Lời Mở Đầu
Hiện nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá thế giới Việt Nam đang
là một thành viên tích cực của khối ASEAN, để tiến tới hợp nhất và giao lu
trên tinh thần vì một ASEAN đoàn kết và phát triển. Đến năm 2006, chúng
ta chính thức dỡ bỏ hàng rào thuế quan (đa thuế nhập khẩu của các nớc trong
ASEAN xuống từ 0%-5%). Có thể nói đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức vô
cùng to lớn với nền kinh tế Việt Nam cụ thể là từng mặt hàng, từng doanh
nghiệp. Chính vì vậy, Nhà nớc ta đã xác định đợc vị trí của từng mặt hàng của
các doanh nghiệp so với thị trờng trong và ngoài nớc, để có những điều chỉnh
thích đáng nhằm đối phó với những bất ngờ và rủi ro, cũng nh đón nhận những
cơ hội tốt đẹp do quá trình hội nhập đem lại. Không những thế Nhà nớc đã kịp
thời định rõ những lĩnh vực nào nên đầu t, bảo hộ, lĩnh vực nào nên cắt giảm
các khoản đầu t và sự bảo hộ. Bởi vì, đất nớc ta nông nghiệp chiếm phần đa,
nên việc phát huy tiềm năng về lĩnh vực chế biến nông- thuỷ sản là điều kiện
hiển nhiên của một nớc đang phát triển với chủ trơng công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nớc.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng mở cửa ở Việt Nam, xuất khẩu
thuỷ sản luôn đợc xác định ở vị trí quan trọng đối với quá trình phát triển kinh
tế-xã hội, tại Đại hội Đảng lần thứ VIII coi Thuỷ sản là một trong những
ngành mũi nhọn của đất nớc. Những năm qua, xuất khẩu thuỷ sản đã có
những đóng góp đáng kể cho sự tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản thời gian vừa qua đã không ngừng tăng lênvà chiếm
tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc (trung bình
khoảng 10% trong giai đoạn 1990-2000). Hiện nay, nớc ta đứng thứ 29 trên thế
giới về xuất khẩu thuỷ sản, thị trờng xuất khẩu ngày càng đợc mở rộng nh thị
trờng Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc với sự đa dạng về chủng loại, chất lợng
sản phẩm đợc giới tiêu dùng đánh giá cao Chính vì vị thế quan trọng của
ngành thuỷ sản hiện nay, cho nên em chọn đề tài: Vận dụng một số phơng
pháp thống kê phản ánh tình hình xuất khẩu thuỷ sản trong những năm
qua 1995-2002 làm đề tài cho đề án môn học Lý thuyết thống kê. Trong đề
án, còn có nhiều điều thiếu sót, em mong thầy hớng dẫn chỉ bảo giùm. Em xin
qui mô lớn. Cùng với việc gia tăng sản xuất, thơng mại thuỷ sản toàn cầu
cũng phát triển một cách nhanh chóng, đặc biệt là các hàng hoá thuỷ sản
sống và tơi đang tăng nhanh.
Sự bùng nổ dân số thế giới cùng với hậu quả quá trình công nghiệp
hoá, đô thị hoá ngày càng thu hẹp đất canh tác trong nông nghiệp, với sự
bất lợi của thiên nhiên, môi trờng tới sản xuất nông nghiệp làm cho lơng
3
thực, thực phẩm sẽ luôn là mặt hàng chiến lợc trên thị trờng thế giới và quá
trình trao đổi mua bán hàng hoá lơng thực, thực phâm trên toàn cầu ngày
càng rộng rãi, trong đó thuỷ sản chiếm một vị trí quan trọng. Trong điều
kiện đó, sản phẩm thuỷ sản càng ngày càng chiếm vị trí quan trọng để giải
quyết nguồn dinh dỡng thực phẩm cho nhân loại. Ngành sản xuất này đang
và đầy hứa hẹn có thể trở thành ngành sản xuất kinh doanh có lãi suất cao
với xu thế ổn định lâu dài trên thị trờng quốc tế. Đó là tiền đề quan trọng
bậc nhất của sự phát triển về sản xuất kinh doanh thuỷ sản và tiếp tục là
một trong những xuất phát điểm quan trọng cho việc xây dựng chiến lợc và
qui hoạch phát triển kinh tế -xã hội ngành thuỷ sản ở nớc ta.
