khả năng áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền trong định giá các doanh nghiệp ở việt nam - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
tiến đáng kể, tốc độ tăng GDP luôn ở mức cao. Giai đoạn 2005-2010 theo dự
đoán, GDP sẽ dao động trong khoảng 8 – 8,5%. Theo xu hướng toàn cầu hóa,
Việt Nam đã gia nhập WTO hứa hẹn một thời kỳ phát triển thịnh vượng.
Đây cũng là thời điểm bùng nổ của thị trường chứng khoán, nhiều công
ty đã niêm yết hoặc có cổ phiếu giao dịch trên các sàn giao dịch, thị trường
chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn hấp dẫn cho các doanh
nghiệp. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, nhu cầu cổ phần
hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhu cầu mua bán, sáp nhập, nhu cầu định giá
cổ phiếu… đang tăng lên khiến nhu cầu định giá doanh nghiệp trở thành vấn
đề cấp thiết.
Hiện nay, định giá doanh nghiệp ở Việt Nam được áp dụng chủ yếu hai
phương pháp: tài sản ròng và chiết khấu dòng tiền. Trong đó, phương pháp tài
sản ròng đang được sử dụng phổ biến, mặc dù phương pháp chiết khấu dòng
tiền (DCF) được đánh giá là phương pháp có nhiều ưu điểm nổi trội hơn do
tính đến những giá trị kì vọng trong tương lai doanh nghiệp sẽ tạo ra. Nguyên
nhân chính là do thị trường Việt Nam còn thiếu cơ sở dữ liệu, thiếu những
điều kiện cần thiết để phương pháp chiết khấu dòng tiền được áp dụng hiệu
quả. Ở các nước có nền kinh tế phát triển, phương pháp chiết khấu dòng tiền
đã được áp dụng phổ biến. Do vậy, phương pháp này trong tương lai chắc
chắn sẽ là phương pháp có tính thực tiễn rất cao ở Việt Nam. Chính vì sự cần
thiết nghiên cứu để áp dụng được phương pháp chiết khấu dòng tiền, em đã
lựa chọn đề tài:
“ Khả năng áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền trong định
giá các doanh nghiệp ở Việt Nam”.
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
1

cũng phải tuân theo quy luật cung cầu, cạnh tranh.
Tuy nhiên, khác với các tài sản thông thường, doanh nghiệp không phải
là một kho hàng, doanh nghiệp còn là một tổ chức kinh tế, đang thực sự hoạt
động. Do vậy, không chỉ gồm các tài sản hữu hình, doanh nghiệp thực sự sở
hữu các tài sản vô hình khác như giá trị thương hiệu, bí quyết kinh doanh,
quyền khai thác, tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai…
Vì thế, khái niệm giá trị doanh nghiệp phải dựa trên tài sản là doanh
nghiệp đang hoạt động, mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanh nghiệp
đó không thể tách rời, các yếu tố cấu thành hữu hình và vô hình là một thể
thống nhất. Giá trị doanh nghiệp chính là giá trị toàn bộ của một doanh
nghiệp: là số tiền mà một doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Định giá doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm định giá doanh nghiệp
Doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mục đích sở hữu doanh
nghiệp vì thế cũng là vì mục tiêu lợi nhuận. Tiêu chuẩn để nhà đầu tư quyết
định bỏ vốn là đánh giá hiệu quả hoạt động, đánh giá các khoản thu nhập mà
doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai hay chính là việc
định giá doanh nghiệp. Đó là quá trình ước tính khoản tiền mà người mua
phải trả để họ có được quyền sở hữu, quyền thu lợi từ doanh nghiệp và cũng
là ước tính của người bán về khoản tiền thu được khi bán doanh nghiệp của
mình. Giá trị của doanh nghiệp là giá trị mà cả người mua và người bán đều
chấp nhận được.
Khác với tài sản thông thường, doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp
với nhiều yếu tố cấu thành. Khi xem xét một doanh nghiệp, nhất thiết phải đặt

