tại sao nước ta phải mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại - Pdf 10

Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
Phần I- Mở đầu
Kinh tế đối ngoại - một bộ phận cực kỳ quan trọng và chủ đạo của nền
kinh tế quốc dân. Kinh tế đối ngoại là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời: d-
ới chế độ chiếm hữu nộ lệ, và tiếp đó là chế độ phong kiến. Trong các xã
hội nộ lệ và phong kiến do kinh tế tự nhiên còn chiếm địa vị thống trị nền
kinh tế đối ngoại chỉ phát triển với qui mô nhỏ bé. kinh tế đối ngoại chỉ
thực sự phát triển trong thời đại TBCN. Ngày nay sản xuất đã đợc quốc tế
hoá, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lại
không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hoá với
bên ngoài.
Và Việt Nam cũng thế, sau khi dành độc lập, đặc biệt công cuộc đổi
mới, mở cửa nền kinh tế đợc Đảng cộng sản Việt Nam khởi xớng từ hội
nghị trung ơng lần thứ 6 (khoá IV) họp cuối năm 1986 và đợc phát triển qua
các kì đại hội lần thứ 8, 9. Từ đó đến nay nớc ta thật sự có những biến đổi
sâu sắc. Kinh tế đối ngoại nớc ta hiện đã bớc sang một gia đoạn mới chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế. Nớc ta đã học hỏi và tích luỹ đợc nhiều kinh
nghiệm của các quốc gia đi trớc, đã đạt đợc những thành tựu đáng kể trên
lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đã có đợc những nền tảng bớc đầu để thể gia
tăng hội nhập kinh tế quốc tế trong gia đoạn mới. Đồng thời những điều
kiện quốc tế đã thay đổi, các quốc gia trong khu vực đã tiên xa so với chúng
ta trên con đờng hội nhập quốc tế và đang đặt ra những thách thức luật
pháp. Trong bối cảnh đó, chúng ta phải nhận thức rõ thực trạng kinh tế đối
ngoại cửa nớc ta. Do thấy đợc tầm quan trọng của vấn đề này nên em đã
chọn đề tài: Thực trạng và giải pháp cơ bản để phát triển và nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại từ nay đến hến năm 2020.
Để nghiên cứu tận đề trên thì ta phải biết lựa chọn sử dụng phơng pháp
luận hợp lý và hiệu quả. Đó là, nhận thức khoa học phải bắt đầu bằng sự
quan sát các hiện tợng cụ thể biểu hiện các quá trình kinh tế rồi dùng phơng
pháp trừu tợng hoá để tìm ra bản chất và tính qui luật của sự phát triển, sau
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031

Kinh tế quốc tế là sự trao đổi, buôn bán hàng hoá, dịch vụ trên phạm
vi tào thế giới, trong đó thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các nớc với nhau,
hay giữa các khu vực với nhau.
Còn toàn cầu hoá là quá trình liên kết ngày một rộng lớn giữa các nớc
và thể hiện là mối quan hệ bình đẳng về kinh tế giữa các nớc trên thế giới
với nhau.
Trên đây là một số khái niệm cơ bản ta cần nắm rõ để có thể nghiên
cứu những lý luận khác.
2. Tại sao nớc ta phải mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối
ngoại
Vài trò và tác dụng của nó, trong điều kiện nớc ta hiện nay, kinh tế đối
ngoại có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy
Đảng và Nhà nớc luôn luôn coi trọng lĩnh vực này và nhấn mạnh: "Nhiệm
vụ ổn định và phát triển kinh tế cũng nh sự nghiệp phát triển khoa học kỹ
thuật và công nghiệp hoá của nớc ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
3
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
thuộc một phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối
ngoại " (văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI).
Sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế đặt ra yêu cầu đòi hỏi
các quốc gia phải có chiến lợc hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới và
khu vực. Thực vậy, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới không chỉ
cho phép Việt Nam thu đợc vốn mà dựa vào đó Việt Nam nắm bắt đợc
những công nghệ kỹ thuật và quản lý tiên tiến, từng bớc tạo ra một đội ngũ
công nhân có trình độ phù hợp cho việc phát triển nền công nghiệp hiện đại
trong thời đại ngày nay.
Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Việt
Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó đặc biệt là năm thách
thức sau đây:

hãm thậm chí gây sức ép, buộc Việt Nam phải thay đổi những vấn đề có
tính nguyên tắc nh định hớng, mục tiêu, mục đích phát triển. Ví dụ: mục
đích chính của các công ty xuyên quốc gia là lợi nhuận, còn đối với Việt
Nam thì vấn đề có lợi nhuận vẫn cha đủ, mà mục đích chính là vì "dân giầu
nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Trong rất nhiều trờng
hợp, quan hệ kinh tế đã giúp tạo ra lợi nhuận, nhng không công bằng, một
số tầng lớp dân c đợc hởng lợi nhng lại làm cho nớc nhà nghèo đi.
Bên cạnh đó những thách thức nêu trên, Việt Nam cũng đã tận dụng đ-
ợc nhiều cơ hội trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới. Đó là:
Thứ nhất, với quan điểm và nguyên tắc rõ rằng, Việt Nam chủ động
đẩy nhanh quá trình hội nhập. Từ nhận thức này, trong những năm qua Việt
Nam đã có bớc chuyển đổi lớn trong chính sách phát triển kinh tế đối ngoại.
Các chính sách này đều theo hớng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng lớp khác
nhau phụ thuộc vào thực lực cụ thể của mỗi lĩnh vực.
Thứ hai, tham gia tào cầu hoá chính là nhằm tranh thủ những điều
kiện quốc tế để khai thác các tiềm năng nớc nhà, phục vụ cho việc nâng cao
đời sống nhân dân. Việt Nam là quốc giá có nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú nhng cha đợc khai thác hiệu quả. Với nguồn tài nguyên phong
phú không chỉ tạo điều kiện cho việc phát triển các ngành công nghiệp khai
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
5
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
thác chế biến mà còn là sức thu hút đối với các Công ty nớc ngoài. Trên cơ
sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, Việt Nam có thể xác lập cơ cấu
ngành kinh tế với những sản phẩm có tính cạnh tranh đáp ứng đợc nhu cầu
thị trờng thế giới.
Thứ ba, trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang quá độ sang nền
kinh tế trí tuệ, khoa học công nghệ phát triển mạnh trở thành lực lợng sản
xuất trực tiếp, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội nhng cũng không thể

riêng. Hiểu đúng bản chất của hiệu quả kinh tế đối ngoại cũng nh mục tiêu
đảm bảo hiệu quả kinh tế của mỗi thời kỳ, là vấn đề có ý nghĩa thiết thực
không những về lý luận thống nhất quan niệm về bản chất của hiệu quả
kinh tế đối ngoại mà còn rất cần thiết cho hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực
này. Hiểu đúng bản chất hiệu quả kinh tế đối ngoại chính là xác định yêu
cầu đối với việc đề ra mục tiêu và biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại. Nh vậy mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại là góp phần
thúc đẩy tăng nhanh năng suất lao động xã hội qua đó tạo thêm nguồn tích
luỹ cho sản xuất và nâng cao mức sống ở trong nớc.
Chúng ta thực hiện mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
phải dựa trên những nguyên tắc và hình thức cơ bản của kinh tế đối ngoại.
3. Những nguyên tắc và hình thức cơ bản của kinh tế đối ngoại
Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lại
không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hoá với n-
ớc ngoài. Nền kinh tế đối ngoại không chỉ là nhân tố bổ sung cho kinh tế
trong nớc mà kinh tế trong nớc phải thích nghi với lựa chọn phân công lao
động quốc tế. Do vậy, phải khai thác đợc mọi lợi thế của hoàn cảnh chủ
quan trong nớc phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế thế giới và quan hệ
kinh tế quốc tế. Mặt khác phải tính toán lợi thế tơng đối có đợc nhờ tham
gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế. Do đó nói đến kinh tế đối
ngoại là nói đến khả năng liên kết kinh tế, hội nhập với kinh tế khu vực vầ
quốc tế đòi hỏi khả năng xử lý thành công mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Những nỗi bật lên, đó là nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, nó chi phối
các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
7
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
Hình thức cơ bản của kinh tế đối ngoại là xuất khẩu và nhập khẩu là
việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nớc ngoài. Nhập khẩu là việc mua bán
hàng hoá và dịch vụ của nớc ngoài.

