Lời nói đầu
Mỗi môn khoa học ra đời đều có những hoàn cảnh và điều kiện nhất định với mục tiêu
nhằm giải quyết các khó khăn tồn tại. Mở rộng hơn nữa, sự ra đời của bất kì một môn khoa học
nào cũng có ý nghĩa thúc đẩy xã hội phát triển với một nhịp độ mới. Để thực sự đợc coi là một
môn khoa học độc lập, điều cần thiết nhất là nó phải có đối tợng nghiên cứu riêng và phơng
pháp nghiên cứu riêng. Xét trên góc độ này, hạch toán kế toán đã đợc coi nh một môn khoa học
độc lập với đối tợng nghiên cứu là tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động
của đơn vị. Hệ thống phơng pháp nghiên cứu của hạch toán kế toán gồm:
- Phơng pháp chứng từ kế toán
- Phơng pháp tài khoản kế toán
- Phơng pháp tính giá
- Phơng pháp tổng hợp cân đối kế toán
Bên cạnh việc nghiên cứu bản chất, đối tợng nh một điều tất yếu từ xa đến nay của bất kì
môn khoa học nào, không thể phủ nhận việc nghiên cứu các phơng pháp đợc sử dụng để phục
vụ cho công tác hạch toán vì suy cho cùng, nếu mục tiêu là cái đích cần đi tới thì phơng pháp là
con đờng dẫn tới cái đích đó. Mục tiêu đề ra đợc hoàn thành tốt nhất khi và chỉ khi phơng pháp
đã sử dụng là phơng pháp tối u nhất. Thông thờng, các phơng pháp đợc sử dụng trong mối quan
hệ mật thiết, không tách rời riêng rẽ. Mỗi phơng pháp xử lí trên một góc độ để đem lại một kết
quả cao nhất, chính xác và toàn diện nhất nhằm phục vụ cho quá trình quản lí và chỉ đạo trong
đơn vị. Nằm trong chỉnh thể đó, mỗi phơng pháp đều có một tầm quan trọng nhất định. Trong
phạm vi bài viết này, em không có tham vọng giải quyết đợc tất cả các vấn đề mà chỉ đa ra một
số hiểu biết xung quanh vấn đề tính giá.
Nằm trong hệ thống phơng pháp kế toán, phơng pháp tính giá có nhiệm vụ tính toán và
xử lí các số liệu về tình hình tài sản và sự biến động của tài sản trong quá trình hoạt động của
đơn vị. Đây là một phơng pháp cho phép kế toán có thể tính toán chính xác trị giá thực tế của
tài sản trong đơn vị và có thể đánh giá một cách chính xác nhất hiệu quả hoạt động của đơn vị,
từ đó cung cấp các thông tin phục vụ cho quá trình quản lí và chỉ đạo hoạt động trong đơn vị
một cách có hiệu quả nhất.
Đất nớc ta đang trong quá trình đổi mới. Việc hạch toán độc lập tại các đơn vị hiện nay
đang là một nguyên tắc bắt buộc. Hoàn thiện hơn các phơng pháp hạch toán nói chung và ph-
ơng pháp tính giá nói riêng là một nhu cầu cần thiết để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển không
tính giá dẫn đến những thiệt hại to lớn. Điều đó đòi hỏi phải nhìn nhận, đánh giá, khẳng
định, sửa đổi những chỗ cha hợp lý quanh vấn đề tính giá.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, phơng pháp tính giá lại
càng khẳng định đợc tầm quan trọng của nó.
2
Nhờ có phơng pháp tính giá mà kế toán có thể tính toán, xác định đợc trị giá thực
tế của các loại tài sản có trong đơn vị, giúp đơn vị tổng hợp đợc toàn bộ tài sản của đơn
vị. Vai trò này tạo cơ sở để đơn vị có những quyết định đúng đắn, có các biện pháp hiệu
quả nhằm giúp cho công tác quản lý, chỉ đạo của đơn vị đợc tốt nhất.
Nhờ có phơng pháp tính giá, kế toán có thể giám sát đợc những hoạt động và
những chi phí đơn vị đã chi ra để tạo nên tài sản của đơn vị, giúp đơn vị quản lý có hiệu
quả các chi phí đã bỏ ra.
