LỜI NÓI ĐẦU
Trong đại hội Đảng lần thứ VII các nhà lãnh đạo Việt Nam đã khắng
định “Nhập khẩu là biện pháp đầu tiên, quan trọng để hiện đại hoá nhanh
chóng”. Thật vậy, nhìn lại lịch sử kinh tế Việt Nam sau 30 năm giải phóng
miềm Bắc và 10 giải phóng miền Nam với quan điểm tự chủ tự cường và phát
triển đất nước theo cơ chế Kế hoạch hoá tập chung quan liêu bao cấp thì Việt
Nam vẫn là một trong 10 nước nghèo nhất Thế giới với thu nhập bình quân
đầu người là 210 USD. Vì sao vậy ? Một sự vật luôn nằm trong một tổng thể
và có mối liên biện chứng với các sự vật khác trong một thời gian dài càng sẽ
dẫn đến diệt vong. Nhật thức được điều này sau đại hội Đảng lần thứ VI Việt
Nam chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường để công nghiệp hoá
đất nước tiến lên sánh vai với các nước trên Thế giới.
Xuất phát từ một quốc gia phong kiến chiến lược phát triển của Việt
Nam tất nhiên không phải là giở theo từng trang lịch sử công nghiệp hoá mà
thực hiện chiến lược các nước NICS và đã áp dụng thành công. Nhập khẩu
công nghệ máy móc thiết bị kết hợp với các nguồn lực sẵn có trong nước sản
xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu giải quyết công ăn
việc làm, hạn chế tệ nạn xã hội, đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên từng bước
vững chắc. COALIMEX <Công ty Xuất nhập khẩu hợp tác quốc tế > nói
riêng và ngành xuất nhập khẩu của Việt Nam nói chung nhờ chính sách mở
của nền kinh tế và Công ty có những chiến lược kinh doanh đúng đắn, những
biện pháp linh hoạt và nỗ lực của toàn bộ ban lãnh đạo và cán bộ công nhân
viên của Công ty, cho đến nay Công ty đã khởi sắc trong kinh doanh nội địa
cũng như kinh doanh xuất nhập khẩu và uỷ thác xuÍt nhỊp khỈu. Song không
dừng lại ở những gì mình đã đạt được COALIMEX luôn phải nghiên cứu để
tìm ra cho mình một hướng đi thích hợp bảo đảm co sự phát triển lâu dài của
Công ty.
Thực tập tại COALIMEX công ty hoạt động trên phạm vi thị trường
quốc tế rộng lớn tham vọng nghiên cứu hoạt động nhập khẩu trên tất cả các
thị trường trong đó tìm ra những bước đi vững chắc để tồn tại và cạnh tranh
với các nước khác . Việt Nam đang được các nhà kinh tế Thế giới đánh giá là
cho nhà kinh doanh Việt Nam.
Thương mại Quốc tế mặc dù vẫn giữ bản chất là hoạt động mua bán
nhưng do diễn ra trên thương trường quốc tế nên vẫn có những nét khác biệt
so với thương mại trong nước. Xét về mặt chủ thể hoạt động Thương mại
quốc tế do các chủ thể thuộc các quốc tịch khác nhau tiến hành thanh toán
bằng ngoại tệ thường và ngoại tệ mạnh, chịu sự điều khiển của pháp luật và
thông lệ quốc tế, ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng là ngôn ngữ quốc tế. Bởi
vậy, nó đòi hỏi các chủ thể tham gia phải có những kiến thức đầy đủ trên lĩnh
vực này.
Thương mại quốc tế ở nước ta theo như khẳng định của nghị quyết đại
hội Đảng lần thứ VII “Nhằm thúc đẩy” khai thác tiềm năng và thế mạnh của
nước ta một cách có lợi nhất trên cơ sở đó tiến hành phần công lại lao động
khai thác mọi tiềm năng để sản xuất nhiều sản phẩm xuất khẩu, tranh thủ
khai thác được mọi tiềm năng thế mạnh về hàng hoá công nghệ, vốn của
nước ngoài phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta để thúc đẩy quá
trình tái sản xuất tiêu dùng phát triển kịp với tiến trình chung của nhân loại để
thực hiện được mục tiêu này những nhiệm vụ phía trước của Thương mại
quốc tế còn hết sức nặng nề đòi hỏi phải có những chiến lược đúng đắn và
phù hợp.