thuế cao; chỉ có 20% số dòng thuế đợc áp dụng mức thuế 5%. Việc hoàn
thuế cho các hàng hoá nhập để xuất có quá nhiều thủ tục phức tạp phiền hà
và kém hiệu lực. Các biện pháp phi thuế quan nhằm bảo hộ mậu dịch vẫn
còn đợc áp dụng đối với nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự quản lý của các bộ
chuyên ngành. Hàng rào bảo hộ mậu dịch cao này tởng nh chỉ có tác dụng
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
9
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
ngăn chặn các dòng hàng nhập khẩu, nhng trên thực tế chúng đã tác động
tiêu cực tới toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại. Vì khi đánh thuế cao vào
các hàng hoá nhập khẩu, giá bán của chúng và các hàng hoá liên quan ở
trong nớc đã tăng lên. Các nhà xuất khẩu phải sử dụng các hàng hoá giá cao
này, công nhân viên của họ cũng phải tiêu dùng các hàng hoá nhập khẩu
giá cao, mà mức cao giá này ớc tính vào khoảng 20 - 100% tuỳ theo mặt
hàng. Do vậy đã đẩy chi phí của các hàng xuất khẩu tăng lên, giảm khả
năng cạnh tranh của chúng và tác động xuấu đến xuất khẩu. Hàng rào bảo
hộ mậu dịch cao chỉ khuyến khích sản xuất thay thế nhập khẩu, FDI cũng
tự nhiên phải theo hớng này, trong khi thị trờng nội địa của ta nhỏ bé và
ngày càng bão hoà, do vậy FDI không tăng lên đợc và thậm chí đã chậm lại.
Hàng rào bảo hộ còn ảnh hởng xấu tới cả du lịch, vì giá cả tiêu dùng ở Việt
nam cao, không hấp dẫn khách du lịch.
Thứ hai, chi phí sản xuất của ta nói chung còn cao so với các quốc
gia khu vực, do vậy lợi thế cạnh tranh bị giảm thiểu.
Chi phí sản xuất đã phụ thuộc vào các yếu tố: thuế nhập khẩu, thuế
doanh thu VAT, các phụ phí, tiền lơng, giá các dịch vụ, công nghệ đợc sử
dụng
Thuế xuất khẩu, kể cả hàng rào phi thuế quản của nớc ta hiện nay có
lẽ ở vào hàng cao nhất khuvực, cao hơn cả Trung Quốc, trong khi mức thuế
quan của nhiều quốc gia Đông á hiện chỉ còn khoảng 4 - 6%. Thuế doanh
thu của ta ở mức 32%, cũng vào hàng cao nhất khu vực. Thuế VAT, thuế

đổi tự do. Trong khi tổng giá trị xuất khẩu của nớc ta đã ngang bằng tổng
GDP, thì đây là một vấn đề rất bất lợi. Buôn bán quốc tế lớn đến thế mà
đồng tiền không chuyển đổi tự do đợc, có nghĩa là các nhà kinh doanh nhập
khẩu của ta phải chịu các chi phí chuyển đổi tiền với thủ tục phiền hà và tốn
kém thời gian. Đã thế họ còn phải chịu thiệt do quy định về kết hối ngoại
tệ, tiền của họ thu đợc do xuất khẩu, khi nhập khẩu cần ngoại tệ lại phải xin
phép ngân hàng cấp.
Ngoài ba nguyên nhân trên còn có thể có những nguyên nhân khác
nh: lao động Việt Nam ít đợc đào tạo, không lành nghề; thể chế hành chính
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
11
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
luật pháp không minh bạch; bộ máy quản lý yếu kém và quan liêu tham
nhũng và
Sự phát triển vợt trội của khu vực kinh tế đối ngoại.