1. Hiện nay ở nớc ta đang có những thuận lợi cơ bản để phát triển một
ngành thuỷ sản, đó là
Đảng và Nhà nớc rất quan tâm, các tầng lớp nhân dân nhận thức rất
rõ tầm quan trọng của bớc đi đầu tiên là công nghiệp hoá nông nghiệp,
nông thôn; coi ngành thuỷ sản là mũi nhọn; coi công nghiệp hoá hiện đại
hoá nông thôn là bớc đi quan trọng nhất; coi chuyển một bộ phận diện tích
đất đai đang canh tác nông nghiệp và làm muối kém hiệu quả hơn sang
nuôi trồng thuỷ sản là hớng đi chủ yếu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn. Đồng thời có những chơng trình chính sách hỗ trợ rất
lớn cho công việc chuyển đổi và phát triển ngành thuỷ sản trong toàn quốc:
Chơng trình Phát triển chế biến và xuất khẩu thuỷ sản -1998; Chơng trình
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản-1999; Hỗ trợ phát triển giống thuỷ sản; các
dự án phát triển nuôi tôm công nghiệp; các dự án phát triển nuôi biển.
thức nuôi công nghiệp, nhất là đối với vùng duyên hải sản dọc theo bờ biển
miền Trung. Điều đó vừa mang ý nghĩa đẩy nhanh tốc độ phát triển nuôi
trồng thuỷ sản thâm canh, sử dụng những tài nguyên xa nay bỏ phí, vừa có
ý nghĩa thiết thực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo đồng thời cũng là
một giải pháp hữu hiệu nhằm cải tạo và bảo vệ môi trờng vùng ven biển.
Ngời Việt Nam cũng có khả năng thích ứng nhanh với thị trờng đổi
mới.
Việt Nam có mối quan hệ truyền thống rộng và sự chú ý của thị tr-
ờng đổi mới.
Việt Nam có nhiều lao động và nguồn nhân lực còn ít đợc đào tạo, sẽ
thích hợp cho những lợi thế khởi điểm mang tính tĩnh khi dùng loại lao
động này trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Trong quá trình
phát triển sẽ nảy sinh những lợi thế so sánh động, đó là lợi thế về công
nghệ cao, lợi thế về kỹ thuật yểm trợ.
5
2. Để phát triển thuỷ sản một cách bền vững có hiệu quả cao cũng cần
phải nhận thức rõ những thách thức đang đặt ra, đó là
Quá d thừa lao động ở các vùng ven biển, nguồn nhân lực đợc đào
tạo ít cuộc sống vật chất thiếu thốn là sức ép rất lớn đối với kinh tế -xã hội
và môi trờng sinh thái của nghề khai thác hải sản.
Cơ sở hạ tầng yếu, cha đồng bộ với trình độ công nghệ lạc hậu trong
khai thác, nuôi trồng, chế biến dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế thấp.
Công nghệ sản xuất thuỷ sản của Việt Nam nhìn chung còn rất lạc
hậu so với các nớc cạnh tranh.
Những đòi hỏi rất cao và càng ngày chặt chẽ về yêu cầu vệ sinh và
chất lợng thuỷ sản của các nớc nhập khẩu.
Sự hội nhập quốc tế với sự dỡ bỏ hàng rào thuế quan, sự gia tăng dần
vị thế của thuỷ sản Việt Nam trên trờng quốc tế sẽ tạo ra sự cạnh tranh
khốc liệt, với nhiều phơng thức khác nhau trên thị trờng thế giới và thị tr-
ờng Việt Nam.
hạ tầng phục vụ phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản còn
nhiều yếu kém.
Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá để làm
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ
và quản lý từ sử dụng sức lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động với công nghệ phơng tiện và phơng pháp tiên tiến hiện
đại, tạo ra năng suất lao động cao cho ngành thuỷ sản là một tất yếu, là một
đòi hỏi bức xúc của sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội đất nớc.