1.1.2. Nội dung phơng pháp tính giá
Xuất phát từ mục đích của hạch toán kế toán là môn khoa học thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin về tài sản và tình hình vận động của chúng trong quá trình hoạt động
của đơn vị. Nói đến hạch toán kế toán không thể tách rời hai đặc trng cơ bản nhất là
thông tin và kiểm tra. Trong khi đó, tài sản trong đơn vị có nhiều loại khác nhau. Mỗi
loại tài sản lại có hình thái vật chất khác nhau. Trong quá trình hoạt động của đơn vị,
mỗi loại tài sản lại có sự biến động , thay đổi về phạm vi, qui mô, chuyển hoá về hình
thái. Để có đợc các thông tin dó một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác, hạch toán kế
toán sử dụng đồng thời các loại thớc đo mà u việt hơn cả là thớc đo tiền tệ. Nhờ có thớc
đo này, kế toán có thể tính toán, tổng hợp đợc trị giá của toàn bộ tài sản trong đơn vị
cũng nh trị giá của từng loại tài sản hình thành trong quá trình hoạt động của đơn vị.
Một trong những đặc trng tiêu biểu nhất của phơng pháp tính giá để phân biệt với
các phơng pháp khác trong hạch toán kế toán là sự nổi trội trong việc sử dụng thớc đo
tiền tệ. Có thể nói, phơng pháp tính giá là phơng pháp kế toán sử dụng thớc đo tiền tệ để
xác định trị giá thực tế của tài sản theo những nguyên tắc nhất định.
Nội dung của phơng pháp tính giá đợc thể hiện cụ thể qua hình thức biểu hiện của
nó là sổ ( bảng ) tính giá và trình tự tính giá.
Sổ tính giá là những tờ sổ (bảng) đợc sử dụng để tổng hợp chi phí cấu thành giá
tồn tại dới hình thức nào chăng nữa khi trở thành đối tợng tính giá đều đợc qui về dới
hình thức giá trị.
Mặt khác, phơng pháp tính giá giúp các đơn vị tiến hành tính giá tài sản một cách
thống nhất, theo một trình tự khoa học. Đặc điểm này có đợc do việc xác định trị giá
thực tế của tài sản phải đảm bảo tuân theo những nguyên tắc, những bớc nhất định.
Những nguyên tắc, những bớc khi tính giá đó bản thân nó đã mang tính hệ thống, khoa
học.
Chúng ta có thể khẳng định, một phơng pháp dựa trên những cơ sở khoa học nhất
định, có đơn vị tính hết sức khoa học, có những yêu cầu, nguyên tắc, trình tự cụ thể rõ
ràng thì tất yếu phơng pháp ấy phải mang tính khoa học cao. Chính điều này giúp cho
phơng pháp tính giá ngày càng giữ vững vị trí của mình và phát huy vai trò to lớn của nó
trong hệ thống các phơng pháp hạch toán kế toán.
4
1.2.Yêu cầu và nguyên tắc tính giá tài sản
1.2.1. Yêu cầu
Một trong những ý nghĩa hàng đầu của phơng pháp tính giá là giúp doanh nghiệp
có thể giám sát đợc những hoạt động và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để hình thành
nên tài sản của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp quản lý có hiệu quả các chi phí đã bỏ
ra. Trên cơ sở các số liệu kế toán tổng hợp và chi tiết đợc tính toán, doanh nghiệp sẽ đa
ra các kết luận về tình hình chung của doanh nghiệp, từ đó đa ra các biện pháp quản lý
đúng đắn. Để doanh nghiệp có thể đa ra các biện pháp chính xác, một yêu cầu hàng đầu
của phơng pháp tính giá là phải đảm bảo yêu cầu chân thực. Thông tin là nguyên liệu chủ
yếu của nhà quản lý. Thông tin quyết định chất lợng, hiệu quả quản lý vì quản lý thực
chất là quá trình xử lý thông tin. Do đó, để đảm bảo thực hiện tốt vai trò của mình, yêu
cầu không thể thiếu đợc của phơng pháp này là tính chân thực. Toàn bộ chi phí thực tế
đơn vị đã chi ra để hình thành nên tài sản của đơn vị phải đợc kế toán ghi chép đầy đủ,
tính toán chính xác theo từng loại tài sản tạo nên.
Mặt khác, tài sản trong đơn vị có nhiều loại khác nhau. Mỗi loại tài sản lại có
hình thái vật chất khác nhau. Trong quá trình hoạt động của đơn vị, mỗi loại tài sản đều
có sự biến động, thay đổi về phạm vi, qui mô và chuyển hoá về hình thái (hình thái ban
tiếp để sản xuất một loại sản phẩm ) thì đợc tổng hợp trực tiếp cho từng loại tài sản.