Kim ngạch xuất khẩu của nớc ta năm 2001 đã đạt tới 31,2 tỷ USD,
nghĩa là xấp xỉ với tổng giá trị GDI, trong đó giá trị xuất khẩu khoảng 15
tỷ. Trớc thập kỷ 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDI của nớc ta chỉ
vào khoảng 30%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP của Trung
Quốc hiện nay cũng chỉ vào khoảng trên 30%. Các nớc Xingapore,
Malaixia, Thái Lan đã có tỷ trọng so sánh giữa giá trị xuất nhập khẩu và
GDP cao hơn ta
Tổng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã đăng ký vào Việt Nam đến
năm 2001 là 38,8 tỷ USD, tỷ trọng của vốn FDI đợc thực hiện trong tổng
đầu t xã hội vào khoảng 20% - 32%, nghĩa là năm cao nhất (1996) đã đạt
tới trên 32% nhăm năm đạt thấp vào khoảng trên 20%, nếu tính cả các
nguồn vốn nớc ngoài khác nh vốn ODA, và vốn vay thơng mại thì nguồn
vốn nớc ngoài đã chiếm khoảng 50% tổng đầu t xã hội vào giữa những năm
1990 (những năm say tỷ trọng này đã giảm).
Ngành du lịch Việt Nam đã có bớc phát triển đáng kể. Số khách đu

lên đến hàng nghìn gồm cả quốc doanh, t nhân và các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài. Đó là một bớc tiến to lớn cần phải khẳng định.
Đội ngũ các doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại có một vai trò
rất quan trọng, nếu không nói là quyết định đối với sự phát triển kinh tế đất
nớc. Thực tế thế giới cho thấy các doanh nghiệp này hoạt động rất đa dạng
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, từ sản xuất, thơng mại dịch vụ đến bảo
hiểm Chính tính đa dạng này mới đảm bảo cho hoạt động kinh tế đối
ngoại có hiệu quả. Một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu muốn có hiệu quả
cần phải vay mợn vốn nớc ngoài (vì vốn trong nớc không đủ và nhiều khi
quá đắt), cần phải có dịch vụ t vấn nớc ngoài (vì t vấn trong nớc cha đủ
trình độ), cần phải chuyển đổi ngoại tệ, cần bảo hiểm rủi ro, cần thuê mớn
chuyên gia, cần Marketing quốc tế ở nớc ta các doanh nghiệp hoạt động
kinh tế đối ngoại thờng mới ở hai lĩnh vực: sản xuất và kinh doanh xuất
nhập khẩu. ở các lĩnh vực khác ta cha có, nhng cũng cha có, nhng cũng cha
cho phép các Công ty nớc ngoài hoạt động.
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
13
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
Hoạt động của các Công ty kinh doanh đối ngoại phải xuyên quốc
gia, để có thể lợi dụng đợc những lợi thế so sánh của các nớc. Công ty
Honda của Nhật đã có chi nhánh ở nhiều nớc, vì tại mỗi một nớc đó Honda
có thể tận dụng đợc lợi thế hoặc về tài nguyên, hoặc về lao động, hoặc về vị
trí địa lý , do vậy có thể giản thiểu các chi phí. Các Công ty hoạt động
xuất khẩu của ta nói cung cha hoạt động xuyên quốc gia, đã thế ta còn có
chính sách nội địa hoá bắt buộc, ép các Công ty nớc ngoài phải sản xuất
càng nhiều các linh kiện ở Việt Nam càng tốt. Chính sách này đã triệt tiêu
mất lợi thế hoạt động của các Công ty xuyên quốc gia. Vì các Công ty này
chỉ muốn lợi dụng lao động rẻ và vị trí thuận lợi của Việt Nam để lắp ráp
rồi xuất vào Đông Nam á. Nếu ta ép họ phải sản xuất những thứ linh kiện
mà nớc ta không có lợi thế, do vậy là đi ngợc lại lợi ích của họ. Kinh

ờng: Sản xuất lu không phải theo cung cầu của thị trờng thế giới: tỷ giá giữa
các đồng tiền cũng do thị trờng thế giới quy định, giá cả của các hàng hoá
và dịch vụ lu thông trên thị trờng thế giới là giá cả thị trờng thế giới; giá
chứng khoán, công trái, cũng phải do thị trờng quy định. Các quan hệ kinh
tế bên trong của một quốc gia hiện có thể do các chính phủa quốc gia điều
tiết, có khi khá chặt chẽ, nhng những quan hệ kinh tế quốc tế hiện chịu sự
điều tuết của các chính phủ một cách rất hạn chế, chúng có một không gian
rộng rãi hơn để tự do vận động.
