vốn,
trang bị kỹ thuật và công nghệ mới, khu vực này còn hình thành một số ngành
công nghiệp mới kỹ thuật cao làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng công nghiệp
Việt Nam trên thị trờng trong nớc và thế giới: hàng loạt sản phẩm mới của các
ngành công nghiệp lắp ráp ô tô, sản xuất đồ điện cao cấp, thiết bị bu điện viễn
thông đạt tiêu chuẩn quốc tế và đợc xuất khẩu sang thị trờng thế giới.
18
Kết luận
Từ những phân tích trên ta có thể khng nh mi quan h ca lc
lng sn xut v quan h sn xut cú vai trũ quan trng trong tin trỡnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status