Lời mở đầu
Hiện nay, xu thế hội nhập tự do hoá thơng mại đang diễn ra mạnh mẽ trong mỗi
khu vực và trên toàn thế giới. Cùng với xu thế đó, trong những năm gần đây, Việt Nam
bằng những thành tựu phát triển kinh tế trong tiến trình đổi mới cũng đang tích cực hội
nhập với nền kinh tế các nớc trong khu vực và trên thế giới. Đó là sự tham gia của Việt
Nam vào các khối ASEAN, APEC và tìm kiếm khả năng trở thành thành viên của tổ
chức thơng mại thế giới (WTO).
Tuy nhiên theo quan điểm thị trờng, Việt Nam muốn hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới, một yếu tố quan trọng là phải đa ra đợc những sản phẩm có u thế
cạnh tranh hay có lợi thế so sánh với các sản phẩm cùng loại của các nớc khác.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp có nhiều lợi thế và tiềm năng về đất đai, lao
động và điều kiện sinh thái . cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông sản hàng
hoá xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn. Sau hơn 10 năm thực hiện đờng lối đổi mới của
Đảng và nhà nớc, kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã có những bớc phát triển đáng
kể. Sản xuất nông nghiệp tăng trởng với những nhịp độ cao, ổn định (bình quân 4-
4,5%/năm), kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 20%/năm, trong đó theo Tổng cục hải
quan năm 1999 Việt Nam xuất khẩu 4.508.206 tấn gạo, đạt trị giá 1.025.090.479USD.
Đây là những kết quả góp phần đáng kể trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hớng CNH, HĐH, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nền kinh
tế thuần nông tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá với tỷ suất hàng hoá ngày càng
cao.
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều bất cập cần phải đợc tập
trung nghiên cứu giải quyết để nâng cao năng suất, chất lợng nông sản hàng hoá trong
đó có gạo xuất khẩu đồng thời tiết kiệm chi phí, hạ giá thành hàng hoá, tăng sức cạnh
tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng quốc tế. Thực tế cho thấy, nông nghiệp Việt
Nam đang đứng trớc những thách thức có tính cạnh tranh về sản xuất và xuất khẩu
nông sản biểu hiện yếu kém trên một số mặt: chất lợng, khối lợng hàng nông sản, cha
tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ ổn định và thiếu bạn hàng lớn, giá cả thờng xuyên biến
động gây không ít khó khăn cho cả ngời sản xuất và ngời tiêu dùng, năng suất lao động
nông nghiệp còn thấp, lao động trong nông nghiệp và nông thôn d thừa nhiều, sức ép
về công ăn việc làm là những vấn đề nhức nhối của xã hội.
1-Khái niệm chung về TMQT
TMQT là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ (hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô
hình) giữa các quốc gia thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên
tắc trao đổi ngang giá. TMQT có từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm nhất và ngày
nay vẫn giữ vị trí trung tâm trong các hoạt động kinh tế quốc tế.
TMQT bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trên giác độ một quốc gia, đó chính
là hoạt động ngoại thơng.
Nội dung của TMQT bao gồm:
* Xuất và nhập khẩu hàng hoá hữu hình
* Xuất và nhập khẩu hàng hoá vô hình
* Gia công thuê cho nớc ngoài và thuê nớc ngoài gia công
* Tái xuất khẩu và chuyển khẩu
* Xuất khẩu tại chỗ
Với mỗi hình thức kể trên đều có những u và nhợc điểm. Tuỳ từng điều kiện của
mỗi quốc gia mà có sự lựa chọn hình thức giao dịch phù hợp và mang lại hiệu quả cao
nhất cho nền KTQD.
2- Chức năng của TMQT
TMQT có 2 chức năng sau:
*TMQT làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân đợc sản xuất trong nớc thông qua việc xuất và nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu
có lợi cho nền kinh tế trong nớc. Chức năng này TMQT là lợi cho nền KTQD về mặt
giá trị sử dụng.
*TMQT góp phần nâng cao hiệu quả của nền KTQD, do việc mở rộng trao đổi
mà khai thác triệt để lợi thế của nền kinh tế trong nớc trên cơ sở phân công lao động
quốc tế, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành.
Các chức năng của TMQT có liên quan chặt chẽ với các nhân tố thúc đẩy sự hình
thành và phất triển của nó. Căn cứ vào các nhân tố này ngời ta phân biệt thơng mại bù
đắp và thơng mại thay thế. Dù ở dới những tên gọi nào thì TMQT vẫn mang chức năng
kể trên.
3-Lợi thế của TMQT
Heckscher-Ohlin và một số thuyết hiện đại về lĩnh vực đầu t, về chu kỳ sống của sản
phẩm.
3.3.Tác động của TMQT đến tăng trởng kinh tế Việt Nam
Trong những năm gần đây tốc độ tăng trởng ngoại thơng nhanh và tăng cao hơn
so với tốc độ tăng trởng sản xuất. Thị trờng ngày càng đợc mở rộng và chuyển đổi h-
ớng. Nếu trớc đây chỉ chủ yếu buôn bán với Liên Xô và Đông Âu, chiếm khoảng 80%
kim ngạch xuất nhập khẩu thì hiện nay Việt Nam có quan hệ buôn bán với hơn 110
quốc gia trên thế giới.
Việc chuyển hớng kịp thời đã tạo điều kiện mở rộng quy mô xuất nhập khẩu, lựa
chọn bạn hàng phù hợp và giúp cho nền kinh tế tăng trởng một cách liên tục.
Từng bớc xây dựng đợc một số mặt hàng có quy mô ngày càng lớn là: gạo, dầu
khí, thuỷ sản, gia công may mặc . Tuy vậy hoạt động trên diễn ra với quy mô nhỏ bé,
cán cân thanh toán thâm hụt gây ảnh hởng đến tổng cơ cấu của nền kinh tế. Cơ cấu
hàng hoá lạc hậu, chất lợng cha cao, mặt hàng manh mún, sức cạnh tranh yếu. Thị tr-
ờng bấp bênh, qua trung gian, thiếu những hợp đồng lớn và dài hạn.
Nhìn tổng quát kết quả hoạt động ngoại thơng (TMQT) của một nớc đợc đánh giá
qua cân đối thu chi ngoại tệ dới hình thức cán cân thanh toán xuất nhập khẩu. Kết
quả này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập trong nớc, do đó tác động trực tiếp đến tổng
cầu của nền kinh tế. Khi cán cân thanh toán ở mức xuất siêu sẽ sẽ tăng nguồn ngoại tệ
cho ngân sách và ngợc lại nếu nhập siêu sẽ gây thâm hụt ngân sách. Nh vậy cán cân
thanh toán xuất nhập khẩu đã trực tiếp tăng hoặc giảm quỹ tiền tệ của một nớc.
