NGUYỄN THỊ THANH TUYẾN
MSSV: DPN010761
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG CÂY RAU NHÚT
TRONG MÙA LŨ TẠI XÃ VĨNH THẠNH TRUNG CHÂU PHÚ- AN GIANG,
MÙA LŨ 2004
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Võ Văn Hà
CN. Trang Thi Mỹ Duyên
Tháng 7. 2005
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG CÂY RAU NHÚT
TRONG MÙA LŨ TẠI XÃ VĨNH THẠNH TRUNG, CHÂU PHÚ- AN GIANG, MÙA
LŨ 2004.
Do sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH TUYẾN
Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày:………………………………………
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:………………………………………
Ý kiến của Hội đồng:………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Long xuyên, ngày… tháng… năm 2005
DUYỆT Chủ Tịch Hội đồng
BAN CHỦ NGHIỆM KHOA NN-TNTN
dân trong mùa nước nổi” đã được triển khai thành công với nhiều mô hình canh tác có
hiệu quả như: mô hình nuôi tôm chân ruộng, nuôi tôm đăng quầng, nuôi cá trong
ao/vèo, trồng nấm rơm và các loại cây thuỷ sinh, Bài viết này trình bày kết quả
nghiên cứu về mô hình trồng rau nhút trong mùa lũ tại xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện
Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2004. Phương pháp nghiên cứu là sử dụng sổ theo dõi
nông hộ và điều tra bổ sung 30 nông dân đang áp dụng mô hình trồng rau nhút trong
mùa lũ. Kết quả cho thấy mô hình trồng cây rau nhút rất thích hợp cho sản xuất nông
nghiệp vùng ngập lũ; nhất là các hộ nông dân nghèo, đông nhân khẩu, ít đất và vốn để
sản xuất. Lợi nhuận mang lại từ mô hình trồng rau nhút khá cao (khoảng 11,5-13,3
triệu đồng/ha/vụ). Các hộ thực hiện mô hình nuôi thuỷ sản kết hợp trồng thêm rau
nhút cho lợi nhuận khoảng 20,3-22,5 triệu đồng/ha/vụ. Mô hình này đã tận dụng
nguồn nước lũ để sản xuất và góp phần giải quyết việc làm trong những tháng mùa lũ.
Tuy nhiên, để mô hình nầy được nhân rộng ra nhiều hộ gia đình và mang lại hiệu quả
kinh tế cao hơn nữa; trước hết cần tạo điều kiện thuận lợi trong khâu tiêu thụ sản
phẩm, đồng thời giúp các hộ nghèo tiếp cận với mô hình thông qua các hình thức hỗ
trợ kỹ thuật, vốn và xuồng (phương tiện phục vụ sản xuất chủ yếu của trồng rau nhút
trong mùa lũ). Ảnh hưởng của cây rau nhút đối với sự sinh trưởng của tôm – cá và
chất lượng nước trong khu vực nuôi vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, do đó cần có sự
tiếp sức của cán bộ nông nghiệp huyện và tỉnh An Giang để mô hình trồng rau nhút
kết hợp nuôi tôm - cá càng ngày hoàn thiện hơn và có thể nhân rộng ra trong dân.