Ví dụ:
Trong tháng 5/2001, tại doanh nghiệp X có phát sinh các nghiệp vụ sau:
- Mua hàng hoá A cha trả tiền cho ngời bán. Số tiền : 15.000.000đ, VAT 10%
- Chi phí vận chuyển, bốc dỡ đã trả cho đơn vị vận tải. Số tiền :100.000đ. VAT
10%
- Nhập kho số hàng hoá trên.
-> Trị giá hàng hoá A trong tháng 6/2001:
15.000.000 + 100.000 = 15.100.000đ
Đối với các chi phí phát sinh là chi phí tổng hợp hoặc chi phí đơn nhất có liên
quan đến nhiều đối tợng tính giá ( chi phí sản xuất chung, chi phí vận chuyển, bốc dỡ đ-
ợc chi chung cho một số loại nguyên vật liệu, hàng hoá ) sẽ đợc tổng hợp gián tiếp bằng
cách tính toán, phân bổ các khoản chi phí này cho từng loại tài sản theo tiêu thức thích
hợp. Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ thích hợp có ý nghĩa quan trọng để tổng hợp, tính
toán chính xác chi phí cho từng loại tài sản. Việc phân bổ đó đợc tiến hành theo công
thức:
Tổng chi phí cần phân bổ Số đơn vị
Chi phí cho các loại tài sản tiêu thức
tính cho = x phân bổ
tài sản cụ thể Tổng số đơn vị tiêu thức phân bổ thuộc tài sản
thuộc loại tài sản liên quan cụ thể
6
Những đối tợng tính giá chỉ gồm các chi phí đơn nhất thì tổng cộng các chi phí
đơn nhất phát sinh cho đối tợng tính giá đó là tổng chi phí thực tế phát sinh trong kỳ cấu
thành giá của tài sản đó.
Những đối tợng tính giá bao gồm cả chi phí đơn nhất và chi phí chung thì tiến
hành tổng cộng chi phí đơn nhất và chi phí chung phân bổ cho đối tợng tính giá đó sẽ đ-
ợc tổng chi phí thực tế phát sinh trong kỳ cấu thành nên giá của tài sản đó.
Ví dụ:
Trong tháng 2/2001. Tại doanh nghiệp A có phát sinh các nghiệp vụ kinh tế sau:
Trong trờng hợp này, tính đúng đắn, chính xác của giá tài sản đợc tính không những phụ
thuộc vào tính đúng đắn, chính xác của việc tổng hợp chi phí cấu thành giá của tài sản thực hiện
ở bớc 1 mà còn phụ thuộc vào phơng pháp phân chia chi phí thành 2 bộ phận chi phí : chi phí
dở dang và giá của tài sản. Chi phí dở dang là chi phí tính cho tài sản đang hình thành. Chi phí
tính cho tài sản đã hình thành gọi là giá của tài sản.
1.2.3. Nguyên tắc tính giá qui định cụ thể cho các loại tài sản
Trên đây là nguyên tắc và trình tự tính giá chung đợc áp dụng trong tính giá cho các tài
sản ở đơn vị. Nhng do tài sản ở đơn vị gồm có nhiều loại, đợc hình thành từ nhiều nguồn khác
nhau. Mỗi loại tài sản lại có các đặc điểm khác nhau. Chi phí thực tế cấu thành nên giá của tài
sản cũng không giống nhau nên Nhà nớc cũng đã có những qui định cụ thể đối với các loại tài
sản cụ thể nhằm làm cho quá trình tính giá vừa tuân thủ nghiêm ngặt những qui định chung, vừa
đảm bảo tính chính xác, đảm bảo phù hợp với những đặc điểm riêng của đối tợng tính giá.
1.2.3.1. Đối với tài sản cố định đang sử dụng
Tài sản cố định là những t liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. Khi tham
gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của nó đợc
chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh. Tài sản cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh
doanh và giữ nguyên hình thái ban đầu cho đến lúc h hỏng.
Tài sản cố định dợc chia làm 3 loại:
Tài sản cố định hữu hình là những t liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể, có đủ tiêu
chuẩn giá trị và thời gian theo chế độ qui định. Hiện nay, ở Việt Nam, tài sản cố định hữu hình
phải có giá trị 5 triệu, thời gian sử dụng 1năm.
Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, phản ánh
một lợng giá trị mà đơn vị đã thực sự đầu t. Hiện nay ở Việt Nam, Nhà nớc qui định các khoản
chi phí thực tế mà đơn vị đã chi ra liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị có giá trị 5
triệu và thời gian sử dụng từ một năm trở lên mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì
đợc coi là tài sản cố định vô hình bao gồm: chi phí thành lập doanh nghiệp, bằng phát minh
sáng chế, quyền sử dụng đất, lợi thế thơng mại, bản quyền tác giả, quyền đặc nhợng
Tài sản cố định thuê tài chính : là các tài sản cố định mà doanh nghiệp đi thuê nhng
doanh nghiệp có quyền kiểm soát và sử dụng lâu dài theo các điều khoản của hợp đồng thuê.
8
mới trớc khi dùng (phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, thuế trớc bạ, chi phí sửa chữa, tân
trang trớc khi dùng trừ đi các khoản chiết khấu, giảm giá mua hàng (nếu có).
- TSCĐ do bộ phận XDCB tự làm bàn giao : nguyên giá là giá thực tế của công trình xây
dựng cùng với các khoản chi phí khác có liên quan và thuế trớc bạ (nếu có).
9
- TSCĐ do bên nhận thầu (bên B) bàn giao : nguyên giá là giá phải trả cho bên B cộng
với các khoản phí tổn mới trớc khi dùng (chạy thử, thuế trớc bạ ) trừ đi các khoản giảm giá,
chiết khấu (nếu có).
- TSCĐ đợc cấp, chuyển đến :
+ Nếu là đơn vị hạch toán độc lập: Nguyên giá bao gồm giá trị còn lại ghi sổ ở đơn vị
cấp (hoặc giá trị đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận) cộng với các phí tổn mới trớc khi
dùng mà bên nhận phải chi ra (vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử )
+ Nếu điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc: nguyên giá, giá trị
còn lại và số khấu hao luỹ kế đợc ghi theo sổ của đơn vị cấp. Các phí tổn mới trớc khi dùng đợc
phản ánh trực tiếp vào chi phí kinh doanh mà không tính vào nguyên giá TSCĐ.
- TSCĐ nhận góp vốn liên doanh, nhận tặng thởng, viện trợ, nhận lại vốn góp liên
doanh : nguyên giá tính theo giá trị đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận cùng các phí tổn
mới trớc khi dùng (nếu có).
* Nguyên giá TSCĐ vô hình: là các chi phí thực tế phải trả khi thực hiện nh phí tổn thành
lập, chi phí cho công tác nghiên cứu.
* Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính: có thể tính bằng cách:
Giá trị hiện tại của số tiền thuê:
FV
PV =
(1 + r )
t
PV: giá trị hiện tại của tiền thuê
FV: lợng tiền phải trả ở một thời điểm trong tơng lai (tổng số tiền thuê TSCĐ phải trả)
r: tỉ lệ lãi
t : số kỳ thuê.
của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phơng pháp sau một cách nhất quán trong hạch
toán, nếu có thay đổi phải giải thích rõ ràng.
* Đối với các loại vật t: do các loại vật t không phản ánh tách bạch trị giá mua và chi phí
thu mua theo từng loại vật t nên khi nhập hàng thờng phải tính giá hàng nhập kho theo trị giá
vốn thực tế bằng cách lấy chi phí thu mua phân bổ cho các loại vật t nhập kho. Vì vậy khi tính
trị giá xuất kho sẽ tính theo trị giá vốn thực tế.
* Đối với hàng hoá:
Khi nhập kho, kế toán ghi theo trị giá mua thực tế của từng lần nhập hàng, số tiền chi phí
trong quá trình mua hàng đợc hạch toán riêng để cuối tháng phân bổ cho hàng xuất kho nhằm
xác định đợc trị giá vốn hàng xuất kho. Vì vậy mỗi lần nhập hàng theo từng nguồn nhập khác
nhau có giá mua khác nhau nên khi xuất kho kế toán phải tính trị giá mua thực tế của hàng xuất
kho theo phơng pháp đã đăng ký áp dụng:
+ Tính theo đơn giá mua thực tế tồn đầu kỳ:
Theo phơng pháp này trị giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho đợc tính bằng công thức:
Trị giá Số lợng Đơn giá mua
11
hàng hoá = hàng hoá x thực tế hàng hoá
xuất kho xuất kho tồn đầu kỳ
+ Tính theo đơn giá bình quân của hàng luân chuyển trong kỳ:
Theo phơng pháp này trớc hết phải tính đơn giá bình quâncủa hàng luân chuyển trong kỳ
theo công thức:
Trị giá mua thực tế + Trị giá mua thực tế
Đơn giá của hàng tồn đầu kỳ của hàng nhập trong kì
bình =
quân Số lợng hàng + Số lợng hàng
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
Sau đó tính trị giá mua thực tế của hàng xuất kho bằng cách lấy số lợng hàng hoá xuất
kho nhân đơn giá bình quân của hàng luân chuyển trong kỳ.