Những năm qua công nghiệp hoá hiện đại hoá đã có ý nghĩa quan
trọng đối với ngành thuỷ sản trên tất cả các lĩnh vực: trong chế biến thuỷ
sản, trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, trong khai thác thuỷ sản, trong dịch
vụ hậu cần nghề cá .
Quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá từng bớc làm cho
lực lợng sản xuất của ngành thuỷ sản phát triển, thay đổi những công nghệ
lạc hậu thiếu đồng bộ bằng những công nghệ mới khá hiện đại; tạo ra nhiều
chủng loại hàng hoá với chất lợng và mẫu mã tốt hơn, thị trờng từng bớc đ-
ợc mở rộng; các lĩnh vực nuôi trồng khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá
phát triển sôi động hơn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thuỷ sản;
phát huy đợc thế mạnh kinh tế vùng ven biển hải đảo; hình thành một số
khu công nghiệp mới và mạng lới dịch vụ ở vùng nông thôn ven biển; thu
hút nhiều lao động của vùng này; góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu,
tích luỹ vốn phát triển kinh tế, góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống
ng dân.
7
4. Kế hoạch phát triển của ngành thuỷ sản thời kỳ 2001 -2005
4.1 . Phơng hớng
+ Phát huy tiềm năng và thế mạnh của biển, các vùng nớc ngọt, lợ,
tiềm lực lao động khả năng hợp tác quốc tế, kết hợp liên ngành nông lâm
thuỷ lợi, du lịch để phát triển sản xuất kinh doanh thuỷ sản theo cơ chế thị
trờng, dới sự quản lí của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đa thuỷ
Trong đó:
-Đánh bắt hải sản
-NTTS và khai thác nội địa
2. Kim ngạch xuất khẩu
3. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản
4. Tổng vốn đầu t cho phát triển:
Nguồn vốn :
-Vốn ngân sách
-Tín dụng u đãi
-Tín dụng thong mại
-Huy động
-Nớc ngoài
5. Vốn đầu t cho các chơng trình
a.Chơng trình khai thác hải sản xa bờ
b. Chơng trình phát triển NTTS
c. Chơng trình phát triển xuất khẩu TS
d. Tăng cờng năng lực quản lí và đào tạo
Triệu tấn
nt
nt
Tỷ USD
1000 ha
Tỷ đồng
nt
nt
nt
nt
nt
nt
nt
633,8
3900
308,6
196
5. Nguồn nhân lực Việt Nam trong ngành thuỷ sản hiện nay
Vừa qua kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 1,475 tỷUSD cho đến ngày
31/12/2000. Đây thực sự là một mốc son lịch sử của ngành thuỷ sản; là kết quả
đờng lối đổi mới của Đảng; sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ; sự nỗ lực vơn
lên của toàn thể lao động nghề cá trong cả nớc và sự lãnh đạo đIều hành của
Bộ Thuỷ sản.
Để thuỷ sản thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nớc và giúp Việt
Nam trở thành một cờng quốc về xuất khẩu các mặt hàng thuỷ hải sản, tạo ra
nhiều công ăn việc làm thì vấn đề cơ bản là phát huy đợc lợi thế so sánh của
Việt Nam so với khu vực và trên thế giới. Việt Nam có những yếu tố thuận lợi
về sản xuất kinh doanh và xuất khẩu thuỷ sản nh nguồn lao động dồi dào,
29/61 thành phố có biển, chiều dài bờ biển 3260km và hơn 4000 hòn đảo lớn
nhỏ. Riêng về nguồn nhân lực, chúng ta hiện có một đội ngũ hùng hậu và đa
dạng. Đó là:
9
+ Về số lợng:
Tổng số lao động thuỷ sản hiện nay (theo số liệu ớc tính) là 3400000
ngời, trong đó:
Lao động khai thác hải sản: 484000 ngời.
Lao động nuôi trồng thuỷ sản: 668000 ngời.
Lao động chế biến thuỷ sản: 102000 ngời.
Lao động thơng mại, hậu cần dịch vụ, cơ khí sửa chữa 2146000 ngời.
+ Lao động thuỷ sản trong các thành phần kinh tế :
Trong quốc doanh: khoảng 5-7%
Ngoài quốc doanh trên 90%
Qua khảo sát cuối năm 2000 của Công đoàn ngành thuỷ sản cho thấy
những năm qua.