Với nớc ta hiện nay, đẩy mạnh xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu là vô cùng cần
thiết và việc thực hiện mục tiêu trên đã và đang đợc cụ thể hoá và hoàn thiện qua chính
sách khuyến khích, bảo hộ hợp lý để có thể thực hiện tốt mục tiêu này.
II- Tổ chức hoạt động xuất khẩu trong cơ chế thị trờng
1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền KTQD
1.1.Khái niệm
Xuất khẩu là nguồn thu nhập chính của một quốc gia, mang tính chất quốc tế của
một công ty. Đối tợng của hoạt động xuất khẩu là hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô
hình (dịch vụ).
làm cho doanh nghiệp lớn mạnh, buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải phải thực sự
năng dodọng, thực sự có tiềm lực, dày dạn trên thơng trờng và phải có hớng đi, có giải
pháp rõ ràng, thích hợp.
*Năm là tăng cờng hợp tác trong lĩnh vực xuất khẩu, nâng cao uy tín và vị thế của
hàng hoá Việt Nam trên thị trờng quốc tế. Khi hoạt động xuất phát từ nhu cầu thị trờng
thế giới nó sẽ góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
2.Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trờng đều có một môi trờng kinh
doanh nhất định. Môi trờng kinh doanh tạo ra những tiền đề và thuận lợi cho việc kinh
doanh của doanh nghiệp đồng thời cũng có thể có những tác động ngợc lại. Đặc biệt
đối với các doanh nghiệp ngoại thơng, môi trờng kinh doanh lại càng quan trọng bởi
KTQD chứa đựng yếu tố quốc tế đa chủ thể và mang những quốc tịch khác nhau.
Dới đây là những nhân tố ảnh hởng tới hoạt động xuất nhập khẩu
*Nhân tố kinh tế -xã hội
Hiện nay nhà nớc hủ trơng đa dạng hoá các thành phần kinh tế, buôn bán kinh
doanh xuất nhập khẩu trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Một doanh nghiệp ngoại
thơng quốc doanh phải cạnh tranh với các đơn vị kinh doanh khác thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau.
Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu phải quan tâm tới một số vấn đề kinh tế của
nớc nhập nh: tốc độ tăng trởng kinh tế, thu nhập quốc dân, thu nhập đầu ngời/năm, lạm
phát bao nhiêu phần trăm GDP, tình trạng thất nghiệp, nợ nớc ngoài, tỷ giá hối đoái
biến động ra sao, tình trạng cán cân thơng mại .
Tất cả các nhân tố trên đều có ảnh hởng đến hành vi tiêu dùng, khả năng thanh
toán, khối lợng hàng hoá sẽ đợc tiêu thụ và có xảy ra rủi ro khi thanh toán không, mức
độ là bao nhiêu .
Căn cứ vào những thông số thực tế và dự đoán kể trên để doanh nghiệp có hớng
sản xuất, xuất khẩu mặt hàng đáp ứng cầu về hàng hoá của bên đối tác đồng thời làm
lợi cho doanh nghiệp, tăng nguồn ngân sách cho nhà nớc.
*Nhân tố pháp luật
biến hàng xuất khẩu. Đây là khâu quan trọng để nâng cao chất lợng hàng xuất khẩu,
tạo uy tín từ phía khách hàng tiêu dùng hàng hoá đó. Chất lợng hàng luôn là yêu cầu
đặt ra để tìm hớng giải quyết trong các doanh nghiệp Việt Nam do thiếu công nghệ cần
thiết. Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực bảo quản vận tải hàng hoá, kỹ
nghệ nghiệp vụ ngoại thơng và các lĩnh vực khác liên quan tới hoạt động xuất khẩu.
Khoa học công nghệ là khâu then chốt, quyết định tiêu chuẩn hàng hoá xuất
khẩu. Điều đó cho phép doanh nghiệp có thể đa hàng hoá ra nớc ngoài đợc không?
Liệu hàng hoá có tạo đợc chỗ đứng trên thị trờng quốc tế hay không? Tất cả tuỳ thuộc
vào khả năng đổi mới, áp dụng dây truyền công nghệ và sự đầu t công nghệ đúng mức
của doanh nghiệp.
Ngoài 3 nhóm nhân tố nêu trên đợc cho là chủ yếu và có tác động trực tiếp đến
hoạt động xuất nhập khẩu, còn có môi trờng chính trị, văn hoá, môi trờng cạnh tranh,
đặc biệt lu ý đến môi trờng văn hoá (ảnh hởng đến hành vi, thái độ tiêu dùng của ngời
dân).
3. Sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Với nội dung này cũng không kỳ vọng liệt kê hết các chính sách, quy định của
Nhà nớc cũng nh các số liệu cụ thể về thuế suất của từng loại mặt hàng mà ở đây chỉ
xin đề cập đến những khía cạnh dễ thấy và có ảnh hởng trực tiếp đến kinh doanh xuất
khẩu mà Chính phủ là ngời đặt ra và quản lý nó.
Thông thờng ngời ta có thể sử dụng thuế quan và phi thuế quan để điều tiết hoạt
động xuất nhập khẩu.
Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng xuất khẩu. Việc đánh thế xuất
khẩu làm hạ giá thấp tơng đối, mức giá cả hàng hoá trong nớc xuất khẩu có thể thấp
hơn nếu nó đợc bán ở thị trờng quốc tế, trực tiếp đa lại những bất lợi cho khả năng sản
xuất trong nớc.
Mục đích chủ yếu cả đánh thuế là nhằm điều tiết lợng hàng hoá xuất khẩu, điều
tiết cung cầu hàng hoá trong nớc và để hạn chế xuất khẩu những mặt hàng mà Nhà nớc
không khuyến khích. Tuỳ vào hoàn cảnh của mỗi quốc gia ở những giai đoạn khác
nhau mà mức thuế có thể thay đổi cho phù hợp.
Quota tức là hạn ngạch xuất nhập khẩu cũng đợc áp dụng nh một công cụ phổ
trị (4/1988) nền nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất lơng thực nói riêng đã đạt đ-
ợc những thành tựu đáng kể. Từ chỗ thiếu lơng thực triền miên phải nhập khẩu bình
quân hàng năm khoảng 0,5 triệu tấn gạo. Nhng từ 1989 đến nay đã sản xuất đủ lơng
thực tiêu dùng trong nớc và khối lợng xuất khẩu ngày càng tăng, đứng thứ hai trên thế
giới về xuất khẩu gạo (năm 1997 đạt 3,62 triệu tấn). Sản lợng lơng thực tăng bình quân
0,8-1,0 triệu tấn/năm, tăng khá ổn định và vững chắc trên cả ba mặt: năng suất, chất l-
ợng, hiệu quả.
