đề xuất và lựa chọn chiến lược thị trường mới cho sản phẩm phần mếm - Pdf 10

CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG PHẦN MỀM VIỆT NAM
1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG PHẦN MỀM
1.1.1. Quy mô của thị trường phần mềm
* Quá trình hình thành và phát triển của thị trường phần mềm Việt
Nam
5 năm đã qua kể từ khi Bộ Chính trị ra Chỉ thị 58/CT-TW về đẩy
mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và Chính phủ ra Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về
việc xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm trong đó xác định
“công nghiệp phần mềm là ngành công nghiệp được đặc biệt khuyến khích
đầu tư, Nhà nước áp dụng mức ưu đãi cao nhất cho các doanh nghiệp làm
công nghiệp phần mềm”, đến nay có thể nói công nghiệp phần mềm đã đạt
được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ, tuy nhiên ngành công nghiệp non
trẻ này cũng đang đối mặt với không ít khó khăn.
Nhờ những cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, cùng với
sự nỗ lực của các doanh nghiệp, hiệp hội, trong 5 năm qua ngành công
nghiệp phần mềm đã có nhiều khởi sắc. Suốt từ năm 2000 đến nay công
nghiệp phần mềm luôn giữ mức tăng trưởng với tốc độ khá cao, trung bình
khoảng 35% năm, gần gấp 3 lần tốc độ phát triển trung bình của toàn ngành
công nghiệp. Thống kê của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh (HCA) cho
thấy đến nay cả nước có khoảng 720 doanh nghiệp phần mềm đang thực sự
hoạt động, thu hút được hơn 20.000 lao động phần mềm chuyên nghiệp.
Tổng doanh thu của các doanh nghiệp phần mềm năm 2005 ước đạt khoảng
250 triệu USD, trong đó có khoảng 70 triệu USD xuất khẩu. như vậy quy
mô ngành công nghiệp phần mềm nước ta cả về lực lượng lao động lẫn
tổng doanh thu hiện nay đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 2000, đó thực sự
là một bước phát triển tốt với một ngành công nghiệp mới như công nghiệp
phần mềm ở Việt Nam. Hơn nữa, một số chuyên gia còn cho rằng phương
1
pháp thống kê nói trên chưa đầy đủ, còn bỏ sót một số lĩnh vực như chưa

tổ chức Quality Assurance Institute - Ấn Độ thực hiện.
• CMM (Capalility Maturity Model) là chuẩn quốc tế đánh giá năng
lực sản xuất của một tổ chức phát triển phần mềm do tổ chức
Quality Assurance Institute - Ấn Độ thực hiện.
• ISO 9001 là chứng chỉ về quản lý chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng đang cố gắng phấn đấu
để lấy chứng chỉ CMM, CMMI hoặc ISO vào những năm tới. Đây là những
dấu hiệu rất đáng mừng về năng lực phát triển của các doanh nghiệp phần
mềm Việt Nam.
Theo thống kê của Hiệp hội các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam
VINASA năm 2004 thì Việt Nam có khoảng 2500 doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực phần mềm, tuy nhiên chỉ có khoảng hơn 700 doanh nghiệp
là hoạt động thực sự và có hiệu quả. Tháng 8 năm 2004, VINASA đã tiến
hành một cuộc tổng điều tra tại hơn 1000 doanh nghiepẹ phần mềm trong
nước và đã thu được các số liệu thống kê cụ thể về loại hình doanh nghiệp,
quy mô lao động cũng như doanh thu bình quân 1 năm của các doanh
nghiệp phần mềm như sau:
STT Loại hình doanh nghiệp Tỷ lệ
1 Công ty cổ phần
Công ty TNHH
Doanh nghiệp tư nhân
86%
2 Doanh nghiệp Nhà nước 6%
3 Công ty liên doanh
Công ty 100% vốn nước ngoài
8%
Tổng 100%
STT Loại hình doanh nghiệp Tỷ lệ
1 Ít hơn 50 người 82%
2 Nhiều hơn 50 người 17%