I. Vai trò cuả xuất khẩu đối với quá trình phát triển
kinh tế
Xuất khẩu đã đợc thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh
tế đối ngoại, là phơng tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất
khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng
nh tạo cơ sở cho phát triển các hạ tầng là một mục tiêu quan trọng nhất của
chính sách thơng mại. Nhà nớc ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy
các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực t nhân mở rộng
xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nứơc. Vì
vậy, có thể nói vai trò của xuất khẩu là rấtquan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế.
1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hoá đất nớc
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nớc ta. Để công
nghiệp hoá đất nớc trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có một số vốn rất
lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến.
Hiện nay, nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ các nguồn
nh: đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ Thế nhng các nguồn vốn trên đều phải
trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau. Do đó, nguồn vốn quan trọng
nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nớc là xuất khẩu. Thời kỳ 1986-1990
ở nớc ta nguồn thu về xuất khẩu bằng 3/4 tổng nguồn thu ngoại tệ. Và thu về
xuất khẩu năm 1994 đảm bảo đợc 80% nhập khẩu so với 24,6% năm 1986.
11
2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu
chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi
với thị trờng.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh.
3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trớc hết
sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có
thu nhập không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm
tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
4. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động
qua phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại Có thể
hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điều
kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế
đối ngoại nh tín dụng, đầu t lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Nh vậy có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa
chiến lợc để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc thành
công.
I. Tình hình sản xuất thuỷ sản trong nớc.
1. Tình hình chung về xuất khẩu thuỷ sản.
Ngành thuỷ sản Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển và phát triển
mạnh từ năm 1995 trở lại đây. Nhịp độ tăng sản lợng thuỷ sản trung bình hàng
năm giai đoạn 1996-2000 là 12,3%. Năm 2000, sản lợng thuỷ sản cả nớc đạt
2,22 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với năm 1995. Năm 2001, sản lợng thuỷ sản
cả nớc đạt 2,4 triệu tấn, trong đó sản lợng thuỷ sản khai thác đạt 1,74 triệu tấn,
chiếm 72,5% tổng sản lợng thuỷ sản, thuỷ sản nuôi trồng đạt 0,66 triệu tấn,
chiếm 27,5%. Tính đến năm 2002, cả nớc có 250 nhà máy chế biến thuỷ sản
thổ NICs nh Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan mỗi nơi nhập khẩu khoảng 5%
tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Năm 2002 ngành thuỷ sản đã hoàn thành kế hoạch và vợt qua ngỡng 2tỷ
USD kim ngạch xuất khẩu trong điều kiện khan hiếm nguyên liệu, giá xuất
khẩu giảm mạnh, các thị trờng lớn gây khó khăn Năm 2003 ngành thuỷ sản
sẽ cố gắng đạt sản lợng 2,49 triệu tấn thuỷ hải sản, trong đó khai thác 1,4 triệu
tấn, nuôi trồng 1,09 triệu tấn (tăng 11,6%) trên diện tích 1 triệu ha (tăng
14
4,7%). Để có thể phát triển bền vững khai thác xa bờ, cần phải thực hiện tốt
việc điều tra dự báo nguồn lợi, tập trung tháo gỡ khó khăn lựa chọn và phát
triển những mô hình hoạt động hiệu quả, tổ chức hợp tác với các nớc trong khu
vực nh Ma- lai-xia, In-đô-nê-xia Đặc biệt ngành sẽ tập trung đầu t nâng cao
năng lực hậu cần, tổ chức tốt khâu bảo quản sau thu hoạch tại tầu cá, cảng cá
nhằm đảm bảo nguyên liệu tơi tốt khi về đến nhà máy chế biến hoặc bán cho
ngời tiêu dùng.