Biểu 1: kết quả sản xuất lúa
Năm
Diện tích Năng suất Sản lợng
1000 ha % tăng Tạ/ha % tăng 1000 tấn % tăng
1990 5895,8 32,3 18996
1991 6027,7 2,24 31,9 -1,24 19225 1,2
1992 6302,7 4,56 31,1 -2,5 19622 2,06
1993 6475,4 2,14 33,3 7,07 21590 1,03
1994 6559,4 1,3 34,8 4,5 22837 5,78
1995 6598,6 0,6 35,65 2,44 23528 3,03
1996 6765,6 2,53 36,8 3,23 24630 4,68
1997 7020,7 3,77 37,6 2,17 26397 7,17
1998 7090,8 0,99 39 3,72 27651 4,75
1999 7337,4 3,4 39,7 2,4 29141 5,8
BQ 6526,1 2,33 34,8 2,38 22717 4,8
Xu hớng phát triển về sản xuất lơng thực nói chung và lúa gạo nói riêng trong
thời gian qua có những nét cơ bản sau:
- Sản xuất lúa đã đi vào thế ổn định và phát triển theo hớng thâm canh, áp dụng
các tiến bộ KHKT. Nhờ thế đã nâng cao đợc năng suất, chất lợng và tỷ suất hàng hoá.
Điều này thể hiện diện tích trồng lúa, năng suất và sản lợng bình quân liên tục tăng qua
các năm lần lợt 2,33% ; 2,38% và 4,8%.
- Nhiều tiến bộ KHKT đợc ứng dụng, nhất là tiến bộ về giống lúa có năng suất,
chất lợng cao nh CR203, OM80-81, IR58, IR64 và các giống lai Trung Quốc. Từ đó có
ợng gạo đa ra buôn bán trên thị trờng quốc tế trong vài thập kỷ qua chỉ dao động từ 3-
5% lợng sản xuất của thế giới. Những năm gần đây, cùng với quá trình tự do hoá thơng
mại toàn cầu và khu vực, lợng gạo đa ra buôn bán trao đổi có xu hớng ngày càng tăng.
Những năm 91-92, lợng gạo đa ra buôn bán trao đổi là 12-14 triệu tấn, đến năm 1995
tăng lên 21 triệu tấn, năm 98 là 23,6 triệu tấn và năm 1999 đạt 32,5 triệu tấn.
Biểu 2: Cung cầu gạo trên thế giới
Năm
Diện tích
(Tr.ha)
Năng suất
(Tấn/ha)
Sản lợng Xuất khẩu
(Tr.tấn)
Tiêu dùng
(Tr.tấn)
Dự trữ
(Tr.tấn)
Thóc (Tr.tấn) Gạo (Tr.Tấn)
1991 146,6 3,55 520,5 352 12,2 347,4 59,1
1992 147,3 3,57 252,3 354,7 14,3 356,6 57,2
1993 146,4 3,6 526,8 355,6 14,9 357,7 55,1
1994 145 3,63 527 355,4 16,3 358,2 52,4
1995 147,4 3,67 540,3 364,6 20,9 366,6 50,3
1996 148 3,72 551,2 371,3 19,7 371,4 50,3
1997 149,8 3,76 563,8 380,4 18,7 379,6 51,1
1998 150,8 3,79 571,4 385,4 27,3 383,6 52,9
1999 149,2 3,8 567,5 382,2 22,5 386,6 48,6
(Nguồn: Bộ nông nghiệp Mỹ)
Các nớc xuất khẩu gạo lớn và thờng xuyên hiện nay là: Thái Lan, Việt Nam, Mỹ,
Mianma, Pakistan trong đó Thái Lan là nớc dẫn đầu về xuất khẩu gạo từ thập niên 80
1.2.Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
Từ năm 1991 đến nay, xuất khẩu gạo Việt Nam tăng không ngừng, bình quân gần
11%/năm. Khối lợng xuất năm 1997 lên tới 3,5 triệu tấn, tăng gấp 2 lần so với năm
1995, năm 1999 xuất 4,5 triệu tấn, tăng hơn 2,5 lần so với năm 1995, đa kim ngạch
xuất khẩu hàng năm tăng hơn 16%/năm, từ 304,6 triệu USD (1991) lên 964 triệu USD
(1997) và năm 1999 kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 1,025 tỷ USD, dẫn
đầu về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam.
Biểu 3: Tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam
Năm Sản xuất lúa Xuất khẩu gạo
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lợng
(1000tấn)
Khối lợng
(triệu tấn)
Kim ngạch
(triệu USD)
1990 6027,7 31,9 19225 1,624 304,6
1991 6302,7 31,1 19622 1,032 234,5
1992 6475,4 33,3 21590 1,953 429
1993 6559,4 34,8 22837 1,722 379
1994 6598,6 35,65 23528 1,983 405,6
1995 6765,6 36,8 24630 1,988 550
1996 7020,7 37,6 26397 3,04 866
1997 7090,8 39 27651 3,54 964
1998 7362,4 39,6 29141,7 3,8 1031
1999 7500 41 31420 4,5 1025
(Nguồn: Vụ KH và quy hoạch-Bộ NN và PTNT - Tổng cục thống kê)
Nam là thấp hơn mà năng suất lúa lại cao hơn nên giá thành sản xuất sẽ thấp hơn. Vì
vậy giá xuất khẩu của chúng ta tuy thấp hơn Thái Lan nhng vẫn có lãi. Đây là một lợi
thế lớn trên thị trờng lúa gạo. Song từ sản xuất, chế biếnđến khâu làm thành hàng hoá
đa đi xuất khẩu là cả một chặng đờng dài và không ít khó khăn, bất cập nh các vấn đề
chế biến, môi trờng tự nhiên, khí hậu, môi trờng kinh doanh và hàng loạt các tác động
về thể chế và các cơ chế chính sách đối với xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia.
Sau đây sẽ đề cập một số yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của gạo Việt Nam:
*Về giá xuất khẩu:
Hiện nay vẫn còn chênh lệch giữa giá các nôgn sản xuất khẩu của Việt Nam so
với giá thế giới nói chung và giá gạo noí riêng, chính là vấn đề cần phải khép dần
khoảng cách về giá và tăng hiệu quả sản xuất.
Trớc đây giá gạo Thái Lan (cùng phẩm cấp và thời gian điểm) vẫn thờng cao hơn
gạo Việt Nam từ 35-80 USD/tấn. Những năm gần đây, khoảng cách này đã đợc rút
ngắn dần do chất lợng gạo Việt Nam tăng lên và mặt khác do giá đồng bath giảm giá
50% nên giá gạo Thái Lan giảm khi đổi ra đồng USD. Trong 5 năm qua giá gạo Việt
Nam bình quân 262,6USD/tấn, còn Thái Lan bán cùng thời kỳ là 295USD/tấn, cao hơn
giá gạo Việt Nam từ 30-35%.