+Tính theo phơng pháp nhập trớc xuất trớc: Theo phơng pháp này, giả thiết số hàng nào
nhập kho trớc thì xuất kho trớc và trị giá mua thực tế của số hàng đó để tính.
Trị giá thực tế của hàng + Trị giá thực tế của hàng
còn đầu kỳ nhập trong kỳ
H =
Trị giá hạch toán của + Trị giá hạch toán của
hàng còn đầu kì hàng nhập trong kỳ
Sau đó tính ra trị giá thực tế của hàng xuất trong kỳ:
Trị giá thực tế Trị giá hạch toán Hệ số giữa giá thực tế và
của hàng xuất = của hàng xuất x giá hạch toán của hàng
trong kỳ trong kỳ luân chuyển trong kỳ
1.2.3.3. Đối với công cụ, dụng cụ, hàng hoá
Công cụ, dụng cụ là những t liệu lao động không đủ tiêu chuẩn qui định để xếp vào tài
sản cố định nhng nó cũng mang đầy đủ đặc điểm nh tài sản cố định. Theo qui định của Nhà nớc
ta, những t liệu lao động sau không phân biệt giá trị và thời gian sử dụng vẫn đợc coi là công cụ
dụng cụ: các loại bao bì dùng chứa nguyên vật liệu, hàng hoá trong quá trình thu mua, bảo
quản, bán sản phẩm; những dụng cụ, đồ nghề bằng thuỷ tinh, sành sứ; các loại bao bì bán kèm
theo hàng hoá có tính giá riêng nhng vẫn tính giá trị hao mòn để trừ dần vào giá trị bao bì trong
quá trình dự trữ; các công cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất; các lán trại tạm thời, giàn giáo.
Hàng hoá là những thứ mua vào để tiếp tục bán ra không phải qua quá trình chế biến.
Nguyên tắc tính giá:
Khi tiến hành tính giá công cụ, dụng cụ,hàng hoá nhập kho, xuất kho thì cũng tuân theo
những nguyên tắc cụ thể nh đối với nguyên vật liệu. Riêng đối với công cụ, dụng cụ khi xuất
kho cần lu ý một số điểm sau:
13
- Trờng hợp xuất dùng với giá trị nhỏ, số lợng không nhiều với mục đích thay thế, bổ
sung một phần công cụ, dụng cụ cho sản xuất thì toàn bộ giá trị xuất dùng tính vào chi phí
trong kì.
- Trờng hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ có giá trị tơng đối lớn thì phải tiến hành phân bổ
2 lần (phân bổ 50%)để tránh tình trạng chi phí kinh doanh tăng lên đột biến.
- Trờng hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ với qui mô lớn, giá trị cao với mục đích thay
thế, trang bị mới hàng loạt có tác dụng phục vụ cho nhiều kỳ thì toàn bộ giá trị xuất dùng đợc
nghệ giản đơn, số lợng mặt hàng ít, sản xuất với khối lợng lớn, tập hợp chi phí sản xuất theo
từng loại sản phẩm. Giá thành đơn vị từng loại sản phẩm đợc tính nh sau:
Giá trị + Chi phí - Giá trị
Z SPDD đầu kỳ phát sinh trong kỳ SPDD cuối kỳ
đơn vị =
sản phẩm Số lợng sản phẩm
- Phơng pháp tổng cộng chi phí: thờng đợc áp dụng trong các doanh nghiệp mà quá trình
sản xuất sản phẩm đợc thực hiện ở nhiều bộ phận, nhiều giai đoạn, công nghệ khác nhau. Đối t-
ợng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc các giai đoạn công nghệ hay
bộ phận sản xuất. Giá thành sản phẩm đợc tính bằng cách tổng cộng chi phí sản xuất của các
giai đoạn, bộ phận sản xuất hay chi tiết, bộ phận của sản phẩm theo công thức:
Zsp = SPDD đầu kì + C1 + C2 + + Cn - SPDD cuối kì
Trong đó: C1, C2 Cn là chi phí sản xuất của các chi tiết, bộ phận sản xuất hoặc các giai
đoạn công nghệ, bộ phận sản xuất.
