giải pháp quản lý dự án trong ngành bia việt nam - Pdf 10

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TRONG NGÀNH BIA
I - Khái niệm và nội dung của quản lý dự án
1. Khái niệm
Phương pháp quản lý dự án là một phương pháp quản lý tiên tiến, được áp
dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự Mỹ, đến nay nó nhanh chóng được ứng
dụng rộng rãi vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Quản lý dự án là việc áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật
vào hoạt động dự án nhằm đạt được những yêu cầu và mong muốn từ dự án.
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát
một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đạt được những mục tiêu về
thời gian, chi phí, kỹ thuật và chất lượng.
2. Nội dung quản lý dự án
 Quản lý phạm vi: Là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích,
mục tiêu của dự án, xác định công việc nào phụ thuộc về dự án và cần phải
thực hiện, công việc nào ngoài phạm vi của dự án.
 Quản lý thời gian: là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ
thời gian hoàn thành dự án. Nó chỉ rõ mọi công việc kéo dài bao lâu, khi nào
bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án bao giờ sẽ hoàn thành.
 Quản lý chi phí: là quá trình dự toán kinh phí, giám sát thực hiện chi
phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án. Là việc tổ chức, phân
tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí.
 Quản lý chất lượng: là quá trình triển khai giám sát thực hiện những
tiêu chuẩn chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm
dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư.
 Quản lý nhận lực: là việc hướng dẫn, phối hợp những nỗ lực của mọi
thành viên tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án. Nó cho thấy
việc sử dụng lực lượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào?
 Quản lý thông tin: là quá trình đảm bảo các dòng thông tin thông suốt
một cách nhanh nhất và chính xác giữa các thành viên dự án và với các cấp

Bất kỳ một dự án đầu tư cho bất kỳ một loại hình sản phẩm nào đó đều có
chu kỳ sống của nó hay gọi cách khác là vòng đời dự án.
1. Ý đồ về dự án
Trong giai đoạn này, công việc chính là đánh gía sự thay đổi tiềm năng,
nhu cầu của thị trường hay sự thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh
2
hiện tại, đưa ra yêu cầu “nghiên cứu tiềm khả thi”. Việc lựa chọn dự án trong
thời gian này là quyết định, mà nó mang tính sách lược phụ thuộc vào các
mục đích của tổ chức, nhu cầu của thị trường, các dự án đang diễn ra. Trong
giai đoạn này, khoản lợi nhuận ước tính của dự án, định giá chi phí và rủi ro,
ước tính nguồn lực yêu cầu là những yếu tố cần cân nhắc. Hành động quan
trọng bao gồm các quyết định “mua hay bán” máy móc thiết bị, việc lập kế
hoạch dự phòng cho các lĩnh vực có rủi ro cao và việc lựa chọn ban đầu các
nhà thầu và các thành viên tham gia vào dự án.
Ngoài ra ban quản lý cần phải cân nhắc các khía cạnh về kỹ thuật và quá
trình phát triển công nghệ, hoạt động dự án, các yếu tố ảnh hưởng tới môi
trường liên quan tới quy định của Chính phủ, các chính sách của Chính phủ,
thị trường tiềm năng và sự cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước
ngoài vẫn luôn phải phân tích kỹ.
2. Chuẩn bị đầu tư
Trong giai đoạn này, cân nhắc đánh giá những ưu nhược điểm mang tính
sách lược và điều chỉnh những vấn đề chưa hợp lý- “Nghiên cứu khả thi” cơ
cấu tổ chức của dự án được hình thành như đã đề cập ở phần trên.
Khi đưa ra quyết định, các vấn đề về giao tiếp và thủ tục hành chính và
các báo cáo cũng phải được đề ra. Giai đoạn này người quản lý lập kế hoạch
dự án với đầy đủ chi tiết kế hoạch thực hiện và ngân sách. Nếu giai đoạn này
đã được thông qua sẽ tiếp tục tiến hành giai đoạn thiết lập dự án chi tiết, giai
đoạn sản xuất, giai đoạn kết thúc.
3. Thực hiện dự án đầu tư
Đây là một giai đoạn trong vòng đời của dự án khi mà các kế hoạch đã