và phổ biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu về đầu tư trực tiếp vào
sản xuất kinh doanh, cũng như yêu cầu để tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Trong môi trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể liên kết
với nhau, sáp nhập hoặc chia tách để tận dụng lợi thế của nhau về thị trường,
nhân lực, vốn… để vững chắc và lớn mạnh trên thị trường. Giá trị của doanh
nghiệp được đánh giá trên một phạm vi lớn có tính đến tất cả các yếu tố tác
động tới doanh nghiệp. Vụ mua bán, sáp nhập, chia tách diễn ra dựa trên cơ
sở giá trị doanh nghiệp đã thương thuyết giữa các bên.
Đặc biệt, trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định
giá trị doanh nghiệp còn là một bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành
chuyển đổi loại hình sở hữu như cổ phần hóa, sáp nhập, hợp nhất, giao bán
khoán và cho thuê.
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xét sự cần thiết của định giá từ các đối tượng trong nền kinh tế có liên
quan đến nhu cầu định giá doanh nghiệp, đó là những nhà đầu tư, người cung
cấp, bản thân nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô.
- Đối với nhà đầu tư, người cung cấp: Thông tin về giá trị doanh nghiệp
cho sự đánh giá tổng quát về khả năng tài chính, uy tín kinh doanh, rủi ro và
vị thế tín dụng. Từ đó, nhà đầu tư có quyết định có tiếp tục đầu tư, nhà cung
cấp có tiếp tục cung cấp các yếu tố đầu vào, cấp tín dụng cho doanh nghiệp
nữa hay không. Giá trị doanh nghiệp quyết định giá cả cổ phiếu trên thị
trường. Nếu nhà đầu tư định giá được đúng giá trị của doanh nghiệp thì sẽ thu
được lợi suất đầu tư mong muốn.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Thông tin về giá trị doanh nghiệp
giúp các nhà quản trị phân tích, đánh giá trước khi đưa ra các quyết định về
kinh doanh và tài chính có liên quan đến doanh nghiệp. Từ giá trị doanh

khoản chi và thu được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau
trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp. Bản chất của hoạt động đầu tư là bỏ
vốn trong một khoảng thời gian dài, nhiều rủi ro. Theo nguyên lý giá trị thời
gian của tiền, một đồng vốn bỏ ra đều có chi phí cơ hội nhất định, các dòng
tiền bằng nhau trong các thời điểm khác nhau sẽ có giá trị khác nhau. Do vậy,
giá trị hiện tại của các dòng tiền hiện tại và tương lai được coi là tiêu chuẩn
thích hợp để định giá doanh nghiệp.
Từ đó, phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể định nghĩa như sau:
Phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp xác định giá trị
doanh nghiệp bằng cách chiết khấu các dòng tiền doanh nghiệp sẽ thu được
trong tương lai về thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp chiết khấu dòng tiền đã xem xét doanh nghiệp trong trạng
thái động, xem xét các tài sản trong doanh nghiệp trong một thể thống nhất,
cùng nhau tạo nên giá trị của doanh nghiệp.
1.3.2 Các bước thực hiện định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền
1.3.2.1 Bước 1: Đánh giá môi trường và năng lực nội tại của doanh nghiệp
 Mục tiêu đánh giá:
Việc đánh giá các yếu tố môi trường và năng lực nội tại của doanh
nghiệp nhằm cung cấp thông tin để xây dựng các giả thuyết về dòng tiền
trong tương lai và đánh giá độ rủi ro khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
 Yêu cầu của đánh giá:
Khi đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài có tác động tới doanh
nghiệp và các yếu tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp phải đạt được các yêu cầu
sau:
- Chỉ ra được những cơ hội thuận lợi, những nguy cơ đe dọa từ phía môi