- Phơng pháp hệ số : thờng đợc áp dụng trong các doanh nghiệp mà trong cùng một quá
trình sản xuất nhng thu dợc nhiều loại sản phẩm khác nhau, đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
theo nhóm sản phẩm nh xí nghiệp hoá dầu, giá thành các loại sản phẩm khác nhau đợc tính trên
cơ sở hệ số qui đổi các loại sản phẩm khác nhau vế sản phẩm chuẩn theo công thức :
Z Tổng Z các loại sản phẩm
đơn vị =
SP chuẩn Số lợng SP chuẩn
Số lợng SP chuẩn + qui đổi từ những
SP khác
Z đơn vị Z đơn vị Hệ số qui đổi
sản phẩm = sản phẩm x sản phẩm
từng loại chuẩn từng loại
- Phơng pháp tỉ lệ: thờng đợc áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản
phẩm có qui cách, phẩm chất khác nhau nh xí nghiệp dệt, đóng giầy Đối tợng tập hợp chi phí
theo nhóm sản phẩm cùng loại. Giá thành sản xuất thực tế có qui cách phẩm chất khác nhau đợc
tính theo tỉ lệ với giá thành định mức hoặc giá thành kế hoạch của nó trong tổng giá thành định
- Phơng pháp giản đơn.
- Phơng pháp liên hợp.
+ Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng: Đối với loại doanh nghiệp này, kế toán tiến
hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng. Đối với từng loại sản phẩm ở từng đơn
đặt hàng mà ngời ta có phơng pháp tính giá thành sản xuất thực tế khác nhau. Một số phơng
pháp thờng đợc sử dụng:
- Phơng pháp giản đơn.
16
- Phơng pháp hệ số
- Phơng pháp tổng cộng chi phí.
- Phơng pháp liên hợp.
+ Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức:
Giá thành Giá thành Chênh lệch Chênh lệch
thực tế = định mức + do thay đổi + so với
sản phẩm sản phẩm định mức định mức
+ Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục: Đối với loại doanh nghiệp
này, chi phí phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ đợc tập hợp cho giai đoạn đó, còn chi phí sản xuất
chung sẽ đợc phân bổ cho các bớc theo tiêu thức phù hợp.
+ Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ:
- Trờng hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ
hoặc giá trị phục vụ không đáng kể thì chi phí sản xuất đợc tập hợp riêng theo từng bộ phận
hoạt động.
- Trờng hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ
thì giá thành sản xuất thực tế đợc tính theo phơng pháp đại số, phơng pháp phân bổ lẫn nhau
theo giá thành ban đầu, phơng pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch.
* Thành phẩm xuất kho cũng phải tính theo giá thành sản xuất thực tế và cũng phải áp
dụng phơng pháp tính nh tính giá nguyên, vật liệu, hàng hoá xuất kho. Tuy nhiên, do việc tính
giá thành thực tế thành phẩm nhập kho thờng diễn ra cuối kì nên giá đợc sử dụng trong hạch
toán là giá hạch toán (có thể là giá kế hoạch hoặc giá nhập kho thống nhất qui định). Do vậy,
cuối tháng cần điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế sau khi tính giá thành thành phẩm nhập
ợc nhu cầu về vật t, hàng hoá phục vụ cho quá trình hoạt động của đơn vị, đồng thời tăng nhanh
vòng quay vốn lu động.
- Tổng hợp đúng đắn, đầy đủ, chính xác và kịp thời các khoản chi phí cấu thành giá của
vật t, hàng hóa mua vào, tính toán đúng đắn và chính xác, kịp thời trị giá thực tế của từng loại
vật t, hàng hoá mua nhập kho, cung cấp tài liệu phục vụ tình hình kiểm tra thực hiện kế hoạch
mua hàng phục vụ tính toán trị giá thực tế của vật t, hàng hoá xuất kho.
Sử dụng phơng pháp tính giá để tổng hợp các khoản chi phí chi ra trong quá trình mua
hàng và tính toán, xác định trị giá thực tế của từng loại vật t, hàng hoá mua nhập kho. Việc tổng
18
hợp các khoản chi phí, tính toán, xác định trị giá thực tế của từng loại vật t, hàng hoá mua nhập
kho đợc thực hiện trên các sổ (bảng) tính giá (sổ chi tiết mua hàng).
2.1.3. Vận dụng để tính giá hàng mua
2.1.3.1.Nếu đơn vị chỉ mua một loại vật t, hàng hoá
Bớc 1 :
- Xác định đối tợng tính giá là một loại vật t, hàng hoá mua về.
- Chi phí cấu thành giá hàng mua gồm:
+ Chi phí mua vật t, hàng hoá.