Nuôi trồng thuỷ sản sẽ tiếp tục đợc chú trọng để trở thành nguồn cung
cấp nguyên liệu chính cho chế biến xuất khẩu, thay thế dần nguồn khai thác
biển đang cạn kiệt. Các địa phơng trong cả nớc sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc
chuyển đổi đất canh tác nông nghiệp kém hiệu qủa sang nuôi trồng thuỷ sản,
đặc biệt là đẩy mạnh các dự án nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm trên cát, nuôi
hải sản trên biển, nuôi cá tra cá basa, cá rôphi trong các vùng nớc ngọt. Tuy
nhiên, nếu không khắc phục trở ngại trong việc cung cấp giống với giá cả hợp
lý và chuyển giao kỹ thuật nuôi cho ng dân thì việc phát triển nuôi trồng sẽ
khó có thể thực hiện đợc mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, Bộ Thuỷ sản sẽ sớm
hoàn thành quy hoạch tổng thể ngành, đặc biệt là quy hoạch nuôi trồng thuỷ
sản vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trớc việc EU tăng cờng kiểm tra 100% lô hàng tôm nhập khẩu từ Việt
Nam nhằm phát hiện d lợng kháng sinh, nhất là chloramphenicol và
nitrofurans, Bộ Thuỷ sản đã tổ chức tốt công tác kiểm tra, kiểm soát việc sử
dụng các loại kháng sinh bị cấm vào nuôi trồng, bảo quản và chế biến thuỷ
cơ sở việc áp dụng HACCP vẫn mang tính hình thức. Do đó, vẫn tiếp tục tái
diễn tình trạng hàng bị thị trờng Mỹ trả về và cảnh báo do nhiễm khuẩn, ghi
sai nhãn, chứa kháng sinh bị cấm.
Ngoài ra, để có thể mở rộng thị trờng xuất khẩu, nâng cao năng cạnh
tranh của sản phẩm trên trờng quốc tế, các xí nghiệp chế biến phải chủ động
quy hoạch và phát triểnvùng nguyên liệu cho đơn vị mình. Các thị trờng lớn
nh Mỹ, Nhật Bản và EU vẫn tiếp tục phải duy trì nhng bên cạnh đó phải xúc
tiến mở rộng thị trờng Trung Quốc và các thị trờng khác Bộ Thuỷ sản sẽ phối
hợp với các Bộ ngành liên quan để tìm biện pháp giải quyết vụ kiện bán phá
giá cá tra, cá basa, chuẩn bị đối phó với vụ kiện bán phá giá tôm tại thị trờng
Mỹ.
Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phát triển vùng nguyên liệu,
nâng cao uy tín chất lợng sản phẩm tăng cờng xúc tiến thơng mại trong năm
qua đã giúp ngành Thuỷ sản vợt qua khó khăn để giữ vững nhịp độ tăng trởng
xuất khẩu, đạt mục tiêu kế hoạch 2,3 tỷUSD năm 2003, hớng tới 3 tỷUSD năm
2005 và 5 tỷUSD năm 2010.
16
2. Việc thực hiện chơng trình xuất khẩu thuỷ sản.
Trong chơng trình phát triển xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2005 đợc
Chính phủ phê duyệt vào những ngày cuối năm 1998, mục tiêu giá trị xuất
khẩu thuỷ sản đợc xác định phải phấn đấu đạt 1,1 tỷUSD vào năm 2000 và 2,5
tỷUSD vào năm 2005. Nhng thực tế cho thấy, những năm qua vào năm 2000
xuất khẩu thuỷ sản đạt 1,475 tỷUSD năm 2001 đạt 1,7 tỷUSD, năm 2002 đạt
2tỷUSD. Nh vậy có thể thấy xuất khẩu thuỷ sản đã ghi một dấu ấn đáng ghi
nhớ, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thủy sản có sự thay đổi tỷ trọng cá và các sản
phẩm giá trị gia tăng đều tăng; đa dạng hoá các mặt hàng chế biến xuất khẩu,
tận dụng đa vào chế biến và xuất khẩu nguồn nguyên liệu từ chơng trình khai
thác hải sản xa bờ; khai thông và mở rộng thị trờng Mỹ EU Việt Nam đã có
tên trong danh sách các nớc xuất khẩu thuỷ sản vào EU. Hiện nay, có gần 70
đơn vị áp dụng HACCP(hệ thống phân tích tại điểm kiểm soát tới hạn) đủ điều
Ban chỉ đạo chơng trình ở cấp ngành cũng nh các địa phơng. Chơng trình phát
triển xuất khẩu thuỷ sản của các địa phơng tuy đã đợc xây dựng nhng nhìn
chung bị hạn chế về chất lợng, lúng túng trong định hớng và cách làm. Nhiều
địa phơng cha có qui hoạch chung về phát triển thuỷ sản cũng nh qui hoạch cụ
thể các vùng nuôi tôm và mạng lới công nghiệp chế biến thuỷ sản, hoặc qui
hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phơng tuy đã đợc thông qua nhng
không còn phù hợp với xu thế phát triển và cơ chế quản lí mới, năng lực xây
dựng dự án còn yếu, cha đáp ứng đợc yêu cầu của phát triển.