tiêu dùng, lãi suất, các chỉ số trên thị trường chứng khoán… Sự thay đổi của
các yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
• Môi trường chính trị
Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động sản xuất và kinh doanh ổn định trong
một môi trường chính trị ổn định. Môi trường chính trị ổn định liên quan mật
thiết đến luật pháp, đến các quan điểm của nhà nước và ý thức của người dân.
Môi trường kinh tế - chính trị là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp có thể
hoạt động.
• Môi trường văn hóa – xã hội
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Môi trường văn hóa đặc trưng bởi những quan niệm, lối sống, đạo đức…
ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của dân cư, và sự đón nhận của họ đối với
doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Môi trường xã hội thể hiện về mặt dân số, trình độ dân trí, cơ cấu dân số,
mật độ, thu nhập bình quân… tác động đến nhu cầu, chiến lược marketing…
của doanh nghiệp.
• Môi trường khoa học công nghệ
Tác động của khoa học – công nghệ lên quy trình sản xuất, phương thức tổ
chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngày nay, yêu cầu của cuộc sống
đòi hỏi các sản phẩm phải đa dạng, đảm bảo chất lượng, hình thức. Đây là
một thách thức của doanh nghiệp để cạnh tranh, tồn tại phải thích ứng trước
những bước phát triển mới của khoa học và công nghệ.
ii) Môi trường ngành
+ Đánh giá cung cầu thị trường
Cung cầu của thị trường cho biết độ lớn của thị trường hiện tại và tiềm
năng phát triển của thị trường trong tương lai.

hàng và lượng mua sản phẩm, dịch vụ trên một khách hàng. Nếu khách hàng
mua một lượng lớn hoặc có ít người mua, doanh nghiệp sẽ bị khách hàng chi
phối nhiều hơn. Đôi khi khách hàng tự liên kết với nhau để bảo vệ quyền lợi
và chi phối doanh nghiệp.
• Ảnh hưởng của nhà cung ứng
Tính ổn định của nguồn cung và sự chi phối của người cung cấp ảnh
hưởng tới mức giá các nguyên liệu đầu vào, tới tính ổn định của hoạt động
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại và trong dài hạn. Sức mạnh
của nhà cung cấp thể hiện ở sự khan hiếm của nguồn cung, số lượng và đặc
quyền của các nhà cung cấp.
Phần 2: Đánh giá môi trường nội bộ của doanh nghiệp
Các yếu tố được đánh giá bao gồm 5 nhóm sau:
+ Cơ sở hạ tầng: là các tài sản của doanh nghiệp gồm có:
- Quy trình sản xuất
- Chế độ duy tu bảo dưỡng máy móc, thiết bị
- Mua và lưu trữ hàng tồn kho
- Địa điểm sản xuất kinh doanh
- Hệ thống cung cấp điện, nước
- Môi trường làm việc dành cho quản lý và người lao động.
Đây là các tài sản vật chất thuộc về doanh nghiệp, nó cho biết hiện trạng
tài sản, các điều kiện trực tiếp liên quan đến sản xuất kinh doanh sản phẩm
dịch vụ, sẽ ảnh hưởng đến doanh thu và chi phí hoạt động.
+ Cơ cấu quản lý
- Hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc
- Chính sách kinh doanh

- Chiến lược thị trường và thị phần.
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tùy theo đặc thù của loại hình doanh nghiệp để xác định các yếu tố
thuộc về môi trường nội bộ có khả năng ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó.
1.3.2.2. Bước 2: Tính dòng tiền và Phân tích tài chính
a) Phương pháp tính dòng tiền
Giá trị của doanh nghiệp luôn bằng giá trị của nợ cộng với giá trị của
vốn chủ sở hữu. Hay nói cách khác, dòng tiền nhận được từ các tài sản của
doanh nghiệp phải bằng dòng tiền của các chủ nợ cộng với dòng tiền của các
chủ sở hữu.
Dưới đây là ví dụ minh họa dòng tiền của doanh nghiệp và dòng tiền
của chủ nợ, chủ sở hữu.
Dòng tiền của doanh nghiệp
Dòng tiền hoạt động 238
Dòng tiền đầu tư vào TSCĐ -173
Chênh lệch TSLĐ ròng -23
Tổng 42
Dòng tiền của các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Chủ nợ (Trả lãi + Trả gốc - Huy động nợ mới) 36
Chủ sở hữu (Trả cổ tức + Mua lại cổ phiếu - Phát hành cổ phiếu
mới) 6
Tổng 42
Cách tính dòng tiền của doanh nghiệp:
Dòng tiền của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Dòng tiền hoạt động và
Dòng tiền đầu tư.