hoạch thực hiện và kinh phí sẽ phải được điều chỉnh theo tình hình thực tế.
Trong giai đoạn này nhiệm vụ của ban quản lý là giao việc cho các bên tham
gia giám sát tiến trình thực tế và so sánh với kế hoạch gốc. Do vậy, việc thành
lập hệ thống giám sát và thông tin tốt là cần thiết.
Việc trợ giúp sản phẩm hay hệ thống trong suốt vòng đời dự án đòi hỏi sự
quan tâm của ban quản lý. Trong hầu hết các dự án mang tính kỹ thuật quá
trình sản xuất phải được tiến hành một cách sát xao, cẩn thận. Việc chuẩn bị
phải tỷ mỷ và đầy đủ tài liệu, đào tạo nhân sự, bảo dưỡng, mua phụ tùng. Nếu
không quan tâm tới giai đoạn này có thể dẫn đến sự thất bại của dự án.
5. Giai đoạn kết thúc
Trong giai đoạn này, mục tiêu của ban quản lý là để củng cố những cái đã
qua và rút kinh nghiệm. Trong bài học hiện tại và kinh nghiệm sẽ là cơ sở
nâng cao trình độ thực hành. Sự thành công của dự án có thể mang lại cho
chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu, nhưng sự thất bại còn giúp cho chúng ta
4
nhiều hơn. Khi mà chúng ta rút kinh nghiệm và dám nhắc lại bài học đó thì sẽ
có ích hơn nhiều so với những bài học trống rỗng. Các dữ liệu chúng ta lưu lại
và việc thu thập thông tin về chi phí, kế hoạch việc sử dụng nguồn lực .v v
là tài sản của tổ chức. Thông tin chính xác và đầy đủ là nhân tố chính của sự
thành công của dự án trong tương lai.
III. Quá trình thực hiện dự án
Để triển khai một dự án đầu tư từ ý đồ sản xuất kinh doanh một cách có
hệ thống, người ta thường thực hiện các bước sau:
1. Chuẩn bị đầu tư
 Nghiên cứu cơ hội đầu tư: Cần phải tìm hiểu tình trạng của loại sản
phẩm này ở trên thế giới, khu vực và trong nước, tình hình sản xuất kinh
doanh và bổ sung của chủng loại sản phẩm dự kiến sẽ sản xuất, nhu cầu của
xã hội đối với chủng loại này ra sao, tình hình kinh tế có gì biến động không,
chính sách có gì tác động đến việc sản xuất kinh doanh loại sản phẩm này
 Nghiên cứu tiền khả thi: sau khi đã có những đánh giá khả quan về

Bước này tiến hành các chi tiết cụ thể bao nhiêu, thì sự sai xót trong quá trình
thực hiện càng giảm đi bấy nhiêu.
2.3- Mua sắm thiết bị và xây lắp công trình
Nhà thầu trúng thầu (đã được các cấp có thẩm quyền chấp nhận) sẽ là
nhà cung cấp thiết bị, bản vẽ (kỹ thuật, công nghê, xây lắp) cho dự án đầu tư,
lịch trình cung cấp thiết bị sẽ được nhà thầu thông báo cụ thể bằng văn bản
(được thể hiện bằng hợp đồng). Từ đây ta sẽ lập kế hoạch cụ thể về tiến độ
xây lắp. Việc giám sát kỹ thuật xây lắp là rất quan trọng, máy móc thiết bị
trong dây truyền hoạt động có chính xác không, các chỉ tiêu kỹ thuật có đảm
bảo không, phần lớn phụ thuộc vào giai đoạn này.
2.4- Đào tạo công nhân kỹ thuật
Để đáp ứng cho giai đoạn sản xuất của dự án đầu tư, việc đào tạo công
nhân kỹ thuật là rất cần thiết. Công việc này cần được tiến hành trước, hoặc
song song với những công việc khác, điều này phụ thuộc vào quy mô đầu tư
của dự án.
2.5- Vận hành thử, điều chỉnh
Sau khi xây lắp xong, người ta cần phải tiến hành chạy thử để điều chỉnh
các chỉ tiêu kỹ thuật cho khớp với thiết kế đã được duyệt. Khi chạy thử cần
tiến hành chạy thử từng công đoạn. Sau khi kiểm định từng công đoạn trong
dây chuyền hoạt động đúng các chỉ tiêu cho phép, lúc bây giờ mới được phép
chạy thử toàn bộ dây chuyền sản xuất. Thời gian chạy thử trong một vài ngày
hoặc một vài tuần lễ.
6
2.6- Nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng
Kết thúc giai đoạn chạy thử là giai đoạn bàn giao và đưa dây chuyền vào
sản xuất.
3. Giai đoạn vận hành
3.1- Giai đoạn vận hành chưa hết công suất
Thời gian đầu, dây chuyền sản xuất không hết công suất, vì để thăm dò thị
trường và rà trơn máy móc thiết bị, nếu thị trường có phản ứng thì doanh

nhược điểm. Từ đó có sự điều chỉnh thích hợp đáp ứng những đòi hỏi của
khách hàng.
• Những chính sách của Nhà nước đối với mặt hàng này như thế nào,
thuận lợi, khó khăn.
Tất cả thông tin cần được thu thập đầy đủ và phải được xử lý một cách kỹ
lưỡng. Đây là nền móng cho các bước tiếp theo để thực hiện dự án đầu tư.
4.2- Tiêu chuẩn kinh tế - tài chính
Bất kỳ một dự án nào cũng đều nhằm vào mục đích nhất định, đối với các
doanh nghiệp lợi nhuận là mục tiêu trước hết. Tiêu chuẩn về kinh tế - tài
chính là then chốt của dự án đầu tư, nó bao trùm lên toàn bộ dự án đầu tư. Để
giúp cho người quản lý trong việc quyết định đầu tư, người ta thường tìm hiểu
về tài chính như NPV, IRR, suất đầu tư, hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đánh giá dự án đầu tư theo tiêu chuẩn sau:
 Hiện giá thu nhập thuần (NPV)
( ) ( )
∑∑
==
+

+
=
n
0i
i
n
0i
i
i
r1
C

( )
( )
)C(PV
)B(PV
r1
1
C
r1
1
B
C
B
n
0i
i
i
n
0i
i
i
=
+
+
=


=
=
PV(B) : Giá trị hiện tại của các khoản thu
PV(C) : Giá trị hiện tại của các khoản chi phí.