3. Một số vấn đề trong sản xuất các mặt hàng thuỷ sản ở nớc ta hiện nay.
Đối với nớc ta nông nghiệp chiếm một vai trò quan trọng, cho nên việc
phát huy tiềm năng về lĩnh vực chế biến nông - thuỷ sản là điều kiện hiển
nhiên của một nớc đang phát triển với chủ trơng công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc.
Đóng góp của Thuỷ sản so với Nông sản
Năm 1996 1997 1998 1999
% so với nông
sản
42,3 38,2 39,7 39,2
Nhìn ở bảng trên ta thấy sự đóng góp của thuỷ sản so với nông sản hàng
năm không phải là nhỏ. Song một điều đáng tiếc là cho đến nay các mặt hàng
thuỷ sản xuất khẩu chủ yếu vẫn là các mặt hàng thô mới qua sơ chế nên giá trị
không cao. Do đó vô hình chung mà chúng ta đã bỏ phí một lợng của cải vật
chất tơng đối lớn. Nguyên nhân tạo nên tình trạng trên thì rất nhiều nhng chủ
yếu là:
Không đợc đầu t một cách thích đáng vào các nhà máy chế biến thuỷ
sản.
18
Hệ thống máy móc của các nhà máy chế biến chủ yếu đã xuống cấp
Đây là vấn đề tơng đối bức bách bởi các thiết bị máy móc của các nhà máy
chủ yếu từ thời bao cấp để lại. Các phân xởng xây dựng đã lâu nay không còn
khẩu trực tiếp vào Mỹ, Châu Âu (9,8 và 11,3% ) điều đó nói lên sự nỗ lực của
19
bộ, ngành thuỷ sản và các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản trong những năm
gần đây. Trong tơng lai chúng ta có quyền tin tởng rằng ngành thuỷ sản Việt
Nam sẽ là ngành mũi nhọn thực sự, vững vàng thực sự trong mọi sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt , đồng thời là ngành tiên phong của đất nớc trong quá trình
hội nhập, giao lu theo xu hớng chung toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.
4 . Những thuận lợi trong vấn đề xuất khẩu thuỷ sản
Có thể nói cha bao giờ xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam lại gặp khó khăn
nh trong năm 2002. Trớc hết, đó là việc Liên minh châu Âu (EU) tăng cờng
kiểm tra d lợng kháng sinh 100% lô hàng tôm nhập khẩu, khiến một loạt các
thị trờng khác nh Mỹ, Ca-na -đa và Nhật Bản cũng áp dụng quy định tơng tự.
Tiếp đến, tại thị trờng xuất khẩu lớn nhất là Mỹ, Hiệp hội các chủ trại cá nheo
Mỹ (CFA) kiện các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa Việt Nam bán phá
giá.Tuy nhiên xuất khẩu thuỷ sản năm qua vẫn tăng mạnh cả về lợng và chất,
đạt hơn 2 tỷ USD -tăng 2 lần trong vòng 3 năm .
Nếu xuất khẩu thuỷ sản trong nửa cuối năm 2002 cứ nh những tháng
đầu năm, thì ngay cả những ngời lạc quan nhất cũng không dám dự đoán sẽ
hoàn thành mục tiêu 2 tỷUSD. Sáu tháng đầu năm các doanh nghiệp thuỷ sản
mới xuất khẩu đợc 845 triệuUSD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2001. Điều
đó có nghĩa để hoàn thành kế hoạch năm, mỗi tháng còn lại phải xuất khẩu
195-200 triệuUSD. Thế nhng, những nỗ lực của ngành thuỷ sản đã đợc đền đáp
xứng đáng.