6
MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
4.3.3 Ảnh hưởng của giống và phân bón đến năng suất rau 19
4.3.4 Lao động đầu tư cho sản xuất 21
7
4.4 Hiệu quả kinh tế 21
4.4.1 Mô hình trồng rau nhút 21
4.4.2 Mô hình kết hợp rau nhút và nuôi thuỷ sản 22
4.5 Hiệu quả xã hội 23
4.6 Lý do để người dân trồng rau nhút trong mùa lũ 24
4.7 Nhận xét về mô hình 25
4.7.1 Những trở ngại-hướng khắc phục 25
4.7.2 Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình 26
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28
5.1 Kết luận 28
5.2 5.2 Kiến nghị 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ CHƯƠNG pc-1
Phụ chương 1 pc-1
Phụ chương 2 pc-2
Phụ chương 3 pc-3
8
DANH SÁCH BẢNG
Bảng số Tựa Bảng Trang
1 Số mẫu mẫu điều tra tại xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú 6
2 Đặc điểm của các chủ hộ trồng rau nhút tại xã 10
3 Nhân khẩu ở các nông hộ được phỏng vấn mùa lũ năm 2004 11
4 Khoảng cách và mực nước thích hợp để trồng rau nhút ở xã Vĩnh
Thạnh Trung, huyên Châu Phú năm 2004
15
5 Ảnh hưởng của lượng giống sử dụng và năng suất 19
6 Ảnh hưởng của lượng phân bón sử dụng và năng suất 20
nông thôn vào mùa nước nổi (Uỷ ban nhân dân tỉnh An giang, 2003). Từ năm 2003 đề
án 31 đã được thử nghiệm với nội dung “Phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong mùa nước nổi” thông qua các
mô hình: sản xuất lúa và hoa màu vụ 3; mô hình nuôi trồng thuỷ sản và phát triển
ngành nghề, dịch vụ trong mùa lũ,… bước đầu đã gặt hái được nhiều thành công đáng
kể.
Bằng các kinh nghiệm thực tế trong sản xuất người dân nơi đây đã biết tận
dụng nguồn tài nguyên mặt nước ở dạng đất ruộng ngập lũ một cách hợp lý trong quá
trình đa dạng quá sản phẩm nông nghiệp và phát triển hệ thống canh tác. Bên cạnh các
mô hình sản xuất đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của
chúng như mô hình nuôi tôm-cá trên ruộng lúa, mô hình sản xuất lúa vụ 3,…thì vẫn
còn có một số mô hình khác đang được người dân thực hiện với kết quả ban đầu rất
khả quan, mở ra hướng chủ động sản xuất trong mùa lũ.Ưu thế của các mô hình này là
cần vốn ít, lãi tương đối, phù hợp cho các hộ nghèo trong vùng ngập lũ như mô hình
trồng cây thuỷ sinh (rau nhút, rau muống, sen, ấu,…) trong ruộng ngập lũ. Điều này
không những có ý nghĩa to lớn trong việc sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên đất đai
có hiệu quả mà còn nâng cao cuộc sống người dân vùng nông thôn.
Đề tài “Điều tra kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trồng cây rau nhút trong
mùa lũ tại xã Vĩnh Thạnh Trung, Huyện Châu Phú - tỉnh An Giang, mùa lủ
2004” được thực hiện nhằm tìm hiểu kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội
của mô hình từ nguồn tài nguyên nước lũ cho những nông hộ ít vốn sản xuất trong
mùa nước nổi. Đồng thời cũng tìm hiểu thuận lợi, khó khăn của người dân trong quá
1
trình canh tác để từ đó có hướng đề ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất. Mặt khác, kết quả nghiên cứu này có thể giúp cho các nhà lãnh đạo địa
phương cũng như cán bộ kỹ thuật có cơ sở cho việc sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có
ở địa phương một cách khoa học, có chính sách và đầu tư khoa học kỹ thuật một cách
hợp lý để phát triển mô hình đầy tiềm năng này, nhằm tăng thêm nguồn thu nhập, cải
thiện đời sống nông thôn vào mùa nước nổi tại xã Vĩnh Thạnh Trung nói riêng và
huyện Châu Phú nói chung.
mọc nơi ao, đầm, mương, rạch có sình lầy và cũng là một loại rau đặc thù của người
miền tây, được nhiều người dùng trong bữa ăn (Tài liệu phát triển nông thôn mùa lũ,
2003).