được quy trình triể khai ứng dụng trong doanh nghiệp một cách
4
khoa học, dẫn đến rủi ro cao trong quá trình triển khai và thường
kéo dài tiến độ.
• Chưa có sự phối hợp với các đơn vị sản xuất phần cứng, dẫn đến đổ
thừa trách nhiệm cho nhau khi phần mềm xảy ra sự cố, gây khó
khăn cho khách hàng.
• Đội ngũ chuyên gia phần mềm bậc cao còn ít.
• Chưa có kinh nghiệm Marketing
• Chưa đủ năng lực tài chính để có thể tăng mức đầu tư cho các hoạt
động Marketing, nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh.
Thống kê của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh HCA cho thấy số
doanh nghiệp chi cho Marketing từ 10% đến 20% tính trên tổng chi phí chỉ
vào khoảng 27%. Thống kê này cũng cho thấy có đến 33% doanh nghiệp
có tổng chi phí cho cả đào tạo phát triển nguồn nhân lực lẫn chi cho nghiên
cứu phát triển chỉ dưới mức 5% so với tổng chi phí, và cũng chỉ có 27%
doanh nghiệp chi trên 10% cho các hoạt động này. Sự thiếu đầu tư nghiên
cứu thị trường, phát triển sản phẩm và nguồn nhân lực là nguyên nhân dẫn
đến năng lực cạnh tranh yếu của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam.
Hơn nữa, tâm lý “muốn làm tất cả từ A đến Z” với mong muốn kiếm siêu
lợi nhuận bán phần mềm đóng gói cho nhiều khách hàng đã khiến cho
không ít doanh nghiệp phần mềm Việt Nam không lượng đúng sức mình
khi tham gia thị trường phần mềm đóng gói rất cạnh tranh, mà bỏ qua thị
trường làm dịch vụ phần mềm còn khá rộng.
Về năng lực hoạt động của các doanh nghiệp phần mềm thì có khoảng
29% doanh nghiệp hoà vốn sau 2 năm thành lập. Đây là một tỉ lệ tương đối
tốt, nhưng cũng có tới 28% doanh nghiệp hoà vốn sau từ 3 đến 4 năm. Số
doanh nghiệp phần mềm có lãi hàng năm từ 10% đến 30% chiếm tỉ lệ 42%,
từ đó cho thấy đa số doanh nghiệp phần mềm có thể khẳng định sự thành

pháp, quản trị Marketing, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, còn
6
bất cập, mất cân đối, chưa có nhiều giáo viên có kinh nghiệm thực tế làm
phần mềm; cơ sở phòng thí nghiệm, thiết bị cho đào tạo thực hành còn sơ
sài. Điều này khiến cho nhiều sinh viên tốt nghiệp còn thiếu hoặc yếu cả về
kiến thức chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường
công nghiệp.
Vì nhân lực được coi là chìa khoá cho sự phát triển của ngành công
nghiệp phần mềm vốn còn non trẻ của Việt Nam nên Nhà nước cần có
những chính sách ưu đãi cũng như nhiều biện pháp tích cực để nâng cao
chất lượng giáo dục nhân lực cho ngành phần mềm trong tương lai.
* Khái quát thị trường trong nước
Phần mềm là một bộ chương trình các chỉ thị điện tử ra lệnh cho máy
tính thực hiện một điều nào đó theo yêu cầu của người sử dụng. Chúng ta
không thể thấy hoặc sờ được phần mềm, mặc dầu ta có thể hiển thị được
chương trình trên màn hình hoặc máy in. Phần mềm có thể được ví như hồn
của máy tính mà phần cứng của nó được xem như phần xác.
Thị trường phần mềm Việt Nam có một khoảng trống rất lớn giữa
người tiêu thụ có nhu cầu về phần mềm tiếng Việt (cá nhân, các cơ quan, xí
nghiệp…) và những nhà lập trình sản xuất ra phần mềm phục vụ cho các
nhu cầu đó. Phần mềm máy tính là một sản phẩm đặc biệt không thể bày
bán và tiếp thị theo kiểu thông thường như các sản phẩm khác. Người mua
cần những thông tin chính xác và đầy đủ về các tính năng, đặc điểm, cách
sử dụng của chương trình hơn là dựa vào các giác quan của mình khi chọn
lựa. Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm đang kinh doanh phần mềm của
mình theo kiểu hàng hoá bình thường, chỉ chú trọng quảng cáo về cảm
quan hơn là cung cấp thông tin đầy đủ nên vẫn không thể làm cho nhiều
người biết về phần mềm của mình. Điều này dẫn đến tình trạng cung và cầu
không gặp nhau, phần mềm viết ra không bán được, còn người sử dụng thì
không biết mua phần mềm nào để dùng.