+ Chi phí vận chuyển, bốc dỡ.
+ Thuế phải nộp cho số hàng đã mua (nếu có).
Giá mua từng loại hàng hoá, chi phí vận chuyển, bốc dỡ hàng mua về chỉ liên quan đến
một mặt hàng duy nhất , thuế phải nộp (nếu có) về lợng hàng hoá mua về cũng nh các khoản chi
phí trên đều là chi phí đơn nhất nên đợc tổng hợp trực tiếp theo loại hàng mua. Tổng các chi phí
đơn nhất phát sinh của đối tợng tính giá là tổng chi phí thực tế phát sinh trong kì cấu thành nên
giá của tài sản đó.
Bớc 2:
Vì quá trình mua hàng thờng diễn ra dứt điểm ngay trong một thời kì nên không có chi
phí dở dang. Vì vậy, giá của hàng mua về chính là tổng cộng các chi phí phát sinh đã tổng hợp
ở bớc 1.
Ví dụ:
Tại đơn vị X tháng 3.2001 có phát sinh các nghiệp vụ sau:
Tổng chi phí thực tế phát sinh trong kỳ cấu thành nên giá của tài sản là tổng cộng các chi phí
đơn nhất và chi phí chung phân bổ cho đối tợng tính giá cụ thể.
Bớc 2:
Thông thờng, quá trình mua hàng thờng diễn ra dứt điểm ngay trong một thời gian nhất định
nên trị giá thực tế của tài sản hình thành chính là tổng chi phí đã tổng hợp đợc ở bớc 1 của tài
sản đó.
Ví dụ:
Trong tháng 6.1999, đơn vị X có mua 2 loại vật liệu về phục vụ cho quá trình sản xuất:
+ Vật liệu A : Số lợng : 200 tấn ; số tiền : 200.000.000đ
+ Vật liệu B : Số lợng : 300 tấn ; số tiền : 600.000.000đ
Chi phí vận chuyển, bốc dỡ cho cả 2 loại vật liệu này là : 5.000.000đ
Tính trị giá thực tế các loại vật liệu nhập kho.
- Bớc 1:
+ Đối tợng tính giá :
-Vật liệu A
-Vật liệu B
+ Chi phí cấu thành trị giá thực tế của vật liệu A:
- Giá mua : 200.000.000đ
20
- Chi phí vận chuyển, bốc dỡ vật liệu A (Phân bổ theo tiêu thức số lợng) :
5.000.000
x 200 = 2.000.000đ
200 + 300
-Tổng chi phí thực tế phát sinh trong kỳ cấu thành nên giá trị thực tế của vật liệu A là tổng
cộng giá mua và chi phí vận chuyển, bốc dỡ phân bổ cho vật liệu A:
200.000.000 + 2.000.000 = 202.000.000đ
+Chi phí thực tế cấu thành trị giá thực tế của vật liệu B
-Giá mua vật liệu B: 600.000.000đ
-Chi phí vận chuyển, bốc dỡ phân bổ cho vật liệu B :
những nhiệm vụ cụ thể của hạch toán kế toán quá trình sản xuất. Cụ thể:
- Phản ánh, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm về chủng
loại, số lợng, chất lợng, đảm bảo sản phẩm hữu ích đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Tính toán, tổng hợp đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản chi phí chi ra trong sản xuất,
phục vụ cho việc tính giá thành sản xuất của sản phẩm, thực hiện kiểm tra việc chấp hành các
định mức chi phí và các dự toán chi phí, đề xuất các giải pháp góp phần tiết kiệm các chi phí
trong sản xuất, nâng cao hiệu quả của chi phí.
- Tính toán, xác định đúng đắn, chính xác, kịp thời giá thành sản xuất của sản phẩm
hoàn thành, thực hiện kiểm tra việc chấp hành kế hoạch giá thành sản phẩm, đề xuất các giải
pháp nhằm không ngừng hạ thấp giá thành sản xuất của sản phẩm, góp phần tăng doanh lợi của
đơn vị.
Việc tính toán, tổng hợp các khoản chi phí sản xuất, tính toán, xác định giá thành sản
xuất của sản phẩm hoàn thành đợc tiến hành theo đúng trình tự tài sản, theo những phơng pháp
kỹ thuật tính toán khoa học, đợc xây dựng phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm, trình độ và yêu cầu quản lý chi phí, quản lý giá thành đơn vị.