Thực tế của thế giới cho thấy, các quan hệ kinh tế đối ngoại của một
quốc gia càng vận động theo các nguyên tắc của thị trờng nền kinh tế của
quốc gia ấy càng có thể tham gia sâu rộng và có hiệu quả vào quá trình hội
nhập toàn cầu. Thực tế của các nớc ASEAN và Đông á đã cho thấy điều
đó: giá cả trong nớc càng sát với giá thị trờng thế giới, ngời tiêu dùng trong
nớc đợc hởng lợi do mua hàng không phải chịu thuế nhập khẩu cao, các lợi
thế cạnh tranh của quốc giá đợc phát huy: tỷ giá thị trờng đã đảm bảo mức
giá của đồng tiền quốc gia phù hợp với giá thực tế, tạo điều kiện đảm bảo
sức cạnh tranh của nền kinh tế: giá chứng khoán, cổ phiếu có tính thị trờng
quốc tế đã tạo điều kiện khai thông dòng vốn quốc tế đi tới mọi vùng trong
nớc
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
15
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
Do vậy, ta cần có một lộ trình chủ động và tích cực để chuyển các
quan hệ kinh tế đối ngoại vận động theo các nguyên tắc của thị trờng, nếu
năm 2006 ta thực hiện đầy đủ các cam kết với AFTA và các cam kết chủ
yếu trong Hiệp định thơng mại với Hoa Kỳ, nếu 2004 nớc ta đợc gia nhập
WTO, thì lộ trình chuyển các quác hệ kinh tế đối ngoại nớc ta vận động đầy
đủ theo các nguyên tắc của thị trờng cũng không thể vợt quá 2006. Vì
những cam kết quốc tế này buộc nớc ta phải xoá bỏ hàng rào phi thuế quan
và hạ thấp thuế quan xuống vào khoảng 5 - 10%, thừa nhận rộng rãi các

Song có quan điểm cho rằng các nớc kém phát triển cần một lộ trình
bảo hộ mậu dịch để tham gia có hiệu quả vào hội nhập quốc tế; lộ trình này
càng dài càng tốt, vì các doanh nghiệp trong nớc càng có nhiều thời gian tr-
ởng thành để đua tranh trên thơng trờng quốc tế. Đúng là các nớc kém phát
triển cần có một lộ trình hội nhập quốc tế, nhng lộ trình này không phải là
một lộ trình gia tăng chính sách bảo hộ mậu dịch để rồi xoá bỏ nó, mà là
một lộ trình bãi bỏ dần các hàng rào bảo hộ. Thờng lộ trình này kéo dài 2 -
5 năm, tuỳ theo từng ngành kinh tế kỹ thuật. Xét về hiệu quả kinh tế thuần
tuý, thì không cần đến lộ trình này, lý thuyết kinh tế học hiện đại và thực tế
hàng chục năm qua đã chứng minh cho luận điểm này. nhng xét về mặt
chính trị và xã hội, thì lại cần cón một lộ trình nh vậy để đổi mới cơ cấu sản
xuất, giải quyết tình trạng thất nghiệp, đào tạo lại nghề nghiệp, giữ ổn định
xã hội Một Nhà nớc càng có năng lực giải quyết tốt các vấn đề trên, thì lộ
trình hội nhập quốc trế càng đợc rút ngắn và ngợc lại.