8
chính… cho đến các hoạt động nghiên cứu và triển khai Marketing. Có thể
kể đến một số nhà cung cấp phần mềm tên tuổi như Microsoft, Oracle…
* Cầu phần mềm
Hiện nay, phần lớn cầu thị trường phần mềm chủ yếu vẫn dựa vào sức
mua của các tổ chức và doanh nghiệp nhà nước bao gồm các Tổng công ty
lớn, các cơ quan Chính phủ, các ngân hàng, trường học, bệnh viện hay
những tổ chức khác…
Khi quyết định sử dụng một phần mềm quản lý, doanh nghiệp thường
đứng trước nhiều sự lựa chọn. Bên cạnh những sự lựa chọn như sẽ sử dụng
phần mềm của nhà cung cấp giải pháp nào? Mức giá phần mềm như thế
nào thì phù hợp… Còn có một sự lựa chọn rất đáng quan tâm đó là nên
mua một phần mềm đóng gói hay là đặt hàng giải pháp theo yêu cầu của
mình và gửi đến một công ty nào đó. Phần mềm đóng gói cũng có những
cái hay, cái không hay mà phần mềm đặt hàng theo yêu cầu cũng thế. Vì sự
lựa chọn này sẽ có những tác động rất lớn trong quá trình khai thác và sử
dụng về sau nên doanh nghiệp cần thiết phải có những nguồn thông tin
tham khảo.
• Phần mềm đóng gói
Phần mềm đóng gói là một phần mềm được các nhà sản xuất đầu tư
nghiên cứu, tổng hợp từ những lần khảo sát nhu cầu thực tế các nghiệp vụ
hoặc một số lĩnh vực nào đó của doanh nghiệp. Từ những thông tin khảo
sát thu nhập các dữ liệu đồng thời kết hợp với những chuẩn mực, nghiệp vụ
đặc trưng của doanh nghiệp, nhà sản xuất sẽ tập hợp thành những điểm
chung và xây dựng nên một mô hình tổng thể, thống nhất khả dĩ thích ứng
với các doanh nghiệp ở một mức độ nào đó.
Phần mềm đóng gói có thể được phân ra thành hai nhóm chính: Nhóm
phần mềm thích ứng sử dụng được ở tất cả các ngành nghề và nhóm phần
mềm chuyên dụng cho những ngành nghề riêng. Đối với nhóm thứ nhất,
các phần mềm đóng gói thường chỉ đáp ứng một phần nhỏ trong toàn bộ

10
1 Đặc điểm
1. Hướng đến những nghiệp
vụ chức năng mang tính
tổng quát, chung của các
doanh nghiệp
2. Giải quyết những vấn đề
mang tính chung đó, khó đi
sâu và bao quát hết tất cả
những đặc điểm của đa số
doanh nghiệp.
3. Có thể áp dụng được
nhiều nơi, rộng khắp cho
nhiều ngành, nhiều công ty.
4. Thời gian triển khai ít, dễ
cài đặt, sử dụng, với một hệ
thống công cụ giúp đỡ và
không phức tạp lắm về mặt
chức năng.
1. Đa phần chỉ hướng đến
và đáp ứng những nhu
cầu đang có của khách
hàng.
2. Giải quyết triệt để
những yêu cầu đó.
3. Thường chỉ đáp ứng
riêng cho đơn vị đặt
hàng, còn rất khó đáp
ứng cho các doanh
nghiệp khác.