Thứ nhất, xuất khẩu thuỷ sản tăng cả khối lợng và giá trị, năm 2002 tăng
gần 20% về lợng và 15% về giá trị so với năm 2001. Kim ngạch xuất khẩu
năm 2002 tăng 2,2 lần năm 1999 và gấp 1,5 lần năm 2000 .
Thứ hai , sức cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam đã tăng đáng kể.
Ng dân Việt Nam đã tận dụng tốt lợi thế so sánh để phát triển nuôi trồng thuỷ
sản, đa dạng hoá đối tợng nuôi có giá trị xuất khẩu, làm ra những sản phẩm có
chất lợng cao, giá rẻ và khối lợng lớn.
trị 27 tỷ đồng. Ngành còn đẩy mạnh công tác xúc tiến thơng mại, với việc tổ
chức cho các doanh nghiệp đi khảo sát thị trờng và tham dự hội chợ thơng mại
tại Mỹ, Trung Quốc, Pháp
Với khả năng vợt qua những thử thách khắc nghiệt nh năm qua, có cơ sở
để tin rằng ngành thuỷ sản tiếp tục giữ vững nhịp độ tăng trởng, đạt mục tiêu
2,3 tỷ USD trong năm 2003 .
5 . Những khó khăn trong vấn đề xuất khẩu thuỷ sản
Để hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch của năm 2003 -năm
bản lề mang tính quyết định bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm ch-
21
ơng trình xuất khẩu thuỷ sản 2001-2005 -mà còn cả cho những giai đoạn tiếp
sau; chúng ta cần phải nhận thức một cách rõ ràng những gì có thể là khó
khăn, trở ngại trên con đờng xuất khẩu.Đó là:
Trớc hết, cần nói đến những gì cha hoàn thiện trong những điểm tựa
cơ bản nhất của sự phát triển ngành. Luật Thuỷ sản đã đợc xây dựng để trình
Quốc hội và chắc sẽ đợc phê duyệt trong thời gian trớc mắt. Song việc thể hiện
nó bằng những qui phạm quản lí dới luật và đa vào thực tiễn không phải là
điều có thể làm đợc ngay. Sẽ có những thay đổi trong quan điểm và thực tiễn
quản lí việc sử dụng nguồn lợi, phát triển thủy sản một cách bền vững. Điều đó
sẽ còn khó khăn hơn khi mà cơ cấu bộ máy quản lí ngành, từ trung ơng đến địa
phơng còn đang trong quá trình chuyển đổi và sự thiếu vắng cơ quan chuyên
ngành ở cấp cơ sở đối với hoạt động sản xuất ở cấp xã, huyện, thậm chí là ở cả
nhiều tỉnh trên cả nớc . Trong bối cảnh nh vậy, qui hoạch tổng thể -căn cứ pháp
lí cơ bản nhất cho việc hoạch định những chơng trình, kế hoạch phát triển,
những chỉ tiêu cơ bản trong một giai đoạn dài cũng cha đợc phê duyệt, mặc dù
đã qua nhiều lần tu chỉnh. Sự vắng mặt của một qui hoạch tổng thể nh vậy
chắc chắn sẽ ảnh hởng đến việc hạn chế tính tự phát trong quá trình phát triển.
Dù những hạn chế, khó khăn nêu trên có ảnh hởng đến công tác quản lí và
hoạch định chính sách của ngành trong thời gian trớc mắt, song nó đã đợc
nhận biết và đang đợc tích cực khắc phục, vì vậy chắc chắn sẽ không phải là
thức ăn, công nghệ. Cũng chính trong sự tăng trởng nhanh chóng của xuất
khẩu đã buộc chúng ta phải nhận thức đợc một vấn đề quan trọng: tỷ trọng sản
lợng nguyên liệu đợc sử dụng cho chế biến xuất khẩu ngày một cao hơn trong
tổng sản lợng. Để duy trì tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn tốc
độ tăng sản lợng nguyên liệu, đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản công nghệ chế
biến để sử dụng ít nguyên liệu hơn nhng lại đạt giá trị cao hơn.