Có ngời lo ngại rằng việc giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm muốn thu
ngân sách. Thực tế của thế giới cho thấy ở những quốc gia giảm thuế nhập
khẩu, nguồn thu ngân sách không những không giảm mà còn tăng, do diện
thu thuế tăng, do tình trạng trốn lậu thuế, tham nhũng giảm
Dựa vào những phân tích trên đây, nớc ta cần có một lộ trình hội
nhập quốc tế chủ động và tích cực phù hợp với thực tế. Lộ trình này một
mặt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cho nớc tự vơn lên, mặt khác dùng
sức ép của việc giảm dần hàng rào bảo hộ để buộc các doanh nghiệp phải v-
ơn lên, nếu không sẽ bị đào thải. Thực tế lịch sử cho thấy doanh nghiệp kể
cả doanh nghiệp t nhân, không mấy khi tự đổi mới để vơn lên, mà thờng
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
17
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
cũng chỉ đổi mới khi có sức ép bên ngoài đặt họ trớc sự lựa chọn - hoặc
phải phá sản hoặc phải đổi mới. Một lộ trình hội nhập quốc tế tích cực,
giảm hàng rào bảo hộ chính là sức ép cần thiết bên ngoài đó.

con số quá bé nhỏ so với các quốc gia trong khu vực. Số lợng đờng cao tốc
ít ỏi đã làm cho hàng hoá chậm đến cảng và sân bay quốc tế, hàng tăng
thêm chi phí và thời gian.
Về cung cấp điện, tiêu dùng điện theo đầu ngời ở nớc ta hiện vào
khoảng 232 kwh, dới mức trung bình của các nớc có thu nhập thấp 363
kwh, dới xa mức trung bình của các nớc khu vực Châu á - Thái Bình Dơng
- 787 kwh. Tình trạng gây cắt điện và tăng giảm điện áp đã gây thiệt hại
đáng kể cho các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu. Giá điện của Việt Nam
bán cho ngân sách Nhà nớc, kể cả nguồn vốn ODA cũng không đủ đáp ứng
các nhu cầu to lớn này. Do vậy cần phải có quy hoạch tổng thể về cơ sở hạ
tầng xây dựng các nhà máy sản xuất công nghiệp sang xây dựng cơ sở hạ
tầng. Mở rộng các hình thức huy động vốn da đạng, cần có chính sách để
mọi thành phần kinh tế có thể tham gia kinh doanh cơ sở hạ tầng. Ngay
những bớc giầu nh Mỹ, Nhật, Nhà nớc cũng không đủ tiền xây dựng hạ
tầng, mà phải huy động các thành phần kinh tế khác. Nớc ta nghèo hơn nên
càng phải sử dụng các thành phần Nhà nớc.
Kinh doanh cơ sở hạ tầng trong nhiều năm trớc đây thờng do các
Công ty Nhà nớc độc quyền đảm nhận, kể cả ở các nớc Phơng Tây. nhng
thực tế cho thấy tình trạng độc quyền của các Công ty Nhà nớc đã dẫn tới
những hậu quả tiêu cực - chi phí cao, phiền hà, lãng phí, tham nhũng Do
vậy trong những năm gần đây, xu hớng cho phép khu vực t nhân tham gia
kinh doanh hạ tầng cơ sở đã ngày càng phổ biến ở nhiều nớc. Nớc ta cũng
đã cho phép một số công ty nớc ngoài xây dựng các nàh máy điện dới hình
thức BOT, có thể cần phải mở rộng hơn hình thức này sang nhiều lĩnh vực
khác.
Khai thông các nguồn vốn cung ứng cho hoạt động kinh tế đối ngoại
Các hoạt động kinh tế đối ngoại từ xuất nhập khẩu, du lịch đến đều t
nớc ngoài đều cần đến những nguồn vốn to lớn. Không có đủ vốn, cũng có
nghĩa là kinh tế đối ngoại không hoạt động đợc. Những nguồn vốn này hiện
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031

những đổi mới này sẽ đi theo hớng nào?