Trong năm 1997, cạnh tranh vẫn diễn ra gay gắt trên thị trờng gạo thế giới bởi
nhu cầu nhập khẩu giảm, nguồn cung cấp vẫn tăng, đồng thời đồng bath Thái Lan giảm
giá mạnh, giá gạo trên thị trờng thế giới giảm 15-18% so với 1996.
Sang năm 1998, giá gạo thế giới có xu hớng tăng lên tại Việt Nam, tháng 4/1998
giá chào bán loại 5% tấm ở mức 300USD/tấn FOB, tăng 35USD/tấn so với đầu năm.
Đến nay theo Bộ thơng mại trong 2 tháng đầu năm 2000, Việt Nam xuất khẩu
khoảng 160.000 tấn gạo, giá gạo xuất khẩu bình quân tháng 1/2000 chỉ đạt
225USD/tấn. So với gạo Thái Lan giá gạo Việt Nam thấp hơn rất nhiều. Giá FOB xuất
khẩu loại 25% tấm của Thái Lan ngày 24/2/2000 là 195-205USD/tấn trong khi của
Việt Nam là 186-188USD/tấn.
Thành 8/2000 giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã lên ngang với mức giá gạo xuất
khẩu của Thái Lan. Hiện lúc đó giá FOB loại 5% tấm của Việt Nam đang ở mức 187-
188USD/tấn, loại 25% tấm khoảng 160-162USD/tấn tơng đơng với mức giá gạo cùng
bóng, sang lọc tấm . Do vậy không thể đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật chế biến
cũng nh chất lợng quốc tế. Bên cạnh đó khí hậu nhiệt đới nóng ẩm cũng ảnh hởng đến
khâu bảo quản, lu kho của mặt hàng gạo và đặc điểm bao bì vận chuyển cũng cha đáp
ứng đúng yêu cầu đờng biển. Vì vậy gạo dễ bị biến chất, mốc, ngấm nớc . ảnh hởng
đến giá thành do bị ép giá.
Chất lợng hàng hoá nói chung và chất lợng mặt hàng gạo đang nói ở đây có ảnh
hởng mạnh, mang tính quyết định tới giá cả của hàng hoá. Nâng cao chất lợng gạo là
mục tiêu lớn nhất đặt ra cho nông nghiệp nớc ta trong giai đoạn hiện nay, tận dụng thế
mạnh nông nghiệp, hớng về xuất khẩu.
3. Triển vọng các thị trờng xuất khẩu của Việt Nam
Trong giai đoạn từ nay đến 2010, thị trờng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp
của Việt Nam sẽ không chỉ phụ thuộc vào triển vọng thị trờng các nớc, các khu vực và
nhiều yếu tố khác. Những đánh giá về triển vọng các thị trờng xuất khẩu cho sản phẩm
gạo của nớc ta nh sau:
Theo Tổng cục hải quan, trong năm 1999 Việt Nam đã xuất khẩu đợc 4.508.206
tấn gạo, đạt giá trị 1.025.090.479USD. Năm 1999 thị trờng gạo của Việt Nam tiếp tục
đợc mở rộng sang Ba lan, Các tiểu vơng quốc A Rập thống nhất, Hungary, Ixraen, Tây
Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ. Indonexia vẫn tiếp tục là thị trờng nhập khẩu chủ yếu của gạo
Việt Nam, với số lợng gần 1,15 triệu tấn trong năm 1999. Tiếp theo là các thị trờng
Singapore và Philipin.
Trong năm 1999, các thị trờng nhập khẩu gạo Việt Nam tăng so với năm 1998 là
ấn Độ, Anh, Ba Lan, Đài Loan, I Rắc, Malaysia, Nam Phi, Nhật Bản, Singapore, Thái
Lan, Trong Quốc và ucraina.
Các thị trờng nhập khẩu gạo Việt Nam giảm nhiều so với năm 1998 là
Campuchia, Hà Lan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Lào, Mỹ, Niu Dilân, Nga, ôxtraylia,
Pháp, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ.
4. Triển vọng mậu dịch gạo thế giới
Nh vậy trong những năm gần đây, trên thị trờng gạo thế giới nổi lên những gơng
mặt quen thuộc và đợc phân thành hai nhóm nớc khá rõ rệt: nhóm nớc xuất khẩu và
nhóm nớc nhập khẩu. Triển vọng của mậu dịch gạo thế giới năm 2000 sẽ là một năm
-Xoá bỏ những quy định, hạn chế đối với hoạt động thơng mại.
Khi tham gia vào AFTA có 3 loại chủ thể chịu tác động là Nhà nớc, doanh nghiệp
và ngời tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp, việc xoá bỏ hàng rào bảo hộ mậu dịch có tính
hai mặt. Khi tham gia vào buôn bán tự do, các doanh nghiệp phải đổi mới toàn diện để
đối đầu trực tiếp với sức ép cạnh tranh từ các nứoc trong AFTA. Cạnh tranh sẽ thúc đẩy
sản xuất phát triển nhng có thể làm phá sản doanh nghiệp.
Với Việt Nam sự tăng trởng trong sản xuất và xuất khẩu gạo trong những năm
qua cho thấy thế mạnh và tiềm năng có thể tham giá vào thị trờng thế giới và khu vực
ASEAN, kể cả trong điều kiện có sự cạnh tranh gay gắt và sự thay đổi trong các điều
kiện thơng mại quốc tế (tự do hoá thơng mại).
Vì gạo là sản phẩm thuộc nhu cầu thiết yếu, thị trờng lại rộng lớn, đa dạng, các
đối thủ cạnh tranh không nhiều, chủ yếu là Thái Lan. Do vậy AFTA có tác động tích
cực đến ngành sản xuất lúa gạo và công nghiệp xay xát gạo của Việt Nam.
1. Tác động vào thị trờng
Trong trờng hợp tự do hoá thơng mại hoàn toàn (thuế xuất nhập khẩu bằng 0%)
thì gạo Thái Lan cũng khó xâm nhập, chiếm lĩnh thị trờng Việt Nam vì 2 lý do:
- Gạo Thái Lan có chất lợng cao, giá cao nên không phù hợp với nhu cầu đông
đảo dân c Việt Nam hiện đang có mức thu nhập thấp. Gao chất lơng cao chỉ có thể tiêu
thụ ở một số đô thị hoặc ở nhà hàng, khách sạn nên khối lợng không nhiều. Nông dân
Việt Nam sẽ không bao giờ từ bỏ sản xuất lúa để đi mua gạo của Thái Lan do Việt
Nam có lợi thế so sánh sản xuất gạo hơn Thái Lan.
- Khả năng thiếu lơng thực trong những năm tới là không thể xảy ra, an toàn lơng
thực đợc bảo đảm vững chắc bất kể có xảy ra mất mùa, thiên tai .