1
Rau nhút có vị ngọt, tính mát, có tác dụng nhuận tràng, mát gan, giải nóng
nhiệt, an thần gây ngủ, mạnh gân cốt (Võ Văn Chi, 1991), thường được dùng để ăn
sống, luộc chấm mắm nêm, nấu canh chua, ăn kèm với các loại rau trong món lẩu
mắm là những món phổ biến ở Nam bộ. Song song đó rau nhút còn được dùng làm
gỏi, một món ăn ít được nhiều người biết như những loại gỏi khác, nhưng lại có được
mùi vị rất đặc trưng (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004)
2.3 Tình hình phát triển rau nhút trong mùa lũ
Nhiều nơi trên ruộng ngập nước ở tỉnh An Giang nhiều hộ đã tận dụng trồng
rau nhút, trồng sen, trồng rau muống, trồng ấu, Chỉ tính riêng ở huyện Châu Phú
trong mùa lũ năm 2003, toàn huyện đã có 61,65 ha diện tích trồng rau nhút với 122 hộ
và 561 lao động. Nhưng trong mùa lũ 2004, diện tích trồng rau nhút đã tăng đến 94,85
ha, với số hộ tham gia là 223 hộ và 1003 lao động (Phòng xây dựng và Phát triển
Nông thôn huyện Châu Phú, 2004). Theo kết quả tham vấn các hộ nuôi tôm trong 3
năm (Nguyễn Văn Thanh, 2005) cho thấy tỷ lệ hộ trồng rau nhút kết hợp trong nuôi
tôm luôn lớn hơn trồng các loại cây khác; năm 2002 số hộ trồng rau nhút trong quầng
nuôi tôm chiếm 65,5%, nhưng năm 2003 tỷ lệ nầy là 72,6%, và năm 2004 là 60%
Theo bảng tổng hợp số lao động tham gia sản xuất trong mùa nước nổi
(Phòng Xây dựng và PTNT huyện Châu Phú, 2004) ở xã Vĩnh Thạnh Trung năm 2003
có 9,4 ha diện tích mặt nước trồng rau nhút với 34 hộ và 101 lao động. Sang năm
2004, diện tích trồng rau tăng lên 16 ha (sau xã Thạnh Mỹ Tây).
2.4 Hiệu quả của mô hình trồng rau nhút
Nhiều địa phương trong vùng ngập nước của tỉnh An Giang đã tận dụng mặt
nước trồng rau nhút có lãi từ 11-22 triệu đồng/ha; tỷ lệ lãi/chi phí gấp 4 đến 5 lần
(Trung Liêm, 2004). Anh Nguyễn Văn Tấn ở xã An Phong, huyện Thanh Bình (Đồng
Tháp) cho biết, rau nhút trồng được khoảng một tháng thì cho thu hoạch, với hơn một
công rau nhút cặp bờ ruộng đầu mùa nước nổi mỗi đợt thu hoạch trên dưới 150kg, bán
94,85
61,65
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Liên hệ với địa phương thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã
hội của vùng nghiên cứu; các báo cáo hàng năm, sách báo, tạp chí và các nghiên cứu
trước đây cũng như những kiến thức đã được học ở trường
3.2 Theo dõi và điều tra phỏng vấn nông hộ
- Theo dõi, ghi chép cách làm của một số hộ nông dân tiêu biểu đang trồng cây
rau nhút trong mùa lũ 2004. Chọn 3 hộ nông dân ở xã Vĩnh Thạnh Trung (có
kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác và am hiểu điều kiện tự nhiên trong vùng
cũng như tập quán canh tác của những nông dân khác. Tiến hành theo dõi quy
trình kỹ thuật canh tác, các chi phí đầu vào, cũng như giá cả và đầu ra cho sản
phẩm.
- Phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng phiếu câu hỏi(Phụ chương 3). Mẫu điều tra
được chọn ngẫu nhiên phân bố trong vùng trồng rau nhút tập trung tại 4 ấp
của xã Vĩnh Thạnh Trung. Tổng số mẫu điều tra là 30 hộ (Bảng 1).
Bảng 1. Số mẫu điều tra tại xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú
STT Ấp Số mẫu
1 Bình Chiến 7
2 Vĩnh Lợi 8
3 Vĩnh Bình 9
4 Bình An Thạnh Lợi 6
Tổng 30
Số liệu thu thập bao gồm:
1
- Thông tin định tính: Lý do để nông dân trồng cây thuỷ sinh trong mùa lũ; đặc
tính đất canh tác cây thuỷ sinh; những trở ngại và hướng khắc phục cây trồng
thuỷ sinh; thị trường tiêu thụ sản phẩm; khả năng kết hợp với các mô hình
canh tác khác.v.v
nhiễm phèn.