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
20
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
Trớc hết cần mạnh dạn cho phép một số ngân hàng thơng mại của ta
liên doanh với ngân hàng nớc ngoài và cho phép các ngân hàng nớc ngoài
mở rộng dịch vụ kinh doanh và nội tệ, cung ứng tín dụng cho hoạt động
kinh tế đối ngoại cho các Công ty Việt Nam và Công ty nớc ngoài. Đây là
một giải pháp quan trọng, vì các ngân hàng nớc ngoài hiểu biết thị trờng thế
giới hơn, có nhiều năng lực thẩm định và đề xuất các dự án kinh doanh có
hiệu quả hơn Các ngân hàng nớc ngoài gia tăng hoạt động sẽ tạo ra một
áp lực cạnh tranh lớn hơn, do vậy hoạt động ngân hàng nớc ra sẽ có hiệu
quả hơn. Thứ hai, thúc đẩy thị trờng vốn hoạt động tốt hơn theo hớng một
mặt mở rộng diện cổ phần hoá và cho phép các Công ty cổ phần đợc bán cổ
phiếu; đồng thời cho phép các Công ty cha cổ phần hoà nhng kinh doanh tốt
có thể bán trái phiếu, cổ phiếu; cho phép các Công ty hoạt động đối ngoại
có thể huy động vốn theo các dự án trên thị trờng chứng khoán Mặt khác,
cần cho phép các Công ty nớc ngoài, ngời nớc ngoài đợc mua bán các loại
chứng khoán trên thị trờng. Thị trờng chứng khoán nớc ta mới hoạt động
trong một thời gian ngắn ngủi, cần có những tổng kết và đánh giá, mời các
nhà t vấn nớc ngoài có kinh nghiệm tham kiến để có thể có nhữn giải pháp
phù hợp nhằm hoàn thiện và phát triển thị trờng.
Thứ ba, nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng các loại hình kinh doanh
vốn rủi ro ở các nớc, để có thể xây dựng các quy chế, tạo ra các điều kiện
cho phép các loại Công ty kinh doanh vốn rủi ro kể cả các Công ty nớc
ngoài có thể ra đời và hoạt động ở Việt Nam. Hoạt động kinh tế đối ngoại là
một hoạt động dễ có những rủi ro, nhất là kinh doanh công nghệ cao. Do
vậy các Công ty kinh doanh vốn rủi ro là rất cần thiết.
Thứ t, xây dựng khu kinh tế mở, nớc ta đã có các khu chế xuất, các
khu công nghiệp, đang xây dựng các khu công nghệ cao, nhng cha có khu

đang quen với môi trờng đầu t có hoạt động dịch vụ rất tốt. Điều đó giải
thích tại sao các nhà đầu t Âu, Mỹ, Nhật lại do dự khi đầu t vào Việt Nam.
Cơ cấu nhập khẩu phải phù hợp với định hớng xuất khẩu và sự phát
triển có hiệu quả của nền kinh tế đất nớc.