Nhóm khó khăn thứ ba, đó là hiệu quả đầu t cho sản xuất khai thác
nuôi trồng và chế biến ngày một thấp dần, khiến lợi thế trong đầu t của ngành
ngày một ít hấp dẫn hơn. Trong chế biến, không chỉ đầu t cho nhà xởng, thiết
bị hiện đại mà còn phải đầu t cho các hệ thống bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm, bao bì, thơng hiệu Thêm vào đó nguồn nhân lực ngày càng hiếm hoi,
khó đáp ứng hơn cho việc mở rộng quy mô sản xuất. Do đó chúng ta thấy xuất
hiện tình trạng các nhà đầu t ngày càng chú trọng tìm kiếm, mở rộng các cơ sở
nuôi trồng hơn là phát triển chế biến. Lĩnh vực khai thác lại càng khó thu hút
đầu t hơn nữa do tính bấp bênh của nguồn lợi tính mạo hiểm trong nghề nghiệp
trong khi đó giá sản phẩm ngày càng giảm chi phí xăng dầu, điện nớc ngày
càng gia tăng.
Nh vậy, có thể nói duy trì sự tăng trởng kim ngạch xuất khẩu là một
điều rất khó. Chính vì vậy mà chúng ta phải dự đoán trớc những khó khăn để
23
tìm biện pháp khắc phục sớm thì sự tăng trởng mới đảm bảo đợc tính bền
vững, dài lâu.
6 . Đôi điều về một doanh nghiệp nhà nớc tham gia hoạt động kinh doanh
xuất khẩu thuỷ sản đạt hiệu quả
Đó chính là Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre thuộc Tổng
công ty thơng mại Sài Gòn, là một doanh nghiệp nhà nớc, đợc thành lập từ
tháng 1/1993. Ngành sản xuất kinh doanh là: Sản xuất chế biến thuỷ súc sản
( đông lạnh và khô ), nông sản thực phẩm tơi và khô phục vụ xuất khẩu và tiêu
dùng nội địa. Trong 5 năm (1996-2000) Xí nghiệp đã có tốc độ tăng trởng rất
nhanh về doanh thu, kim ngạch xuất khẩu Giá trị tổng sản lợng thực hiện
+ Về huy động sức dân
Hiện nay, trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu sự tham gia của các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang tăng lên rất nhanh, chiếm khoảng
30% doanh số xuất khẩu thuỷ sản. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp quốc
doanh làm ăn có hiệu quả đã thực sự đi đầu chủ đạo trong lĩnh vực chế biến
thuỷ sản.
+ Về tổ chức hệ thống quản lý
Khi chúng ta tăng cờng quản lý ra tất cả các vùng sản xuất nguyên
liệu thì nhất thiết phải có cơ quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm ở địa phơng. Vì
vậy, chủ trơng cải cách hành chính, tinh giản biên chế là cần thiết, nhng phải
xuất phát từ yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới.
Bớc vào thế kỷ XXI, thế và lực của ngành thuỷ sản đã thay đổi môi
trờng và bối cảnh trong nớc, quốc tế cũng có nhiều thay đổi. Điều đó đòi hỏi
chúng ta phải tìm ra những bài học kinh nghiệm của thời kỳ qua và tiếp tục đổi
mới để tìm ra những con đờng phát triển mới.
8. Chất lợng vệ sinh an toàn thực phẩm trong xuất khẩu.
Năm 2002 là năm ngành thuỷ sản gặp nhiều khó khăn trong việc đối
phó với rào cản kỹ thuật do các nớc nhập khẩu đặt ra; nh do phát hiện d lợng
các chất kháng sinh ( chloramphinecol, nitrofurans ) trong sản phẩm thuỷ
sản. Cơ quan có thẩm quyền EU ra quyết định tiến hành kiểm tra 100% lô
hàng tôm nhập khẩu từ Việt Nam, việc Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá da
trơn. Hiện nay, Mỹ đang chuẩn bị kiện Việt Nam và một số nớc xuất khẩu thuỷ
sản khác bán phá giá tôm. Tuy vậy, dới sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Thuỷ
sản, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Thuỷ sản với các Bộ Y Tế, Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Thơng mại cùng với sự chỉ đạo kịp thời của
UBND các tỉnh, thành phố đã nhanh chóng giúp cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh thuỷ sản Việt Nam bớc đầu giải quyết việc quản lý sản xuất,
25