2.2.3. Vận dụng để hạch toán quá trình sản xuất
2.2.3.1 Đối với trờng hợp sản xuất đơn chiếc, sản xuất theo đơn đặt hàng:
Bớc 1:
- Xác định đối tợng tập chi phí là loại sản phẩm đợc sản xuất đơn chiếc hoặc từng đơn
đặt hàng. Đối tợng tính giá thành sản phẩm sản xuất đơn chiếc hoặc sản phẩm của mỗi đơn đặt
hàng.
- Chi phí đợc tập hợp trong các doanh nghiệp này là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đ-
ợc tập hợp theo từng loại sản phẩm sản xuất đơn chiếc hoặc của đơn đặt hàng, không kể số lợng
sản phẩm còn hay ít, qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm giản đơn hay phức tạp.
Chi phí cấu thành nên giá sản phẩm sản xuất ra là chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Do là sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất theo một đơn đặt hàng nên toàn bộ các chi phí đ-
ợc tổng hợp trực tiếp cho đơn đặt hàng đó.
22
Đối với sản xuất theo đơn đặt hàng hoặc sản xuất đơn chiếc, việc tính giá thành trong các
+ Đối với chi phí nguyên liêu vật liệu, chi phí nhân công, sản xuất chung liên quan đến
nhiều hơn đặt hàng sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp (giờ
công sản xuất, nhân công trực tiếp ).
Bớc 2:
23
- Nếu các đơn đặt hàng đều hoàn thành dứt điểm trong một kỳ thì tổng giá thành của
đơn đặt hàng đó chính là tổng chi phí sản xuất đã đợc tập hợp theo đơn đặt hàng đó ở bớc 1.
- Những đơn đặt hàng cha hoàn thành vào thời điểm cuối kỳ thì toàn bộ các chi phí sản
xuất đã đợc tập hợp theo đơn đặt hàng đó đợc coi là giá trị của những sản phẩm dở dang cuối
kỳ, chuyển sang kỳ sau.
Ví dụ 1:
Trong tháng 6.1999, doanh nghiệp X nhận và hoàn thành 2 đơn đặt hàng số 5 và số 6:
Chi phí sản xuất tập hợp đợc trong kì:
- Chi phí nguyên liệu trực tiếp đối với đơn đặt hàng số 5 là: 250.000.000đ, đơn đặt hàng
số 6: 380.000.000đ.
- Chi phí nhân công trực tiếp để hoàn thành đơn đặt hàng số 5 là 100.000.000đ, số 6 là
100.000.000đ.
- Chi phí chung cho để hoàn thành cả 2 đơn đặt hàng là: 36.000.000đ
Tính giá thành sản phẩm đơn đặt hàng số 5 và số 6 biết rằng chi phí sản xuất chung đợc
phân bổ theo tỷ lệ chi phí nhân công trực tiếp.
Bớc 1:
- Xác định đối tợng tập hợp chi phí là đơn đặt hàng số 5 và số 6
- Xác định đối tợng tính giá là sản phẩm của đơn đặt hàng số 5 và số 6
- Chi phí sản xuất cấu thành giá sản phẩm sản xuất ra của đơn đặt hàng số 5 đợc tính
tổng hợp trực tiếp.
+ Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp: 250.000.000đ
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 100.000.000đ
Phân bổ chi phí sản xuất chung cho đơn đặt hàng số 5:
000.000.18000.000.100x
000.000.200
- Các chi phí đợc tổng hợp trực tiếp cho đơn đặt hàng số 1:
+ Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp: 20.000.000đ
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 40.000.000đ
Phân bổ chi phí sản xuất chung cho đơn đặt hàng số 1:
15.000.000
x 40.000.000 = 10.000.000đ
60.000.000
Tổng chi phí sản xuất tập hợp cho đơn đặt hàng số 1:
20.000.000 + 40.000.000 + 10.000.000 = 70.000.000đ
Đối với đơn đặt hàng số 2: tập hợp các chi phí phát sinh:
Chi phí sản xuất chung phân bổ:
15.000.000 10.000.000 = 5.000.000đ
Chi phí sản xuất đã tập hợp đợc cho đơn đặt hàng số 2:
10.000.000 + 20.000.000 + 5.000.000 = 35.000.000đ
Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ là những chi phí đã chi cho đơn đặt hàng số 2 là :
35.000.000đ.
Bớc 2: Xác định giá thành của đơn đặt hàng số 1:
Vì đơn đặt hàng số 1 hoàn tất trong kì nên tổng chi phí phát sinh trong kì để thực hiện
đơn đặt hàng số 1 cũng chính là giá thành của đơn đặt hàng số 1 và bằng 70.000.000đ.
25