3
2. Vai trò của nhập khẩu.
Từ một xuất phát điểm thấp để “phát triển kịp với tiến trình chung của
nhân loại” chiến lược duy nhất đúng đắn là nhập khẩu thiết bị công nghệ hiện
đại kết hợp với các nguồn lực sẵn có đẩy mạnh sản xuất trong nước, tạo tiền
đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bởi vậy, ở Việt Nam nhập
khẩu có tầm quan trọng rất đặc biệt.
Trước hết nhập khẩu thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước trên cơ sở quy hoạch nền kinh tế quốc gia nhà nước
Việt Nam bằng các công cụ quản lý nhập khẩu của mình tác động đến hoạt
Khách hàng bắt đầu tin tưởng và ưa chuộng gạo Việt Nam, bên cạnh đó nhập
khẩu còn tạo ra nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giải quyết tình trạng
thiếu nguyên liệu trong nước.
* Ngoài ra nhập khẩu còn thể hiện ưu thế của mình :
- Nhập khẩu phát huy cao độ tính năng động và sáng tạo của mỗi doanh
nghiệp, mỗi tổ chức, mỗi ngành nghề địa phương, mỗi cán bộ tham gia hoạt
động nhập khẩu. Nhờ nhập khẩu mà các luồng thông tin được khai thông, các
mối quan hệ được sử dụng tích cực.
- Kinh doanh hàng nhập khẩu đặc biệt là các loại vật tư nguyên liệu
thúc đẩy cạnh tranh giữa các Việt Nam nhập khẩu cũng như doanh nghiệp sản
xuất tạo ra sự theo dõi chặt chẽ lẫn nhau mà nhờ đó chất lượng kinh tế trong
nước nâng cao, môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn đưa tiến bộ khoa học
công nghệ thường xuyên và có ý thức hơn.
* Nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
dẫn tới việc hình thành các liên doanh giữa các chủ thể trong và ngoài nước
một cách tự giác xuất phát từ lợi ích cả hai bên tạo ra sức mạnh chủ thể trong
nước một cách thiết thực.
* Nhập khẩu cùng các tồn tại và các thành tựu của nó góp phần hoàn
thiện cơ chế quản lý nhập khẩu của Nhà nước cũng như của mỗi địa phương
thông qua các đòi hỏi hợp lý của các chủ thể tham gia nhập khẩu trong quá
trinh thực hiện.
3. Kinh doanh hàng nhập khẩu.
Từ sau khi đất nước ta thay đổi cơ chế (1986) hai từ “Kinh doanh” dẫn
trở nên quen thuộc với người Việt Nam. Vậy kinh doanh là gì ?
* Kinh doanh : kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy, tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào đều có nghĩa là tập
hợp các phương tiện, con người, tư liệu lao động đưa vào hoạt động sinh lợi
cho doanh nghiệp.
nước phát triển có điều kiện hơn hẳn ở Việt Nam mang lại lợi ích, nhưng đó
chỉ là lợi ích trước mắt.
Vì vậy chính phủ và doanh nghiệp phải tranh thủ lợi thế từng thời kỳ để
mở mang sản xuất trong nước tạo nguồn vốn hàng xuất khẩu mở rộng thị
trường nước ngoài tránh nhập khẩu tràn lan, bóp chết sản xuất trong nước.
* Chú ý thích đáng đến nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu :
6
Kết hợp nhập khẩu vật tư thiết bị và hàng tiêu dùng là phương thức tích
luỹ vốn đầu tư lâu dài góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa nhập khẩu tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng.
* Kết hợp nhập khẩu và xuất khẩu :
Trong điều kiện thiếu ngoại tệ mạnh trầm trọng doanh nghiệp sản xuất
cũng như doanh nghiệp thương mại không thể chờ đợi nguồn vốn đầu tư từ
Nhà nước hoặc nước ngoài. Vì vậy bản thân doanh nghiệp phải tạo vốn cho
mình bằng cách tìm kiếm đối tác cho mình để xuất khẩu thu ngoại tệ từ đó có
vốn nhập khẩu đồng thời nhập nguyên liệu, máy móc nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành là tiền đề thúc đẩy xuất khẩu.
II - NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ.
Công tác nhập khẩu nói riêng và thương mại quốc tế nói chung do sự
khác biệt về thể chế và khoảng cách địa lý mà các nghiệp vụ nhập khẩu trở
nên phức tạp hơn nhiều, nó đòi ỏi người tham gia vào hoạt động này không
những biết về chuyên môn mà còn phải hiểu biết về phong tục tập quán của
các nước bạn hàng. Dù là nhập khẩu máy móc thiết bị hay bất cức loại hàng
hoá nào cũng phải tuân theo các thao tác dưới đây.
1. Chuẩn bị trước khi ký kết hợp đồng.
Để ký kết một hợp đồng kinh doanh có lợi thì quá trình chuẩn bị tốt
quyết định 50%, quá trình chuẩn bị được bắt đầu từ nghiên cứu thị trường
nhập khẩu.
a) Nghiên cứu thị trường nhập khẩu.
Tình hình sản xuất mặt hàng đó trong nước và Thế giới ra sao ?
Doanh nghiệp cần quan tâm đến cung nước ngoài về giá cả, khối lượng
sự biến động về nhu cầu trong nước để quyết định nhập khẩu.
Tỷ xuất ngoại tệ mặt hàng đó ra sao ? Dự vào phác thảo kế hoạch nhập khẩu
có thể tính toán tương đối chính xác xuất ngoại tệ của mặt hàng định nhập so
với tỷ giá hối đoài nều nhỏ hơn thì doanh nghiệp không nên thực hiện thương
vụ này.
- Việc lựa chọn hàng hoá nhập khẩu không chỉ dựa vào những tính toán
biểu hiện cụ thể của hàng hoá mà cọn dựa trên cơ sở những kinh nghiệm của
người nghiên cứu thị trường để dự đoán các biến động của giá cả thị trường
trong và ngoài nước, khả năng thương lượng để đạt được điều kiện mua bán
có ưu thế.
* Nghiên cứu dung lượng thị trường.
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một
phạm vi thị trường nhất định trong thời gian nhất định người nghiên cứu thị
trường xác định nhu cầu thật của khách hàng, lượng dự trù xu hướng biến
động của nhu cầu trong từng thời điểm, các vùng các khu vực sản xuất tiêu
8
dùng có nhu cầu lớn, đặc điểm nhu cầu trong từng lĩnh vực sản xuất tiêu
dùng.
* Loại nhân tố làm thị trường biến động có chu kỳ tính thời vụ trong
sản xuất lưu thông phân phối hàng hoá.
* Loại nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến thị trường, như các tiến bộ khoa
học kỹ thuật công nghệ kỹ thuật, các chính sách của Nhà nước, chính cách
của các tập đoàng kinh tế tư bản lớn, thị hiếu tập quns của người tiêu dùng,
ảnh hưởng đến khả năng sản xuất thay thế.
* Loại nhân tố ảnh hưởng tạm thời : như đầu cơ tích chữ gây đột biến
về cung cầu. Các nhân tố về thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, động đất. Các yếu
tố về chính trị - xã hội như đình công có thể làm nhu cầu tăng hay giảm đột
ngột trong thời gian ngắn.
b) Lựa chọn đối tượng giao dịch.
Việc lựa chọn đối tượng giao dịch dựa trên cơ sở nghiên cứu :
- Tình hình sản xuất của hàng, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh để thấy
được khả năng cung cấp lâu dài thường xuyên, khả năng liên kết liên doanh
và đặt hàng sản xuất.
- Khả năng về vốn có cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép xác định ưu thế
thanh toán. Doanh nhân có vốn là cơ hội cho bên Việt nam tín dụng, giải
quyết tính trạng thiếu bốn tạm thời.
- Thái độ và quan điểm kinh doanh, không phải mọi doanh nhân đều có
quan điểm đúng đắn, không có thái độ hợp tác, lựa dối bạn hàng. Do có ít
kinh nghiệp thực tế nên doanh nhân Việt nam nên lựa chọn các bạn hàng có
uy tín lâu năm trên thị trường quốc tế, có quan điểm kinh doanh theo hướng
hai bên cùng có lợi, làm ăn lau dài lấy chữ tín làm đầu.
- Uy tín trên thương trường.
+ Lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nên chọn người xuất khẩu trực
tiếp hạn chế các hoạt động trung gian, song trong một số trường hợp mới
thâm nhập thị trường nên sử dụng trung gian với tư cách đại lý, môi giới có
hiệu quả.
+ Việc lựa chọn đối tượng giao dịch có căn cứ khoa học là điều kiện
quan trọng để thực hiện thắng lợi hoạt động nhập khẩu nhưng công việc này
một phần phải dựa vào kinh nghiệm của người nghiên cứu thị trường.
c) Lập phương án giao dịch.
Lập kế hoạch cụ thể để tiến hành hoạt động bao gồm nhiều chi tiết
trong đó có các vấn đề sau :
- Lựa chọn mặt hàng kinh doanh
- Xác định số lượng hàng nhập tối ưu cho từng đợt nhập qua công thức
D =
Trong đó :
- Các loại hợp đông thường được sử dụng trong nhập khẩu hàng hoá
là :
+ Hợp đồng giao hàng một lần
+ Hợp đồng giao dịch định kỳ.
+ Hợp đồng thanh toán.
+ Hợp đồng chuẩn bị sẵn
- Các phương thức ký kết hợp đồng thường được áp dụng trong các
doanh nghiệp nhập khẩu hiện nay là :
+ Hai bên cùng ký vào một hợp đồng
+ Người mua xác định vào bản chào hàng của người bán.
11
+ Người bán xác nhận văn bản là người mua đã chấp nhận các
điều khoản trong thư chào hàng tự do.
- Các hợp đồng trên chỉ được coi như đã ký kết khi các bên có liên
quan có tư cách pháp lý và đều đã ký hợp đồng. Hợp đồng có 3 bên trở lê phải
được tất cả các bên cùng ký hoặc làm hợp đồng giữa hai bên một.
a) Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Hợp đồng nhập khẩu là loại hợp đồng mua bán đặc biệt trong đó người
xuất khẩu có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua không
cùng đơn vị thường trú trong nước, người nhập khẩu có trách nhiệm thanh
toán khoản tiền bằng trị giá hàng hoá cho người bán qua các phương thức
thanh toán quốc tế. Hợp đồng nhập khẩu có các đặc điểm là luật điều chỉnh
hợp đồng là luật quốc tế. Chủ thể hợp đồng là các đơn vị thường trú khác
nhau hàng hoá thường được chuyển qua biên giới, đồng tiền thanh toán là
ngoại tệ tự do, chuyển đổi ngôn ngữ ở hợp đồng là ngôn ngữ quốc tế, thường
là tiếng Anh.
Hợp đồng nhập khẩu thông thường bao gồm các điều khoản sau :
- Tên địa chỉ, trụ sở giao dịch, điện thoại, FAX, tài khoản ngoại tệ của
các bên tham gia ký kết hợp đồng.
án nào sẽ giải quyết nếu có tranh chấp giữa các bên và chi phí khiếu nại do ai
chịu.
- Ngoài ra còn các điều khoản về lệ phí chi phí, thuế chi phí nhận hàng,
hiệu lực của hợp đồng.
b) Thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Trước kỳ kết hợp đồng phải được chuẩn bị sẵn đầy đủ tránh mọi sai sót
trong khi đàm phán ký kết làm cho các thoả thuận có lợi cả hai bên, tránh các
bất lợi xảy ra cho mình.
Sau khi ký kết hai bên cùng nhau trên tinh thần trách nhiệm và hợp tác
để thực hiện đúng hợp đồng về thời gian quy định. Việc thực hiện hợp đồng
theo các trình tự sau :
* Xin giấy phép nhập khẩu đối với các mặt hàng ngoài ngành nghề kinh
doanh.
Sau khi ký hợp đồng, xin giấy phép nhập khẩu là vấn đề đầu tiên quan
trọng về mặt pháp lý để tiến hành thực hiện hợp đồng. Với mục đích thúc đẩy
thương mại trong nước chính phủ Việt nam đã quyết định trong nghị định
89/CHI PHÝ ngày 15 tháng 12 năm 1998. Kể từ ngày 1/2/1999 ccs doanh
nghiệp Xuất nhập khẩu sẽ không phải xin chuyển nhưng để đa dạng hoá mặt
hàng tận dụng các thời cơ thuận lợi phục vụ yêu cầu tiêu dùng sản xuất Nhà
nước vẫn cho phép các doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng ngoài ngành
nghề kinh doanh nhưng phải xin giấy phép từng lần nhập khẩu tịa Vụ Xuất
nhập khẩu, Bộ THƯƠNG MẠI hoặc qua phòng giấy phép.