2. Tác động đến ngân sách
Hiện nay chúngn ta không phải nhập khảu gạo nên không có khoản thu qua thuế
nhập khẩu gạo. Giả sử trong những năm tới có nhập trao đổi gạo ngon với Thái Lan thì
khối lợng không nhiều. Vì vậy viẹc cắt giảm thuế sẽ không ảnh hởng tới nguồn thu
ngân sách mà sẽ tạo cơ hội cho gạo Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trờng khu vực
ASEAN. Đối với những nớc đang nhập khẩu gạo của Việt Nam nh Indonexia, Philipin,
Malaysia thì sự hạn chế bảo hộ ở các nớc này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho gạo Việt
Bên cạnh đó, những hạn chế làm giảm tính cạnh tranh trong xuất khẩu gạo
cũngđợc đa ra để tìm giải pháp khắc phục .
B-Nhợc điểm
1. Đã hình thành đợc một số vùng sản xuất tập trung, chuyên canh về cây lúa nh-
ng thiếu và không đồng bộ của nhiều yếu tố sản xuất (điện, nớc, thị trờng, vốn, kỹ
thuật, giống, công nghệ khai tác, thu hoạch và chế biến).
2. Công nghệ sau thu hoạch và chế biến đã đợc quan tâm nhng nhìn chung còn
lạc hậu, kém phát triển. Tổn thất do công nghệ cũ gây ra sau thu hoạch khá lớn (12-
15%). Đặc biệt trong khâu chế biến tiêu hao (4,1-4,5%), bảo quản (3-3,4%), phới sấy
91,9-2,1%), đạp tuốt (1,4-1,8%), vận chuyển (1,2-1,5%) và trong khâu thu hoạch là
(1,3-1,7%). Mức độ đáp ứng thị trờng (đặc biệt là thị trờng một số nớc phát triển đòi
hỏi chất lợng gạo và phẩm cấp cao) của nông sản nói chung và của mặt hàng gạo chế
biến nói riêng còn thấp.
Tình trạng yếu kém của công nghệ chế biến các sản phẩm nông sản nói chung
gây ra sự bất cập và lệch pha giữa sản phẩm và chế biến. Đây là cản trở lớn đòi hỏi sự
nghiệp phát triển công nghiệp chế biến những vấn đề sau: lựa chọn cơ hội đầu t đúng
cả về thời gian, thời điểm, loại công nghệ, sản phẩm đồng thời phải hoạch định đồng
bộ từ khâu tạo nguồn nguyên liệu đến chất lợng sản phẩm và thị trờng tiêu thụ, các
điều kiện cơ sở hạ tầng và quy mô đầu t sản xuất.
3.Tổ chức hệ thống kinh doanh xuất khẩu nông sản tuy đã có nhiều thay đổi
những năng lực kinh doanh và tổ chức phối hợp còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém, không
hiệu quả, tình trạng lu thông chồng chéo, tranh mua, tranh bán gây tổn hại đến lợi ích
chung và của ngời sản xuất.
Theo tài liệu của Bộ thơng mại, cơ quan đợc Thủ tớng Chính phủ giao chủ trì xây
dựng cơ chế kiểm soát và bảo đảm ổn định thị trờng trong điều kiện mới thì gạo là
mặt nhạy cảm, biến động lúa gạo do kiểm soát yếu kém sẽ ảnh hởng ngay đến đời sống
của hơn 80% dân số (thuộc khu vực nông nghiệp) ảnh hởng đến an ninh lơng thực quốc
gia . Bỏ đầu mối, bỏ hạn ngạch xuất khẩu gạo nhng trớc mắt không nên thực hiên
ngay phơng thức hoàn toàn tự do.
4. Sản xuất -xuất khẩu nông sản chịu sự ảnh hởng bởi những tác động vợt ra khỏi
có dân số 95 triệu ngời, nhu cầu lơng thực cho toàn xã hội là 36 triệu tấn. Nh vậy từ
nay đến năm 2010 mỗi năm cần tăng nửa triệu tấn. Thực tế là diện tích gieo trồng lua
mỗi năm mất đi khoảng 20 ngàn ha do quá trình CNH.Vì vậy,dựa trên các giải phảp đa
ra và các vấn đề bức xúc hiện nay về sản xuất và an ninh lơng thực quốc gia,cùng với
vấn đề cung,cầu lúa gạo hàng hoá hàng năm,em xin đa ra một số đề xuất sau đây:
Phần III
Những giải pháp nhăm nâng cao khả năng xuất khẩu
gạo của Việt Nam đến năm 2010
I. Những định hớng về phát triển nông nghiệp và công nghiệp chế biến
Trong nhiều năm trớc đây, qua các kỳ Đại hội Đảng và các nghị quyết của Ban
chấp hành Trung ơng Đảng đã liên tiếp đa ra các đờng lối, chủ trơng lớn nhằm phát
triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Gần đây, nghị quyết hội nghị Trung ơng lần
thứ 4 BCHTW khoá VIII đã đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu phát triển nền nông
nghiệp hàng hoá Việt Nam bằng các chủ trơng cụ thể nh: điều chỉnh cơ cấu kinh tế và
cơ cấu đầu t, u tiên phát triển công nghiệp ché biến gắn với nguồn nguyên liệu nông
sản, thuỷ sản sản xuất hàng xuất khẩu, u tiên phát triển các cây trồng, vật nuôi có quy
mô phát triển tơng đối lớn và thị trờng ổn định, đặc biệt coi trọng các sản phẩm mà ta
có lợi thế, hết sức chú trọng công nghệ sau thu hoạch và công nghiệp chế biến.
Quán triệt đờng lối, chủ trơng của Đảng, Bộ NN&PTNT đã xây dựng định hớng
phát triển nông nghiệp Việt Nam từ nay đến năm 2010 là: tiếp tục xây dựng nền nông
nghiệp Việt Nam theo hớng sinh thái bền vững, thực hiện đa canh, đa dạng hoá sản
phẩm, kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp và công gnhiệp chế biến. Từng bớc thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, tăng nhanh số lợng và nâng cao chất lợng nông
sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu đạt hiệu quả cao, nâng
cao đời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới.
Từ định hớng trên , Bộ NN&PTNT đã xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập
trung theo quy hoạch đồng bộ và hoàn chỉnh với công nghệ tiến tiến, bảo đảm cân đối
giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở đẩy nhanh quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hớng phát huy những lợi thế so sánh, khai
thác có hiệu qảu tiềm năng của các vùng trong cả nớc. Đồng thời Bộ NN&PTNT cũng
từ nay đến 2010 chủ yếu vẫn tập trung vào nâng cao chất lợng các sản phẩm ở khâu sơ
chế để xuất khẩu. Riêng mặt hàng gạo do tính cạnh tranh mạnh trên thị trờng và là mặt
hàng nhạy cảm nên đòi hỏi khâu chế biến thành hàng hoá xuất khẩu đặc biệt quan
trọng. Vì điều này có ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng gạo và từ đó quyết định giá gạo
ở mức cao hay thấp, có thể cạnh tranh với mặt hàng cùng loại của nớc khác hay không.