phát triển
Cập nhật theo phiên bản Có thể thực hiện ngay.
11
Bảng so sánh giữa phần mềm đóng gói và phần mềm đặt hàng
(Nguồn: Theo tạp chí Tin học và Đời sống)
Chọn phần mềm đóng gói hay sẽ đặt hàng giải pháp cho một nhà sản
xuất phần mềm nào đó? Đây là một trong những vướng mắc thường xuất
hiện khi doanh nghiệp đặt ra nhu cầu tin học hoá hay ứng dụng phần mềm
phục vụ công tác quản lý, điều hành. Cả hai đều có những điểm mạnh,
điểm yếu riêng vì thế sẽ có những tác động khác nhau đối với doanh
nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực nhỏ, hẹp với
quy mô không lớn với các nghiệp vụ, chức năng hoạt động ổn định, theo
chuẩn mực như: bán hàng, dịch vụ kho bãi, xuất nhập khẩu… vì mức đầu
tư cho các phần mềm quản lý có thể không nhiều, nên hướng đến các giải
pháp đóng gói. Điều đó sẽ giúp cần đối giữa vấn đề chi phí và hiệu quả
khai thác phần mềm. Đối với các doanh nghiệp có quá nhiều điểm riêng
biệt trong hoạt động và có thể thay đổi quy trình bất cứ lúc nào thì nên
hướng đến việc sử dụng phần mềm đặt hàng theo yêu cầu quản lý cho một
nhà cung cấp giải pháp nào đó đồng thời thiết lập một kênh quan hệ với
nhà cung cấp giải pháp này.
Tuy nhiên, để thích ứng với nhu cầu của thị trường các nhà cung cấp
giải pháp ngày nay bên cạnh phân ra các sản phẩm đóng gói và các phần
mềm sản xuất theo đơn đặt hàng thì họ đã tích cực kết hợp hai phân loại
này thành một thể thống nhất và linh động hơn. Nghĩa làm họ vừa là sản
phẩm đóng gói, đưng đồng thời cũng bỏ ra một khoản đầu tư thích ứng để
các sản phẩm đóng gói đó sau một số bước chỉnh sửa, cập nhật sẽ trở thành
một sản phẩm dưới dạng phần mềm theo đơn đặt hàng. Điều này vừa giúp
ích cho nhà sản xuất đồng thời cũng mang lại cho người dùng nhiều tiện
ích thuận lợi và dễ dàng hơn trong vấn đề lựa chọn phần mềm.

trường nước ngoài là hỗ trợ của Nhà nước để xây dựng hình ảnh hương
13
hiệu chung cho công nghiệp phần mềm Việt Nam trên trường quốc tế, ưu
tiên thứ hai là tổ chức các hội trợ triển lãm quốc tế về phần mềm ở Việt
Nam thay vì tham gia các cơ hội triển lãm ở nước ngoài.
* Vấn đề sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm
Theo khảo sát đánh giá của Liên minh phần mềm thương mại (BSA),
hiện nay Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh
vực phần mềm cao nhất thế giới (95% năm 2002; 92% năm 2004). Sự vi
phạm sở hữu trí tuệ xảy ra trong hầu hết các môi trường, từ người dùng cá
nhân, doanh nghiệp và thậm chí cả trong các cơ quan Nhà nước. Vi phạm
sở hữu trí tuệ không chỉ xảy ra đối với các phần mềm nước ngoài có giá
bản quyền khá cao so với thu nhập bình quân của Việt Nam, mà cũng xảy
ra đối với các sản phẩm trong nước với mức giá khá hợp lý. Sự vi phạm sở
hữu trí tuệ về phần mềm gây ra nhiều tác động xấu về mặt kinh tế cũng như
xã hội, tuy nhiên cho đến nay tình trạng này vẫn chưa được cải thiện.
* Một số Công ước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Tính cho đến nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của 3 tổ chức
lớn trên thế giới về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Bao gồm:
• Công ước Stockholm
Đây là Công ước về việc thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, ký
tại Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967, tên viết tắt là WIPO. WIPO có
trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế
giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp
ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh pháp luật và quản lý sở hữu trí
tuệ. Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02 tháng 7 năm 1976.
• Công ước Paris
Công ước này được ký tại Paris năm 1883, tính đến ngày 22 tháng 06
năm 1999 đã có tới 155 nước thành viên. Việt Nam trở thành thành viên
của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 08 tháng 03