* Thuê tầu lưu cước.
13
Trong quá trình nhập khẩu việc ký hợp đồng cũng như chi trả chi phí
thuê tầu tuỳ vào điều kiện cơ sở giao hàng đã quy định trong INCONTERM
90 người nào có trách nhiệm thuê tàu sẽ phải thực hiện.
Ví dụ : Nếu hợp đồng giao hàng là giá CIF hay bất cứ loại giá nào thì
người bán phải thuê tầu, người kỳ hợp đồng thuê tầu phải dựa trên cơ sở :
hiểm thông thường sau.
14
Bảo hiểm bao người nhập khẩu chỉ cần ký hợp đồng từ đầu đến năm
khi cần mua BH coi như bảo hiểm đã được mua bảo hiểm chuyển là phương
thức mà mỗi lần muốn mua bảo biển cho hàng hoá ngươì nhập khẩu phải đến
công ty bảo hiểm để khai báo và mua bảo hiển cho từng chuyến hàng, hình
thức này ít được áp dụng trong các Công ty xuất nhập khẩu hiện nay.
Khi ký hợp đồng bảo hiểm doanh nghiệp phải nắm rõ các điều kiện bảo
hiểm đặc điểm hàng hoá chất lượng tàu chế dự đoán các rủi ro chung ro cố ý
do hao hụt tự nhiên, do bao bì có thể xẩy ra tình hình chính trị thái độ các
nước đối với việt nam mà tầu đi qua và tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của người
nhập khẩu mà có thể chọn một trong các điều kiện sau:
+ Điều kiện bảo hiểm A là điều kiện rộng nhất trong ba điều kiện bảo
hiểm điều kiện này bảo hiểm hầu hết các rủi ro loại trừ các rủi ro chung co cố
ý do hao hụt tự nhiên, do bao bị không phù hợp do tính nội tỳ của hàng hoá
hậu quả do chậm trễ do nô hạt nhân hoặc bất lực tài chính của chủ tàu, không
đáp ứng được chi phí bốc xếp và các loại trừ riêng như tàu không đủ khả năng
đi biển do chiến tranh do nội chién xung đột cấm giữ.
+ Điều kiện bảo hiểm B: điều kiện này chỉ bảo hiểm cho các loại rủi ro
như mắc cạn lật úp, cháy, nổ đâm va, do dỡ hàng ở cảng có nguy hiểm, ném
hàng xuống biển trong trường hợp khẩn cấp hoặc nước trôi do nước biển sông
hồ tràn vào mất nguyên kiện khi đang xép, vận chuyển dỡ những hy sinh cái
nạn cái thiên tai động đất núi lửa phun.
+ Điều kiện bảo hiểm là điều kiện bảo hiểm cso phạm vi hẹp nhất chi
bảo hiểm các rủi ro thuộc 4 rủi ro chính mắc cạn, đâm và lật úp cháy nổ do dỡ
hàng tại cảng nguy hiểm do ném hàng xuống biểm khi nguy cấp do mất
nguyên kiện khi xếp.dỡ vận chuyển do các hy sinh cứu nạn.
Cán bộ khi ký hợp đồng bảo hiểm phải cân nhắc khi mua bảo hiểm vì
điều kiện tuy bảo hiểm trong nhiều trường hợp nhưng lại mất phí bảo hiểm
lwons. Ngày này nhiều Công ty không BH cho hàng hoá khi chắc chắn rằn
vận tải và cả lịch trình của tàu (nếu có).