Khí hậu có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa
nắng trong các tháng còn lại. Chế độ thuỷ văn chịu ảnh hưởng lũ hàng năm từ giữa
tháng 7 đến tháng 12 với đỉnh lũ vào cuối tháng 9, đấu tháng 10, trung bình mực nước
cao 2,0 đến 2,5 mét. Khí hậu có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11, mùa nắng trong các tháng còn lại. Chế độ thuỷ văn chịu ảnh hưởng lũ hàng
năm từ giữa tháng 7 đến tháng 12 với đỉnh lũ vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, trung
bình mực nước cao 2,0 đến 2,5 mét
Xã Vĩnh Thạnh Trung có phía Đông giáp với sông Hậu, phía Bắc giáp xã Mỹ
Phú, phía Nam giáp với xã Bình Long, phía Tây giáp với xã Thạnh Mỹ Tây. Đất thuộc
đất phù sa hằng năm được nước lũ bồi đắp nên đất gần sông khá tốt, tổng diện tích đất
tự nhiên 2.639 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 2.115 ha. (Phòng nông nghiệp
huyện Châu Phú,2002).
1
Hình 2. Bản đồ xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu Phú - tỉnh An Giang
4.2 Thông tin tổng quát về các hộ trồng rau nhút
4.2.1 Độ tuổi và trình độ học vấn
Kết quả điều tra cho thấy tuổi các chủ hộ trồng rau nhút từ 21 đến 77 tuổi,
bình quân là 46 tuổi. Trong đó có khoảng 93,3% chủ hộ dưới 60 tuổi và 6,7% chủ hộ
trên 60 tuổi. Đa số chủ hộ có trình độ học vấn cấp II chiếm 43,3%, cấp I (36,7%), cấp
III là 16,7% và chỉ có 3,3% chủ hộ có trình độ cao đẳng/đại học và không có chủ hộ
mù chữ (Bảng 2). Tuy nhiên, xét tổng thể 143 nhân khẩu trong 30 hộ thì có đến 16
thành viên trong độ tuổi lao động mù chữ (chiếm 11,2%) và chỉ có 9 thành viên học
bậc cao đẳng/đại học (6,2%). Nhìn chung trình độ dân trí của các thành viên trong
nông hộ vẫn còn thấp; đây là một rào cản lớn để chuyển giao những tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới đến nông dân. Do trình độ thấp nên họ thường có tâm lý an phận với
những gì mình có, không muốn thay đổi lối sống, sinh hoạt. Họ thích những công việc
1
đơn giản, quen thuộc, ngần ngại khi tiếp xúc với công việc mới do sợ rủi ro và dễ dẫn
đến thất bại do lối suy nghĩ đơn giản, không tin tưởng bản thân mình, dễ buông xuôi.
0
20
40
60
80
18 60
Độ tuổi
% độ tuổi
Hình 3. Nguồn nhân lực trong nông hộ
4.2.3. Kinh nghiệm trồng rau nhút
Kết quả phân tích cho thấy kinh nghiệm trồng rau nhút trung bình là 5 năm
với khoảng biến thiên từ 1 đến 15 năm. Trong đó, có khoảng 10% người có trên 10
năm kinh nghiệm, 46,7% người có trong khoảng 5-10 năm và 44,3% người có dưới 5
năm kinh nghiệm. Điều này cho thấy mô hình trồng rau nhút đã bắt đầu xuất hiện cách
nay khá lâu tại xã, số lượng nông dân có kinh nghiệm trồng tương đối nhiều và đây
cũng là một nhân tố tích cực góp phần mang lại hiệu quả sản xuất cao cho nông dân
địa phương.