Ba là, các chỉ tiêu khối lợng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam từ
nay đến 2010 đợc đa ra căn cứ vào sản lợng sản xuất trong giai đoạn. Tuy nhiên nếu
nhìn từ góc độ thơng mại, khối lợng xuất khẩu một số sản phẩm trong đó có gạo có thể
sẽ tăng cao hơn nếu hoạt động xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh và thu hút đợc
luồng sản phẩm từ các nớc Đông Dơng theo hình thức nhập khẩu-sơ chế-tái xuất khẩu.
Hơn nữa chỉ tiêu khối lợng xuất khẩu còn phụ thuộc vào khả năng giao dịch và ký kết
hợp đồng xuất khẩu.
2. Một số quan điểm về thúc đẩy xuất khẩu nông sản
*Sản xuất -xuất khẩu nông sản phải xuất phát từ nhu cầu thị trờng. Thị trờng là
căn cứ chủ yếu để xây dựng chiến lợng kinh doanh đối với từng ngành hàng và cho
từng sản phẩm.
Từ quan điểm này cần nghiên cứu nhu cầu về thị trờng và thi hiếu khách hàng từ
đó xác định thị trờng trọng điểm, lợng hàng hoá trao đổi và tính ổn định đối với những
mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn.
*Thúc đẩy sản xuất -xuất khẩu trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng,
từng sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh để nâng cao hiệu quả, góp phần tăng kim ngạch
xuất khẩu, thực hiện chiến lợc CNH-HĐH đất nớc.
*Thúc đẩy sản xuất -xuất khẩu nông sản trên cơ sở sản xuất hàng hoá và ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật-công nghệ tiên tiến có hàm lợng chất xám cao, nâng
cao giá trị nông sản.
Điều này đòi hỏi ngành sản xuất lúa gạo không ngừng đa ra các giống lúa mới,
phù hợp với điều kiện tự nhiên Việt Nam, cho năng suất, chất lợng cao và mang lại
hiệu quả kinh tế. Đồng thời khâu chế biến và làm thành hàng hoá xuất khẩu cũng cần
đợc trang bị đầy đủ máy móc (xay sát, lọc tấm, đánh bóng gạo .). Khâu đóng gói, bao
bì, nhãn mác cũng cần đợc lu ý.
b- Việc phân bổ và điều chỉnh chỉ tiêu cho các đơn vị nêu ở mục b, điều 1 quyết
định này do Bộ thơng mại thống nhất với Bộ NN&PTNT quyết định cụ thể.
c- Giao Bộ thơng mại xem xét cho phép các doanh nghiệp ngoài đầu mối xuất
khẩu gạo tìm đợc thị trờng mới xuất khẩu trên cơ sở các hợp đồng cụ thể, có giá cả và
các điều kiện thơng mại tốt.
Điều 3: xuất khẩu gạo sản xuất ở các tỉnh khu vực phía Bắc và miền Trung.
Khuyến khích xuất khẩu gạo sản xuất ở các tỉnh khu vực phía Bắc và miền Trung.
Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có khách hàng và thị trờng đợc xuất
khẩu tại các cảng miền Bắc và miền Trung. Bộ thơng mại hớng dẫn cụ thể trên cơ sở
đảm bảo ổn định thị trờng tiêu dùng trong nớc và hiệu quả xuất khẩu.
Điều 4: về điều hành và định hớng thị trờng
Để ổn định và đảm bảo cho các thị trờng tập trung, Bộ thơng mại chủ trì cùng ban
chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo cùng hiệp hội lơng thực Việt Nam chịu trách nhiệm
cử doanh nghiệp đầu mối đại diện giao dịch, ký hợp đồng và phân giao chỉ tiêu thực
hiện các hợp đồng này cho các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo thực hiện đảm bảo
công khai, có hiệu quả.
Giao Bộ thơng mại sớm xúc tiến ký các văn bản thoả thuận cấp Chính phủ đối với
những thị trờng tập trung nêu trên, nhằm từng bớc tăng dần số lợng gạo Việt Nam xuất
khẩu trực tiếp vào các thị trờng này.
Điều5: đối với gạo xuất khẩu theo kế hoạch trả nợ, viện trợ, thanh toán hàng xuất
khẩu của Chính phủ, giao Bộ Kế hoạch và đầu t phối hợp với Bộ tài chính bố trí cụ thể
và thông báo cho Bộ thơng mại biết để Bộ thơng mại giao cho các doanh nghiệp đầu
mối đại diện giao dịch, ký kết hợp đồng với từng nớc.
Biểu 04: giao chỉ tiêu định hớng xuất khẩu gạo năm 2000
(kèm theo quyết định số 237/1999/QĐ-TTg ngày 24/12/1999)
Đơn vị tính: 1000tấn
STT Tỉnh, doanh nghiệp Số lợng
A Địa phơng 2.900
1 An Giang 480
2 Cần Thơ 450
tế đạt đợc mục tiêu đó. Giải pháp tìm thị trờng cho mặt hàng gạo xuất khẩu của nớc ta
tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất: là doanh nghiệp tổ chức mạng lới cơ quan thơng vụ tại nớc ngoài.
Giống nh giải pháp nghiên cứu thị trờng của Trung Quốc và một số nớc Đông Nam á,
cơ quan này có vai trò cung cấp thông tin về thị trờng đầy đủ nhất về coh doanh
nghiệp chính trong nớc và khi cần nó cũng đóng vai trò là chiếccầu nối khách hàng
với doanh nghiệp để từ đó hình thành hợp đồng mua bán gạo của doanh nghiệp Việt
Nam. Trên cơ sở những thông tin nhận đợc, doanh nghiệp xuất khẩu gạo sẽ có kế
hoạch về sản xuất gạo để đáp ứng nhu cầu, yêu cầu, mong muốn về số lợng, chất lợng
và giá cả phù hợp.
Để làm tốt công tác này đòi hỏi trong doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải có bộ
phận marketing, có những cán bộ kinh doanh giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ và giàu
kinh nghiệm đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, doanh
nghiệp nên cân đối khả năng tài chính của mình để chi phí cho hoạt động của cơ quan
này thờng trú tại nớc ngoài, đảm bảo cho nó hoạt động hiệu quả cao nhất.
Thứ hai: là thờng xuyên liên lạc với phòng thơng mại và công nghiệp Việt Nam
để có thể đăng ký tham dự hội chợ triển lãm quốc tế thờng kỳ. Đây là cơ hội tốt nhất
để doanh nghiệp giới thiệu và quảng bá sản phẩm của mình trên toàn thế giới đồng
thời tăng khả năng và cơ hội ký kết hợp đồng xuất khẩu với các bạn hàng quốc tế.