+Thông báo cho đơn vị uỷ thác nều là nhập uỷ thác
+ Thành toán phí giao thông bốc xếp cho cơ quan vận tải trong trường
hợp tiết nhận hàng hoá thấy không còn nguyên bao nguyên kiện cơ quan vận
tải phải thông báo ngay cho chủ hàng và cùng chủ hàng đổ vỡ phải có biên
bản kết toán nhận hàng với tấu nếu hàng đổ vỡ phải có biên bản hàng hoá đổ
vỡ, khi tầu đi rồi mới phát hiện hàng thiều thì phải xem giấy chứng nhận hành
thiếu. Đơn vị nhập khẩu với tư cách là chủ hàng sẽ lập thủ dự kháng nếu có
ghi ngờ hoặc thật sự hư hỏng.
f - Thanh toán với người xuất khẩu
Hoạch toán là khâu trọng tâm và là kết quả cuối cùng của hoạt động
kinh doanh thương mại quốc tế thông thường có ba phương thức thành toán
sau.
+ Phương thức chuyển tiến.
Người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình chuyển cho người xuất
khẩu số tiền bằng giá trị hàng hoá được ghi trong hợp đồng sau khi nhận được
16
hàng hoặc chứng từ hàng hoá thông thường hàng hoá không đạt yêu cầu
người nhập cơ thể trừ bớt hoặc không trả tiền.
+ Phương thức nhờ thu.
Người xuất khẩu ký phát hồi phiếu đòi tiền người nhập khẩu uỷ thác
cho ngân hàng xuất khẩu đòi bộ số tiền đó người Xuất khẩu có thể nhờ thu
hồi phiếu không kèm chứng từ gọi là hồi phiếu trơm hình thức này bất lợi cho
người Xuất khẩu bởi vì người mua có thể từ chối hoãn trả tiền. Hình thức
thường được sử dụng hơn là hồi phiếu kèm chứng từ với điều kiện kho người
nhập khẩu trả tiền hoặc đồng ý trả tiền mới giao chứng từ để nhập hành tuy
vậy hình thức này người mua vẫn có thể trì hoãn hoặc không trả tiền khi họ
không cần hàng đó.
+ Phương thức tín dụng chứng từ.
- Thời hạn trả tiền có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/c.
- Thời hạn L/c kéo dài theo thời hạn giao hàng.
Thông thường nhà nhập khẩu Việt Nam nếu sử dụng loại L/c không
huỷ bỏ miễn truy đòi ngoài ra còn có các loại L/c khác như: L/c chuyển
nhượng. L/c tuần hoàn, L/c giáp lưng.
* Bộ chứng từ khi thanh toán bằng L/c
Bộ chứng từ mà người xuất khẩu cần trình cho ngân hàng thông thường
bao gồm các loại chứng từ sau:
- Văn hoá thương mại (Invoice)
- vận đơn đường biển.
- Tờ khai hải quan.
- giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality)
- giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of origil)
- Phiếu đóng gói (Packing List)
- giấy chứng nhận vệ sinh phòng dịch.
- giấy chứng nhận bảo hiểm (Certificate Insuarance)
3. Những lưu ý về cơ sở giao hàng doanh nghiệp cần biết
INCOTEKM 82 và sau đó là INCOTEKM 90 đã góp phần quan trọng
thúc đẩy xuất nhập khẩu trên thị trường quốc tế vốn dĩ đã nhộn nhịp. Thông
thường các điều kiện cơ sở giao hàng sau được áp dụng. Dưới đây trình bầy
một số đặc điểm của các điều kiện giao hàng mà các doanh nghiệp còn gặp
nhiều lúng túng.
a. Điều kiện cơ sở giao hàng CIF
Nội dụng cơ bản của nó:
*Về phía người bán.
- Chịu trách nhiệm ký hợp đồng vận chuyển và trả cước phí đến cảng
quy định.
18
- Ký hợp đồng và trả phí bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trên chặng
đồng.
- Về chi phí dỡ hàng: điều B6 quy định người mua phải trả mọi chi phí
và phí tổ liên quan đến hàng hoá không quy định trong giá cước vận chuyển
19
kể cả chi phí san xếp thuê cầu cảng ở cảng bốc vì vậy người nhập khẩu nên
lưu ý điều này.
B/ ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ GIAO HÀNG FOB
* Người bán :
- Giao hàng lên tàu:
- Chịu mọi phí tổn và làm thủ tục thông quan hàng hoá xuất khẩu: giấy
xin phép xuất khẩu, nộp thuế, trả các chi phí liên quan để đưa hàng lên cảng
bốc.
- Cung cấp các chứng từ giấy chứng từ nhận đã giao hàng cho tàu B/L sạch.