15
Tỷ lệ vi phạm bản quyền cao làm nhiều công ty phần mềm bị thua lỗ,
điều này làm cho các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước không muốn đầu
tư vào công nghiệp phần mềm tại Việt Nam, hậu quả là công nghiệp phần
mềm không thể phát triển được. Kinh nghiệm của nhiều nước thành công
về công nghiệp công nghệ thông tin trên thế giới cho thấy họ đều rất nỗ lực
trong việc giảm tỷ lệ vi phạm sở hữu trí tuệ phần mềm. Ở Việt Nam, theo
kết quả nghiên cứu phối hợp của IDC và BSA, cho dù ngành công nghệ
thông tin còn nhỏ cả về quy mô cũng như đóng góp cho GDP, nhưng nếu
từ 2002 đến 2006 tỉ lệ vi phạm bản quyền giảm 10% thì tốc độ tăng trưởng
sẽ đạt tới 146%. Ngoài ra, việc mua bán các phần mềm lậu với giá rất “bèo
bọt” còn làm cho Nhà nước thất thu một khoản thuế lớn từ hoạt động kinh
doanh phần mềm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền
kinh tế.
Không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp, bản thân người dùng
cũng bị thiệt hại do sự vi phạm sở hữu trí tuệ phần mềm quá cao. Các nhà
sản xuất phần mềm không muốn nghiên cứu phát triển sản phẩm mới trong
hoàn cảnh vi phạm bản quyền tràn lan, hậu quả là người dùng không có
nhiều sản phẩm tốt để sử dụng, xã hội không được hưởng những thành quả
lẽ ra phải có của công nghiệp phần mềm. Sự nghèo nàn về các sản phẩm
phần mềm nội dung giáo dục ở Việt Nam là một minh chứng cho điều này.
Việc dùng các phần mềm lậu cũng làm cho người dùng mất đi cơ hội nhận
được sự hỗ trợ từ nhà sản xuất cũng như việc thảo luận với họ để phát triển
tiếp các sản phẩm mà mình yêu thích. Đó là chưa kể ccs phần mềm lậu
thường là những phần mềm bẻ khoá không đầy đủ, chép thiếu file và hay
chứa virus, do vậy tiềm ẩn những nguy cơ có thể dẫn đến những sự cố gây
thiệt hại khó lường cho người sử dụng.
Hơn nữa, sự tự do vi phạm bản quyền còn gây ra ý thức coi thường
giá trị sáng tạo trí tuệ trong giới trẻ, nhất là trong tầng lớp sinh viên học
sinh, điều này có thể làm nhụt chí các tài năng trẻ không muốn nỗ lực sáng

• Một số tổ chức, cá nhân như các cơ sở in sao băng đĩa trái phép
và các cửa hàng kinh doanh băng đĩa lậu cố tình vi phạm sở hữu
trí tuệ để trục lợi
Hoạt động bẻ khoá, sao chép các phần mềm lậu nhằm mục đích kiếm
lời bất chính là một hoạt động kinh doanh bất hợp pháp cần bị xã hội lên án
và luật pháp nghiêm trị. Hiện tại các cơ quan chức năng đã có nhiều đợt
truy quét các ổ sao chép trái phép cũng như các cửa hàng kinh doanh băng
đĩa lậu, tuy nhiên do nhiều lý do như sự yếu kém về trình độ của các cán
bộ, quan điểm chưa thật kiên quyết cảu các cơ quan chức năng…, nên các
chiến dịch này chủ yếu mới chỉ nhằm vào các tác phẩm văn hoá mà chưa
thực sự hiệu quả trong lĩnh vực phần mềm.
• Các nhà lắp ráp máy tính trong nước thường cài đặt sẵn nhiều
phần mềm lậu nhằm giảm giá thành máy bán ra cũng như để gia
tăng giá trị máy tính
Vì nếu tất cả các phần mềm cài trên máy đều được mua bản quyền thì
giá máy có thể tăng thêm đến hàng trăm USD. Chỉ có một vài nhà lắp ráp
máy tính thương hiệu lớn là có tuân thủ luật bản quyền, còn đại đa số các
đơn vị lắp ráp máy tính thủ công (chiếm hơn 75% thị trường) thì hầu như
hoàn toàn cài phần mềm lậu cho máy tính của họ. Việc chưa có các biện
pháp mạnh để xử lý sự vi phạm sở hữu trí tuệ của các đơn vị lắp ráp cung
cấp máy tính loại này làm cho tỉ lệ vi phạm bản quyền lại càng cao.
• Các doanh nghiệp phần mềm chưa thực sự chủ động trong việc
chống vi phạm bản quyền
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền dân sự, do vậy các doanh nghiệp phần
mềm không nên ỷ lại trong chờ vào các biện pháp của nhà nước mà phải
chủ động có các bienẹ pháp phòng, chống, phát hiện xâm phạm và khiếu
kiện yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp khi canà. Cho đến nay
hầu như chưa có một đơn khiếu kiện của doanh nghiệp phần mềm Việt
Nam nào được gửi đến cơ quan chức năng về việc vi phạm bản quyền phần
18