t
- GTCL TSCĐ
t+1
) – Khấu hao TSCĐ
t
+ Thông thường, bên cạnh việc đầu tư vào TSCĐ, doanh nghiệp còn phải đầu
tư vào TSLĐ ròng. Ví dụ như đầu tư vào tiền để đáp ứng nhu cầu chi trả, đầu
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tư vào tồn kho ban đầu cần thiết để bắt đầu sản xuất và đầu tư vào các khoản
phải thu trong lúc bán hàng chưa thu được. Lượng đầu tư này được tài trợ
bằng các khoản nợ ngắn hạn, do đó doanh nghiệp chỉ phải đầu tư vào khoản
vốn lưu động ròng – là chênh lệch giữa tài sản lưu động ngắn hạn trừ đi nợ
ngắn hạn. Đối với dự án, đầu tư vào vốn lưu động ròng được coi là đầu tư ban
đầu, sẽ được thu hồi khi dự án kết thúc.
b) Phân tích tài chính
Mục đích của phân tích tài chính là để xác định tình hình tài chính của
công ty, sức mạnh tài chính của công ty trong mối tương quan với các công ty
khác. Từ đó, làm cơ sở cho những dự báo tương lai.
Sử dụng các tỷ số trong phân tích, ta có các nhóm tỷ số sau:
+ Các tỷ số về khả năng thanh toán
Các tỷ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng thanh toán của doanh
nghiệp
+ Các tỷ số về khả năng hoạt động
Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
của doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài
sản khác nhau: tài sản lưu động, tài sản cố định. Không chỉ đo lường hiệu quả

Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân một ngày
=
Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Doanh thu thuần
Giá trị tài sản cố định
=
Hiệu suất sử dụng toàn bộ
tài sản
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
=
Tỷ số nợ
Nợ
Tổng tài sản
=
Tỷ số khả năng thanh
toán lãi vay
EBIT
Chi phí trả lãi
=
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Các tỷ số về khả năng sinh lời.

Trên đây là cách tính các tỷ số tài chính. Các tỷ số này là cơ sở để đánh
giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đồng thời đánh giá vị thế của doanh
nghiệp trong ngành, so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác.
1.3.2.3. Bước 3: Dự báo tình hình tài chính
Trong bước này, phải xem xét các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo nguyên tắc thời gian của tiền, lãi suất chiết khấu đã tính đến
những yếu tố rủi ro liên quan. Lãi suất chiết khấu dòng tiền phản ánh chi phí
cơ hội đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp gồm hai phần: Nợ và Vốn chủ sở hữu.
+ Khi vốn đầu tư là Nợ:
Lãi suất chiết khấu được sử dụng để chiết khấu các dòng tiền của dự án là chi
phí nợ sau thuế. Chi phí nợ là lãi suất trên phần nợ mới của doanh nghiệp.
Lãi suất chiết khấu = K
d
(1-t)
Trong đó:
K
d
: Chi phí của nợ vay
t: Thuế TNDN
+ Khi vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu.
Khi doanh nghiệp có dư tiền, có hai tình huống xảy ra:
- Doanh nghiệp có thể trả số tiền đó dưới dạng cổ tức, cổ đông có thể tái
đầu tư cổ tức nhận được vào một tài sản tài chính cùng mức rủi ro.
- Doanh nghiệp sử dụng số tiền này để tái đầu tư và trả các dòng tiền
tương lai dưới dạng cổ tức.
Xét về phía cổ đông sẽ thích hình thức nào thu được lợi tức kỳ vọng cao nhất.
Do vậy, doanh nghiệp chỉ có thể tái đầu tư vào dự án có lợi tức kỳ vọng lớn
hơn lợi tức kỳ vọng của các tài sản tài chính có cùng mức rủi ro.
Lợi tức kỳ vọng chính là chi phí của vốn chủ sở hữu.
 Vận dụng mô hình CAPM:
Lợi tức kỳ vọng của cổ phiếu được xác định:
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp

r
Div
+
+
2
2
)1(
S
r
Div
+
+ … +
N
S
N
r
Div
)1( +
+ ….
r
S
là lợi tức yêu cầu của các cổ đông và chính là chi phí vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp. Nếu cổ tức tăng trưởng với một tỷ lệ không đổi g thì phương
trình trên có thể thu gọn thành:
P =
gr
Div
S