Thứ ba: là nghiên cứu đặc tính tiêu dùng gạo của thị trờng định tham gia xuất
khẩu gạo cũng nh phải xác định đợc thu nhập quốc nội trên đầu ngời hàng năm của
quốc gia đó. Bởi vì gạo là mặt hàng nông sản thực phẩm mang đặc trng riêng có ở
những nớc nông nghiệp truyền thống nơi khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm phù hợp với
cây lúa nh nớc ta do đó nó trở thành lơng thực chủ yếu của các nớc trong khu vực
Đông Nam á, Châu á Vì thế xuất gạo sang các nớc này vẫn là hớng chủ đạo, chiếm
khối lợng lớn và phải tập trung vào các thị trờng này.
Bên cạnh đó thị trờng xuất khẩu gạo còn hớng sang các nớc Châu Âu, Châu Mỹ,
Nhật Bản Đây là khu vực có nền kinh tế phát triển nhất thế giới, thu nhập bình quân
đầu ngời cao vì thế yêu cầu gạo chất lợng cao, gạo đặc sản, gạo thơm và thậm chí
sẵn sàng trả với giá cao. Xu hớng nâng dần tỷ trọng gạo xuất khẩu chất lợng cao đạt
đại. Mà để nâng cao chất lợng, sản lợng gạo chế biến để phục vụ xuất khẩu thì giải
pháp đầu t, đổi mới nhập khẩu máy móc thiết bị chế biến lúa gạo là không thể bỏ qua.
Công nghệ chế biến là nhân tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩu
Việt Nam hiện tại và tơng lai.
Giải pháp về công nghệ chủ yếu tập trung vào một số khâu sản xuất sau: Khâu
xay xát, lọc tấm, phân loại gạo, đánh bóng gạo, hấp sấy, đóng gói, bao bì gạo
Tình trạng hao hụt gạo trong quá trình chuyển tiếp giữa các khâu chế biến vẫn
cha đợc khắc phục gây lên tình trạng lãng phí, giảm sản lợng gạo thành phẩm dẫn đến
kém hiệu quả trong sản xuất chế biến.
Để có đợc công nghệ nhập từ bên ngoài, nhập công nghệ nguồn với giá khá cao,
chúng ta còn có thể thực hiện nghiệp vụ mua lại công nghệ đã qua sử dụng của những
nớc cũng sản xuất lúa gạo (Thái Lan, ỹ ), hay nửa thuê, nửa mua; hay thuê công
nghệ hoàn toàn. Ngoài ra, khắc phục tình trạng hạn chế về tài chính của mình thì
doanh nghiệp có thể ký kết hợp đồng với bên nớc ngoài để xuất khẩu gạo nhập khẩu
công nghệ với trị giá ớc tính tơng đơng.
Với những máy móc, công nghệ đã và đang sử dụng trong nớc thì cần sử dụng
khấu hao hết công suất, từng bớc đa công nghệ mới vào và giúp công nhân vận hành
làm quen với dây chuyền công nghệ mới.
Nhân nói về vấn đề công nghệ cũng xin nói thêm về địa điểm bố trí công nghệ.
Các nhà máy chế biến nên đợc đặt gần các khu chuyên canh trồng lúa để giảm bớt chi
phí vận chuyển từ đồng lúa đến nhà máy chế biến, chế biến kịp thời, đúng tiến độ thu
hoạch và đúng thời gian giao nhận hàng.
Việc bố trí công nghệ cũng nên theo mô hình khép kín để giảm chi phí, hao hụt
khi chuyển tiếp giữa các khâu từ khâu sản xuất đến khâu đóng gói đa vào kho bảo
quản chờ xuất. Kho hàng cũng cần bố trí thiết bị bảo quản phẩm chất hàng theo hạn
định và có những phơng tiện xếp dỡ vận chuyển thuận tiện, nhanh chóng. Có thể nói,
để tăng khả năng xuất khẩu gạo của ta thì giải pháp về công nghệ đợc áp dụng và giải
quyết triệt để, đồng bộ ở tất cả các công đoạn, các khâu. Có nh thế mới làm tăng chất
lợng, phẩm cấp gạo, giảm chi phí phát sinh và dẫn đến giảm gái bán (giá xuất khẩu) từ
đó tăng sức cạnh tranh của mặt hàng gaọ xuất khẩu nớc ta trên thị trờng quốc tế.
gạo xuất khẩu của nớc ta. Bên cạnh việc luôn ổn định về an ninh lơng thực quốc gia.
Để làm tăng thêm tính hiệu quả của giải pháp thâm canh tăng vụ thì doanh
nghiệp có thể thực hiện hình thức mua lúa gạo đổi lấy phân bón cho nông dân hay hỗ
trợ, giúp đỡ nông dân khâu gặt hái, thu hoạch.
5. Trong khâu thu mua lúa gạo đầu vào để chế biến. Thì doanh nghiệp nên có
một phòng ban chuyên trách về kiểm tra chất lợng thóc, đây là công việc quan trọng
quyết định chất lợng gạo xuất khẩu. Thực hiện tốt khâu tuyển chọn sàng lọc thì doanh
nghiệp phải có đội ngũ cán bộ thực sự có chuyên môn, kỹ thuật về phân tích chất lợng
gạo cũng nh có kỹ năng kinh nghiệm trong việc giúp đỡ, tuyên truyền cho nông dân
kỹ thuật canh tác, gieo trồng, chăm sóc lúa.
6. Thời đại ngày nay là thời đại của thông tin phát triển rực rõ. Phơng tiện thông
tin đại chúng thực sự trở thành phơng tiện quảng cáo sản phẩm cho doanh nghiệp trên
toàn cầu. Doanh nghiệp có thể chào bán gạo trên các trang Website của mạng Internet
hay thực hiện ký kết bán gạo ngay trên mạng. Phơng pháp đợc sử dụng nh là hình thức
bán hàng, ký kết hợp đồng xuất khẩu gạo nhanh chóng và tơng đối hiệu quả. Tuy
nhiên, chi phí cho các chơng trình quảng cáo sản phẩm gạo trên mạng khá tốn kém,
doanh nghiệp hoàn toàn có thể truy cấp vào mạng miễn phí để giảm bớt chi phí giành
cho quảng cáo.
Bên cạnh đó hình thức giảm giá trong ngoại thơng đợc áp dụng khi khách hàng
mua với khối lợng lớn là bạn hàng truyền thống, hoặc khách hàng mua vì mục đích
cứu trợ nhân đạo.