2
Số người/ hộ Số hộ Tỷ lệ (%)
1 - 5 người 19 63,3
6 - 8 người 10 33,3
Trên 8 người 1 3,3
16,7
77,62
5,68
4.2.4. Đất canh tác
Trung bình diện tích đất nông nghiệp của 30 hộ điều tra là 1,3 ha. Diện tích
nhỏ nhất được ghi nhận là 0,13 ha/hộ và diện tích lớn nhất là 6 ha/hộ. Trong đó, có
khoảng 70% hộ có diện tích từ 0,13-1 ha; 23,3% hộ có diện tích trong khoảng 1-5 ha
nhút trong mùa lũ năm 2004 là trồng rau nhút trên ruộng (chiếm 70%) và trồng kết
hợp rau nhút với nuôi động vật thuỷ sản (cá - tôm) chỉ chiếm 30%. Song song với hai
dạng mô hình trên là hai thời điểm trồng cũng khác nhau:
- Do đặc điểm của các mô hình nuôi thuỷ sản là thời gian nuôi phải kéo dài nên
việc trồng rau nhút được thực hiện hầu như quanh năm. (6-8 tháng).
- Các hộ khác chỉ tận dụng đất ruộng ngập lũ để trồng rau nhút nên thời điểm
trồng chỉ ngắn hơn (kéo dài khoảng 3 – 4 tháng/năm).
3,33
70
26,66
0
20
40
60
80
Rau nhút Rau nhút - cá Rau nhút - tôm
2
Mô hình
Hình 4. Các mô hình liên quan đến rau nhút
% số hộ
4.3.2 Kỹ thuật canh tác
4.3.2.1 Thời vụ
Theo tài liệu phát triển nông thôn mùa lũ (2003) thì rau nhút có thể trồng
được ở mọi các thời điểm trong năm ở ĐBSCL. Tuy nhiên, qua thực tế khảo sát cho
thấy thời gian trồng rau nhút tốt nhất bắt đầu từ tháng 5 vì thời điểm này có đủ nước
và nguồn nước tốt. Mùa lũ năm 2004 ở xã Vĩnh Thạnh Trung có đến 83,3% nông dân
bắt đầu trồng vào tháng 6; 10% trồng vào tháng 7 và 6,7% trồng trong tháng 5. Điều
này được lý giải bởi chế độ thuỷ văn của huyện Châu Phú có mực nước lũ tràn vào
ruộng (nước chạy đồng) trong tháng 7 dương lịch, đạt đỉnh lũ cao nhất vào tháng 10
dương lịch,…(Trần Thanh Sơn, 1990). Đối với một số hộ nông dân trồng rau nhút
> 2 2 6,67
Mực nước thích hợp (*)
(n=30)
0,2 – 0,5 4 13,33
0,5 - 1 9 30,00
> 1 17 56,67
Ghi chú: (*) tính từ mặt ruộng đến mặt nước
4.3.2.3 Nguồn giống
Trong tổng số 30 hộ điều tra có 9 hộ (chiếm 30%) sử dụng giống nhà (do hộ
nông dân tự tạo và bảo quản giống trên một phần đất nhỏ trước khi mang ra cấy trên
ruộng trong mùa lũ), còn lại 70% số hộ phải mua giống từ những nông dân khác. Giá
giống biến động trong khoảng từ 1.000 đồng đến 1.500 đồng/kg tuỳ thuộc phần nhiều
vào chất lượng. Mặt khác, giá giống còn tùy thuộc theo từng thời điểm và cũng chịu
sự chi phối của các mối quan hệ xã hội giữa người bán và người mua. Theo nhận xét
của các nông dân, giá bán của rau nhút thường cao vào thời điểm đầu mùa lũ (giai
đoạn này thiếu giống). Khi nước lên cao thì hầu hết các hộ dân trong vùng đều có rau
nhút để bán nên bị dội chợ (giá rau giảm xuống). Giá rau giảm ở mức thấp vào cuối vụ
do chất lượng rau giảm và nông dân có khuynh hướng cuốn dây (ngưng trồng).
Theo thông tin từ các nông dân trồng rau nhút, có hai giống rau nhút xuất hiện
trên ruộng trồng với 2 đặc tính khác nhau là rau nhút xanh (có khả năng phát triển
nhanh, ít tốn phân bón), và rau nhút đỏ (cần một lượng phân thuốc khá nhiều mà sức
phát triển rất chậm, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp). Do đó, hầu hết các nông dân khi
mua rau giống hoặc cấy rau đều có chủ ý chọn rau nhút xanh và loại bỏ giống rau đỏ
ra khỏi ruộng để tránh hiện tượng cạnh tranh phân bón, ánh sáng, không gian sống,…
2