• Việc tổ chức quản lý Nhà nước cũng như khung pháp lý cho vấn
đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều bất cập
Hiện chưa có một văn bản pháp luật cụ thể nào cho riêng vấn đề bảo
hộ sở hữu trí tuệ về phần mềm được ban hành. Việc bảo hộ phần mềm hiện
căn cứ vào nhiều phần khác nhau tại nhiều bộ luật riêng rẽ, và phần nội
dung liên quan đến phần mềm khá sơ sài, ví dụ:
1. Theo luật về bảo hộ quyền tác giả, sản phẩm phần mềm được bảo
hộ như một tác phẩm văn học, được quy định trong phần 6 bộ luật dân sự.
2. Theo luật về sáng chế, giải pháp hữu ích, tuy không bảo hộ bản thân
phần mềm nhưng vẫn bảo hộ các quy trình, thiết bị được điều khiển bởi
máy tính có cài đặt phần mềm;
3. Luật về bí mật kinh doanh bảo hộ hần mềm đang được bảo mật;
4. Luật về nhãn hiệu hàng hoá hoặc tên thương mại bảo hộ uy tín của
phần mềm hoặc của doanh nghiệp.
Do vậy, rất khó có thể hiểu được một cách rõ ràng và thống nhất các
vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ phần mềm như:
1. Phần mềm được bảo hộ gồm những gì?
2. Ai có quyền gì đối với phần mềm?
3. Chủ phần mềm có những quyền gì?
4. Chế tài nào cho từng loại vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phần mềm?
5. Vi phạm nào thuộc phạm vi quản lý hành chính (có thể xử lý theo
chế tài hành chính)?. Vi phạm nào thuộc phạm vi xử lý của chế tài dân
sự?
Về tổ chức của các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ cũgn đang ở trong giai đoạn chuyển đổi và cơ cấu lại. Hiện có
đến 3 cơ quan có chức năng quản lý về sở hữu trí tuệ, đó là Cục sở hữu trí
tuệ - Bộ Khoa học Công nghệ, Cục bản quyền tác giả - Bộ Văn hoá thông
tin, và có thể có cơ quan quản lý nhãn hiệu hàng hoá thuộc Bộ thương mại.
20
Tuy nhiên cơ cấu này chưa hoàn toàn ổn định và đang tạo ra những khoản