Cơ cấu nhập khẩu của mỗi nớc khác nhau có thể khác nhau tuỳ theo
trình độ phát triển và các điều kiện lịch sử kinh tế, văn hoá, tự nhiên khác
nhau. Trong điều kiện hiện nay, cơ cấu này phải phù hợp với cơ cấu xuất
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
22
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
khẩu, phù hợp với nhu cầu thị trờng thế giới và trong nớc. Nghĩa là nó phải
nhập những thứ để có thể sản xuất, gia công và xuất khẩu có hiệu quả và do
vậy đơng nhiên là có thể đáp ứng nhu cầu thay thế nhập khẩu. Một cơ cấu
nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu thay thế nhập khẩu sẽ rất khó đáp ứng
cho yêu cầu xuất khẩu. Song dù khác nhau thế nào đi nữa, thì một cơ cấu
nhập khẩu có hiệu quả và hiện đại thờng bao gồm 5 nhóm hàng hoá sau:
Nguyên nhiên vật liệu: hàng tiêu dùng và dịch vụ. Cơ cấu nhập khẩu của
các nớc phát triển thờng có đủ cả 5 nhóm hàng hoá trên đây, tuy có thẻ
khác nhau về tỷ trọng. Cơ cấu nhập khẩu của các nớc đang và kém phát
triển thờng chỉ bao gồm 3 nhóm hàng hoá: máy móc thiết bị, nguyên nhiên
vật liệu và hàng tiêu dùng. Có rất ít nớc đang phát triển có một cơ cấu nhập
khẩu đủ cả 5 nhóm hàng hoá. Cơ cấu nhập khẩu có 3 nhóm hàng hoá là một
cơ cấu chỉ phù hợp với nền kinh tế hớng nội, thay thế nhập khẩu. ở những
nớc này, ngời ta nhập máy móc thiết bị cùng với nguyên vật liệu trong nớc
không có để sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng trong nớc cần; và để có tiền
nhập khẩu, những nớc này đã xuất khẩu tài nguyên của họ nh; dầu mỏ, các
loại quặng, nông, lâm, hải sản Cần lu ý là nếu chỉ dùng ngoại tệ do xuất
khẩu tài nguyên đẻ mua máy móc thiết bị, công nghệ, thì thờng rơi vào tình
thế phải mua máy móc thiết bị cũ, đất nớc sẽ thành bãi thải công nghệ.
Cơ cấu nhâp khẩu có đủ 5 nhóm hàng hoá sẽ phù hợp với hớng xuất khẩu

ở nớc ta mới trở thành quốc nạn, và kèm theo nó là nạn tham nhũng. Nếu
cộng cả giá trị hàng nhập lậu nữa thì tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng
chắc đã không kém 20% tổng giá trị nhập khẩu. Ta không nhập khẩu bằng
phát minh sáng chế - đó là một khiếm khuyết lớn, do vậy ta chỉ còn nhập
máy móc thiết bị. Nớc ta chỉ xuất khẩu dầu thô, nông hải sản, khó mua đợc
máy móc thiết bị hiện đại, do vậy phải mua máy móc thiết bị cũ, xuất hiện
nguy cơ biến nớc ta thành bãi thải công nghệ cũ:. Do ta không nhập bằng
phát minh sáng chế để hiện đại hoá các máy móc cũ, nên phải dùng máy
móc cũ, công nghệ lạc hậu, tiêu xài nhiều nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu
- làm gia tăng chi phí. Ta cũng phải không nhập khẩu các dịch vụ cần cho
phát triển công nghiệp nh các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn
Phạm Anh Dũng Lớp: 7031
24
Đề án Kinh tế chính trị Học viện Ngân hàng
thông, t vấn v.v nên các máy móc thiết bị và nguyên nhiên vật liệu nhập
khẩu về đợc sử dụng càng kém hiệu quả.
Lý thuyết kinh tế học hiện đại chú trọng xuất khẩu để thu ngoại tệ,
nhng cũng đặc biệt chú trọng nhập khẩu - nhập khẩu những thứ để có thể
hiện đại hoá kinh tế đất nớc và phù hợp với định hớng xuất khẩu.
Những phân tích trên đây cho thấy nớc ta đã đến lúc phải đổi mới cơ
cấu nhập khẩu, và phải đầu t đổi mới cơ cấu nhập khẩu mới đổi mới đợc cơ
cấu xuất khẩu. Những hớng đổi mới chính là gia tăng nhập khẩu bằng phát
minh sáng chế, các công nghệ mới, cây con mới, chú trọng trọng nhập khẩu
ngay các dịch vụ cần cho phát triển kinh tế đối ngoại trớc mắt nh các dịch
vụ t vấn: Các dịch vụ cung ứng vốn: các dịch vụ t vấn: các dịch vụ cung ứng
vốn: Các dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ viễn thông; tăng tỷ trọng nhập khẩu
hàng tiêu dùng, giảm bớt hàng rào bảo hộ.
Tập trung đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho kinh tế đối ngoại
Các lĩnh vực kinh tế đối ngoại cần những nguồn nhân lực gì? đó là
các nhà chuyên đàm phán kinh tế trên các diễn đàn song và đa phơng để mở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status