- Trả chi phí bốc hàng nếu không tính vào cước vận chuyển.
* Người mua:
- Chỉ định người vận tải và thông báo cho người bán sau khi đã ký kết
hợp đồng và trả chi phí vận tải.
- Trả cho người xuất khẩu số tiền giá trị tương đương với hàng hoá.
- Thông qua nhập khẩu: xin giáy phép nhập khẩu nộp thuế chịu mọi
lan can tàu ở cảng bốc hàng điều này bao gồm người mua phải mua bảo hiểm
cho hàng hoá nều thấy cần thiết.
c - Đối với vận chuyển bằng Container:
- Người nhập khẩu có thể nhận hàng qua phương tiện vận chuyển. Cập
chí qua cách gọi là bài - Bài ở đây việc đóng và dỡ hàn do người chịu, hoặc
giao lẻ ở đó người bán phải đóng hàng chịu chi phí vận chuyển dỡ hàng ở
CFS (bài container) giao cho người mua cách này gọi là trạm - trạn phải lưu ý
rănf CY là bãi container, gần cảng còn CFS là nơi giao nhận kiểm tra đóng
gói hành có thể ở khu vực cảng hoặc sâu trong nội địa.
- Khi giao hành bằng container nên chọn cơ sở giao hàng thay cho FCS
giữa các nền kinh tế với nhau bởi vậy tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhập
khẩu mà chủ thể của hoạt động này là các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu nên
sự phát triển của các doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thức hiện có hiệu
quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong một quốc gia mà sự tác động của
chính phủ quá sâu sẽ không phát huy được sức mạnh của doanh nghiệp gây ra
trí trệ của nền kinh tế.
2 - Ảnh hưởng của sự biến động thị trường trong và ngoài nước.
Ta có thể hình dung nhập khẩu như chiếc cầu nối giữa thị trường trong
và ngoài nước nhằm tạo ra sự phù hợp gắn bò nhưng cũng bởi vậy nó chịu sự
tồn đọng giảm nhu cầu trên một rủi ro này sẽ kéo theo lượng hành qua cầu
nhập khẩu giảm, vậy thị trường ngoài nước quyết định sử thoả mãn nhu cầu
trong nước.
- Yếu tố chu kỳ của nền kinh tế đây là đặc tính tất yếu đã được các nhà
kinh tế chứng minh đặc biệt như là các nền kinh tế phát triển như tây âu và
bắc mỹ do thị trường luôn luôn biến động nên chu kỳ kinh tế ngày càng ngằn
lại mặt khác chân kết của các nhà tư bản vươn ra khắp châu lục vì vậy khi
21
khủng hoảnh thì thị trường co lại và khi hưng thịnh nó lại mở rộng ra kéo theo
sự biến động thị trường thế giới, bởi vậy phải thường xuyên đưa ra chính sách
nhập khẩu phù hợp quy luật từng thời kỳ.
- Nhân tố cạnh tranh đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến nhập khẩu, nó
xẩy ra giữa người mua khi hành hoá khan hiếm và dư thừa khi cung lớn hơn
cầu, cuộc cạnh tranh giữa người bán bao giờ cũng có lợi cho nhập khẩu.
Ngoài ra còn phải chú đến cạnh tranh trong thị trường nội địa mà từ đó có thể
dẫn tới dư cầu hay dư cung bất ngời ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
- Nhân tố thiên tai: Thiên tai là lụt bão, hạn bán có thể xẩy ra trên nước
bạn làm gián đoạn hay cắt đứt các hợp đồng nhập khẩu làm giảm lượng hàng
nhập khẩu trong các yếu tố khác như lạm phát hàng hoá sản xuất bổ xung
hàng hoá thay thế nhập khẩu cũng có tác động nhất đên nhập khẩu.
3 - Ảnh hưởng của giao thông vận tải và liên lạc.
nhập khẩu các mặt hành cho phù hợp sử dụng các công cụ quản lý một cách
hữu hiệu. Sự biến động của môi trường như vẫn đề hoá chính trị sự thay đổi
trong thị hiếu tiêu dùng sự biến chuyển trong quan hẹ ngoài giao.
6 - Các công cụ quản lý nhập khẩu của Việt nam.