tiếp cận được bằng một cách nào đó để sao chép tác phẩm gốc). Hơn nữa
trình độ năng lực nghiệp vụ vèe sở hữu trí tuệ phần mềm của các cán bộ
thực thi cũng chưa đủ đáp ứng yêu cầu công việc. Các hình phạt đưa ra
không mang tính răn đe, không có khả năng năng ngăn chặn, mà thường
chỉ phạt cho tồn tại, chỉ phạt hành chính mà không truy cứu hình sự. Điều
này cùng với việc thiếu một quyết tâm cao của các cán bộ có trách nhiệm
làm cho vấn đề bảo vệ bản quyền phần mềm hầu như không có tiến triển.
1.1.3 Xu hướng vận động
* Cơ hội Việt Nam gia nhập WTO, bước vào sân chơi toàn cầu, các
doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp sản xuất gạch
Ceramic nói riêng đang đứng trước những cơ hội mới hết sức quan trọng.
Thứ nhất đó là thị trường được mở rộng. Không những kinh tế nước
nhà phát triển, sức muc của nhân dân tăng lên mà từ nay, doanh nghiệp
Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với 150 thành viên của
WTO chiếm 85% thương mại hàng hoá và 90% thương mại dịch vụ toàn
cầu. Trên thị trường rộng lớn ấy, những rào cản về hạn ngạch, giấy phép,
thuế quan… sẽ dần bị gỡ bỏ. Hàng hoá nước ta có điều kiện đi ra nước
ngoài, thâm nhập thị trường toàn cầu bình đảng với các nước khác.
Thứ hai, các doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội tiếp cận một cách
bình đẳng công nghệ, vốn tín dụng và nhân lực từ bên ngoài. Đây chính là
những yếu kém của các doanh nghiệp nước ta mà trước đây ta chưa giải
quyết được, đặc biệt là các công nghệ hiện đại sẽ được tiếp thu từ các
doanh nghiệp nước ngoài vào sản xuất kinh doanh ở Việt Nam. Riêng đối
với ngành sản xuất gạch Ceramic thì đây là cơ hội rât tốt để các doanh
nghiệp có thể cái tiến máy móc, thiết bị, công nghệ của mình để có thể sản
xuất ra những sản phẩm chất lượng cao hơn, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Và sản
phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ dễ dàng hơn trong việc thâm nhập
thị trường quốc tế.
22
Cơ hội thứ ba đối với doanh nghiệp Việt Nam đó là môi trường kinh

thấp, do vậy nếu doanh nghiệp không sản xuất được sản phẩm hàng hoá có
sức cạnh tranh cao thì nguy cơ bị xâm chiếm thị trường và rủi ro dẫn đến
thất bại là rất cao.
Thách thức thứ hai là hầu hết các doanh nghiệp chưa nắm rõ những
vấn đề mà họ có thể gặp phải sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Các thông
tin mà các doanh nghiệp cần biết là: Lộ trình thực hiện công tác quản lý
hành chính; lộ trình thực hiện thủ tục hải quan, các chính sách ưu đãi,
khuyến khích đầu tư sau khi gia nhập WTO, những định hướng phát triển
của chính phủ với từng ngành nghề. Vì vậy, việc thực hiện các chiến lược
thị truờng của các doanh nghiệp sẽ rất khó khăn nếu không nắm rõ được
những thông tin này. thậm chí có thể dẫn đến sai lầm, đi chệch hướng.
Thách thức thứ ba của doanh nghiệp là sức ép về thời gian. Đối với
doanh nghiệp nhà nước đã quen với ưu đãi từ chính sách của chính phủ,
chính sách của các tỉnh, thành phố, ngành thì việc gia nhập WTO khiến các
doanh nghiệp này phải đối mặt với nhiều tập đoàn công ty quốc tế có tiềm
lực mạnh. Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân sẽ bị sức ép nhanh hơn
bởi phẩn lớn các lĩnh vực Việt Nam mở cửa sớm hoặc các mặt hàng thực
hiện cắt giảm thuế ngay là địa bàn chủ yếu của kinh tế tư nhân. Trong khi
một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh do các doanh nghiệp nhà nước nắm
giữ chủ yếu lại có lộ trình mở cửa dần dần. Do đó các doanh nghiệp tư
nhân sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh quốc tế ngay sau khi Việt Nam
trở thành thành viên của WTO. Thời gian cho các doanh nghiệp thực hiện
cải cách điều chỉnh các chiến lược kinh doanh nói chung và chiến lược thị
trường nói riêng không còn nhiều, do đó nếu không có sự gấp rút chuẩn bị
hội nhập thì nguy cơ không bảo toàn được thị trường có chứ chưa nói tới
phát triển thị trường mới của các doanh nghiệp Việt Nam là rất dễ xảy ra.
1.3 Đối thủ cạnh tranh của các công ty phần mềm
1.3.1 Đối thủ cạnh tranh trực tiếp
24
Cạnh tranh luôn là một yếu tố không thể thiếu buộc các doanh nghiệp

Trích đoạn Mục tiêu kinh doanh của công ty. Lựa chọn các chiến lược thị trường Chiến lược Marketing-Mix 1 Sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status