Nói tóm lại khi áp dụng các giải pháp trên nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu
gạo của nớc ta thì doanh nghiệp xuất khâủ nên kết hợp các giải pháp một cách đồng
bộ, toàn diện. Cần đẩy mạnh nghiên cứu thị trờng tiêu thụ nhng đồng thời đầu t đổi
mới, cải tiến công nghệ chế biến và ứng dụng các giống lúa gạo mới, thâm canh tăng
vụ, xúc tiến quảng cáo và áp dụng các nghiệp vụ ngoại thơng trong đàm phán và ký
kết hợp đồng kinh doanh quốc tế cũng không thể bỏ qua. Bởi đó là những giải pháp cơ
bản, là các công cụ mạnh và thực sự hiệu quả trong đẩy mạnh xuất khẩu goạ của nớc
ta trong các năm tới một khi chúng ta vận dụng sáng tạo và giải quyết tốt các giải
pháp đặt ra.
tín chất lợng gạo trớc khách hàng.
Tuỳ từng điều kiện thị trờng của từng nớc, từng khu vực, từng châu lục mà chính
phủ ta nên có những hoạt động đối ứng.
- Đối với thị trờng Châu Âu và các nớc phát triển có hàng rào thuế quan, hạn
ngạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lợng, vệ sinh an toàn thực phẩm lớn, ngặt nghèo thì
nên tìm cách có các điều kiện u đãi mậu dịch.
- Đối với thị trờng Trung Quốc và các nớc đang tiến hành CNH, HĐH thì đàm
phán thơng mại nên tập trung vào thơng lợng nhằm cân bằng cán cân thơng mại.
- Đối với thị trờng các nớc ASEAN nên tập trung vào thơng lợng nhằm cân bàng
cán cân thơng mại.
- Đối với các nớc SNG, Đông Âu vấn đề là xử lý nợ tồn đọng vè nên tập trung vào
ký các hiệp định giữa các Chính phủ.
- Đối với các nớc mất an ninh lơng thực nên thông qua các tổ chức viện trợ nhân
đạo để xuất khâủ lơng thực.
Nh vậy vai trò điều hành của Nhà nớc nhằm đẩy mạnh thị trờng ngoài nớc về xuất
khẩu gạo là vấn đề rất rõ ràng, cụ thể.
Bên cạnh đó bình ổn thị trờng trong nớc cũng là vấn đề hết sức quan trọng mà
qua đó Nhà nớc phải làm sao bảo đảm đợc mức giá tiệu thụ lúa gạo có lợi cho nông
dân và nhà xuất khẩu không bị thua lỗ và không gây biến động thị trờng. Để thực hiện
điều này, Thứ trởng thơng mại Mai Văn Dâu nói rằng: Nhà nứoc phải sử dụng công cụ
tạm trữ lu thông. Khác với dự trữ quốc gia tạm trữ ở đây có thể mua vào, bán ra khi
cần thiết để điều tiết cung cầu. Vấn đề tạm trữ phải đợc thực hiện theo quy định
nghiêm ngặt đẻ tránh tình trạng các doanh nghiệp sử dụng tín dụng u đãi mua tạm trự
nh vốn lu động, khi có thị trờng tiêu thụ mới mua vào do sợ trách nhiệm nếu bị thua lỗ
khi giá biến động.
Về mặt hành chính, dự thảo cơ chế mới không nên đạt thêm những thủ tục hành
hính gây phiền hà cho dioanh nghiệp.
2. Cần xây dựng các điều kiện kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp
sản xuất và xuất gạo:
- Theo đề suất của Bộ thơng mại về một số điều kiện đối với danh nghiệp kinh
công ty hoạt động trong lĩnh vực Maketing làm nhiệm vụ t vấn về chất lợng,giá cả,hình
thức sản phẩm và thị trờng tiêu thụ cho doanh nghiệp xuất khẩu.
+Hạn chế ảnh hởng có tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp bằng cách cho
vay với lãi suất thấp để nông dân đầu t mua giống,phân bón.Đồng thời thu mua sản
phẩm trong thời kỳ thu hoạch giúp nông dân yên tâm sản xuât,tránh tình trạng đợc
mùa,mất giá.
3)Cần xây dựng một hệ thống kinh doanh xuất khẩu theo quy mô lớn,đa ph-
ơng thức.
Đây là giải pháp nhằm tạo nên một hệ thống kinh doanh có lợi thế nhờ quy
mô,linh động có khả năng tiếp cận thị trờng tốt,đồng thời phát huy đợc sức mạnh tổng
hợp của các doanh nghiệp.Vì thực tế hiện nay,các doanhnghiệp kinh doanh xuất khẩu
Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ, chi phí cho các hoạt động xuất khẩu th-
ờng cao,vợt quá khả năng tài chính của doanh nghiệp.Bên cạnh đó giữa cac doanh
nghiệp thiếu sự liên kết,hỗ trợ nhau trong các quy trình:thu mua sau thu hoạch,khâu
chế biến,bảo quản,tổ chức xuât khẩu Để khắc phục tình trạng trên cần tiến hành các
giải pháp:
+ Tạo điều kiện để mọi thành phần kinhtế tham gia xuất khẩu gạo (cả doanh
nghiệp Nhà nớc và doanh nhiệp có vốn đầu t nớc ngoài)
+ Tiếp tục tổ chức sắp xếp lại các doanh nhiệp Nhà nớc thúc đẩy quá trình hợp
tác, liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo mô hình công ty
cổ phần tạo nên chỉnh thể liên kết thống nhất từ khâu thu mua chế biến đến tổ chức
xuất khẩu, trong đó doanh nghiệp Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo.
+ Liên doanh liên kết để tranh thủ vốn, công ngnhệ của nớc ngoài. Tậ dụng thị tr-
ờng sẵn có của họ để bao tiêu các sản phẩm của ta. Hoặc phía đôi stác cung cấp cho ta
những loại giống mới nhất có năng suất, chất lợng cao.
4). Một số kiến nghị khác thích ứng với thị trờng:
+ Trên thực tế cung vợt quá cầu. Hơn nữa sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía nhiều n-
ớc xuất khẩu. Vì vậy ngành gạo ViệtNam phải chấp nhận Sống chung với điều kiện
giá thấp. Muốn vậy phải thực hiện các biện pháp để giảm giá thành sản xuất: đa ra các
biện pháp canh tác tiên tiến (nông trờng Sông Hậu), bỏ phụ thu đối với đầu vào (phân
lúa gạo ,tiêp nhận đơc giống lúa mới có năng suất chất , lợng cao, phù hợp với điều
kiện sinh thái nơc ta,nhập khẩu phân bón đồng thời khắc phục đợc tình trạng thiếu
ngoại tệ,tận dụng đợc lợi thế sẵn có của mình.
9)Một vấn đề nữa đợc nêu ra ở đây là các doanh nghiệp sản xuất và chế biến
lúa gao cũng nh các doanh nghiệp thơng mại cần tổ chức việc giám sát nghiêm ngặt từ
khâu chọn lựa thóc, khâu chế biến, kiểm tra chất lợng sản phẩm. Tiêu chuẩn kỹ thuật,
vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay là rào cản lớn đối với các sản phẩm xuất khẩu ra thị