1

Chi phí vốn bình quân được xác định trên cơ sở trọng số của chi phí vốn chủ
sở hữu và chi phí nợ, do vậy nó được gọi là chi phí vốn bình quân gia quyền
của vốn WACC.
Công thức xác định chi phí vốn bình quân gia quyền:
)(
)1(
)(
K WACC
d
ED
E
Kt
ED
D
e
+
∗+−∗
+
∗=
Trong đó:
WACC: lãi suất chiết khấu
K
d
: Chi phí của nợ vay
K
e
: Chi phí vốn cổ phần ( r
S
)
t: Thuế thu nhập doanh nghiệp

WACC: chi phí vốn bình quân gia quyền
Các dòng tiền ở trên được chiết khấu về thời điểm xác định giá trị, cộng dồn
cho kết quả giá trị doanh nghiệp tại thời điểm đó.
1.3.2.6. Bước 6: Phân tích độ nhạy cảm của giá trị định giá với các thay đổi.
Phân tích về mặt lý thuyết cũng như thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố
ảnh hưởng và tác động đến dòng tiền của doanh nghiệp. Các yếu tố tác động
đến dòng tiền được thiết lập trên cơ sở của sự phân bố xác suất và tính kỳ
vọng toán chứ không phải được biết chắc chắn.Vì vậy, khi một biến quan
trọng thay đổi sẽ dẫn đến dòng tiền thay đổi rất lớn, khi đó giá trị doanh
nghiệp sẽ thay đổi theo.
Trong bước này phải đưa ra các trường hợp làm ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện những ảnh hưởng đó qua các con
số, trình bày những thay đổi của các kết quả được tính toán trong từng trường
hợp, đồng thời chỉ ra điểm hòa vốn.
1.3.3 Đánh giá phương pháp chiết khấu dòng tiền
1.3.3.1 Một số phương pháp định giá doanh nghiệp khác
 Phương pháp tài sản ròng
Phương pháp này được xây dựng trên cơ sở các nhận định:
- Doanh nghiệp về cơ bản giống như một loại hàng hóa thông thường
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành trên cơ sở một lượng tài
sản có thực thuộc về doanh nghiệp.
Theo phương pháp này, giá trị doanh nghiệp bằng tổng giá trị thị trường của
tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh.
Phương pháp định giá tài sản thuần xem xét doanh nghiệp trong một
trạng thái tĩnh. Các tài sản được xác định giá trị riêng lẻ mà không tính đến

có giá trị tương đương nhau.
Là một phương pháp đơn giản, phương pháp cho phép ước lượng nhanh
chóng về giá trị doanh nghiệp, được sử dụng phổ biến ở các nước có thị
trường chứng khoán phát triển.
Tuy nhiên, phương pháp định giá theo tỷ số P/E là một phương pháp đòi
hỏi điều kiện về thị trường chứng khoán hoàn hảo, tức là phải thỏa mãn 5 điều kiện:
- Có vô số người bán và người mua
- Các loại chứng khoán có thể thay thế được cho nhau
- Chứng khoán và thông tin được lưu thông tự do
- Việc mua bán chứng khoán có thể diễn ra bất kỳ không gian và thời
gian nào
- Mọi thành viên tham gia thị trường đều nắm và tuân thủ các điều kiện
giao dịch mua bán chứng khoán.
Phương pháp này cũng không đưa ra được những cơ sở để các nhà đầu tư
phân tích, đánh giá về khả năng tăng trưởng và rủi ro tác động tới giá trị
doanh nghiệp.
1.3.3.2 Ưu và nhược điểm của phương pháp chiết khấu dòng tiền
 Ưu điểm
================================================================
Nguyễn Thị Diệp Quỳnh Tài chính doanh nghiệp
45C
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Khác với phương pháp định giá tài sản thuần xem xét doanh nghiệp trong
một trạng thái tĩnh, các tài sản được xác định giá trị riêng lẻ mà không tính
đến mối tương quan giữa chúng. Phương pháp chiết khấu dòng tiền đã tính
đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên các dự báo
về thu nhập hay tỷ lệ cổ tức mà doanh nghiệp phải chi trả. Do đó, doanh
nghiệp được xem xét trong trạng thái động, tính toán tất cả các yếu tố tác
động đến giá trị doanh nghiệp: môi trường vĩ mô, môi trường vi mô từ đó tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status