Để bảo hộ cho nền kinh tế trong nước chính phủ Việt nam rất chủ trọng
đề quản lý các hoạt động nhập khẩu công cụ quản lý nhập khẩu của từng Nhà
nước là khác nhau một số nước quản lý bằng thuế một số quản lý bằng ngoại
tệ, hạn ngạch Muốn nhập khẩu đúng pháp luật doanh nghiệp phải nghiên
cái quy định cụ thể và tỷ mỷ các cả Việt nam và các nước bạn hành, công cụ
quản lý nhập khẩu của Việt nam hiện nay là.
a) Thuế nhập khẩu.
Mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là để góp phần phát triển và
bảo về sản xuất trong nước hướng dẫn tiêu dùng trong nước và tạo nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước.
Hàng hoá nhập khẩu vào Việt nam bị đánh thuế theo luật thuế do quốc
hội nước CHXNCHNN ban hành ngày 26/12/1994. Có nhiều cách đành thuế
khác tình theo tỷ lệ phấn trấn trên tổng giá trị hàng hoá hoặc kết hợp cả hai.
Ở Việt nam cách tính thuế của mặt hàng đó. Thuế suất được ghi trong
biểu thuế quan và xác định trên cơ sở chính sách nhập khẩu có hai mức thuế.
Thông thường và ưu đãi.
* Thuế ưu đãi dành cho hàng nhập khẩu từ các nước được hưởng quyền
đãi ngộ theo hiệp định MFN đã ký của chính phủ, các loại này có thể tính
riêng hoặc tình theo mức thông thường rồi giảm đi một số phần trăm nhất
định theo luật thuế Việt nam mức ưu đãi này không quá 50% so với thuế suất
thông thường.
* Thuế thông thường là mức đáng vào hành nói chung không phụ thuộc
vào xuất xứ từ nước nào. Để khuyến khích nhập khẩu luật thuế còn quy định
các trường hợp miễn giảm thuế.
- Hàng được miễn thuế là:
Đối với những nước thiếu ngoại tệ như Việt nam áp dụng các biện pháp
kiểm soát ngoại tệ bằng cạch điều tiết nhập khẩu một số sản phẩm qua phân
phổi ngoại tệ của ngân hàng Nhà nước ở nước ta hiện nay quy định các doanh
nghiệp nhập khẩu phải nộp toàn bộ số ngoại tệ thu được vào ngân hàng không
được dùng ngoại tệ trong buôn bán trao đổi trong nước, bên cạnh đó chính
phủ dùng cộng cụ tỷ giá hồi đoái qua ngân hàng trung ương khuyến khích
nhập khẩu theo nguyên lý trị giá đồng tiền nội địa càng thúc đẩy nhập khẩu
chế độ một tỷ gái như hiện nay chưa thực sự khuyên khích nhập khẩu.
24
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU HỢP TÁC QUỐC TẾ .
I- QUÁ TRÌNH HÍNH THÀNH VÀ PR CỦA CÔNG TY.
1 ) Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty Xuất nhập khẩu hợp tác Quốc tế (tên giao dịch coalimex) là
một đơn vị thành việc của tổng Công ty than Việt nam, Công ty là một đơn vị
kinh tế độc lập có tư cách pháp nhận có con dấu riêng Công ty trách nhiệm
kinh doanh các mặt hàng về than và Xuất nhập khẩu uỷ thác. Tỏng quá trình
hoạt động Công ty đã trải qua nhiều quá trình hình thành và phát triển. Từ
thành 12 - 1981 trở về trược tiến thân của Công ty là Công ty cung ứng vật tư
và Xuất nhập khẩu than. Đến 1 - 1995 Công ty được đổi tên là Công ty Xuất
nhập khẩu than và cung ứng vật tư Công ty chính thức đi vào Công ty Xuất
nhập khẩu than và cung ứng vật tư Công ty chính thức đi vào hoạt động năm
1982. Trong quá trình hoạt động Công ty thực hiện các chức năng sau:
- Xuất nhập khẩu than.
- Tiếp nhận vật tư thiết bị phục vụ ngành than.
- Tiếp nhận bảo quản cung ứng vật liệu nổ cho ngành than.
- Sản xuất thuốc nổ công nghiệp.
- Sản xuất bình áp lực.
- Công ty có 4 đơn vị trực thuộ thực hiện các chức năng kinh doanh của