Tiêu chuẩn thời gian hoàn vốn T thường áp dụng đối với dự án có tính rủi
ro cao. Tuỳ thuộc từng dự án, khi đánh giá hiệu quả kinh tế ta có thể áp dụng
tất cả các tiêu chuẩn hoặc chỉ áp dụng một số tiêu chuẩn.
 Hệ số hoàn vốn nội bộ.
RR
i
=
W
ipv
: Lợi nhuận thuần thu được năm i tính theo mặt bằng hiện tại.
I
v0
: Vốn đầu tư tại thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động.
4.3- Tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội
• Khi dự án được đưa vào hoạt động có những tác động gì đến nền kinh
tế của đất nước, hay nói cách khác đã đem lại lợi ích gì cho xã hội.
• Nộp ngân sách dự kiến là bao nhiêu
9
• Giải quyết, đào tạo được bao nhiêu lao động có tay nghề đáp ứng
được cho sản xuất
• Tác động đến những ngành sản xuất khác
• Sản phẩm có tác động như thế nào đến thị trường
• Việc sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước ra sao
4.4 - Tiểu chuẩn về bảo vệ môi trường
Trong giai đoạn hiện nay, khi tiến hành một dự án đầu tư chúng ta không
chỉ chú trọng tới các chỉ tiêu kinh tế – tài chính, kinh tế – xã hội mà chúng ta
bắt buộc phải thực hiện luật bảo vệ môi trường.
Sản phẩm được sản xuất theo công nghệ nào?, có đáp ứng được những
tiêu chuẩn về môi trường của đất nước không?
Các chất thải do quá trình sản sản xuất sinh ra là loại gì? Chất thải lỏng,

vào đó, Bia còn có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mờ đục nhãn
mắt, đặc biệt là ở những người mắc bệnh đái đường; giảm các cơn đau tim và
đột quỵ. Bia còn giúp cho tăng trí thông minh, giảm nguy cơ mắc bệnh
Alzheimeir.
Khi uống bia so sánh các loại thành phẩm khác, uống 500ml bia thì nó
cung cấp tương đương 100g bánh mì, 300g khoai tây, 300ml rượu vang 12
0
,
25ml dầu và 300g bơ.
Qua khảo sát thực tế người tiêu dùng, người ta phân loại bia theo chất
lượng:
 Bia chất lượng cao:
Khách hàng công nhận các sản phẩm bia chất lượng cao do các liên doanh
nước ngoài, các nhà máy bia nhập công nghệ và thiết bị nước ngoài sản xuất
tại Việt Nam, bao bì bằng lon hay bằng chai với nhãn hiệu nổi tiếng như:
Tiger, Heineken, Halida Các sản phẩm bia khác hiện nay cũng được khách
hàng ưa chuộng và công nhận bia có chất lượng cao như: Sài Gòn, Hà Nội
 Bia chất lượng phổ thông:
Do các doanh nghiệp sản xuất bia đầu tư thiết bị và công nghệ trong nước.
Chất lượng ngày càng được ổn định và nâng cao đảm bảo các tiêu chuẩn Nhà
nước TCVN. Loại bia này được đông đảo khách hàng ưa chuộng. Giá bán trên
thị trường từ 3000 - 5000 đồng/lít.
Theo các nhà khảo cổ học, dụng cụ nấu bia đầu tiên có nguồn gốc từ
người Babilon, được chế tạo từ trước Công nguyên. Sách cổ ghi do một ông
vua Arập đã dạy cách làm đồ uống này từ đại mạch. Người cổ ở Trung Quốc
cũng làm ra thứ đồ uống này từ lúa mì, lúa mạch được gọi là "Kju". Bia từ đây
mới truyền sang Châu Âu đến thế kỷ IX người ta mới bắt đầu dùng hoa
11
Houblon và đến thế kỷ XV thì hoa Houblon mới được dùng chính thức để
hương vị cho bia.

Ngành bia còn là ngành thu hút một lượng lao động đáng kể, tận dụng các
nguồn nội lực trong nước và có điều kiện mở rộng ra thị trường thế giới.
Vì vậy, sản phẩm của ngành chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Ngành đã được đầu tư cơ sở vật chất tương đối lớn, nhiều cơ sở có
thiết bị, công nghệ hiện đại, tạo ra nhiều sản phẩm có tín nhiệm với người tiêu
dùng trong nước hoặc khu vực như bia Hà Nội, bia Sài Gòn.
Từ chỗ chỉ có 2 nhà máy bia là bia Sài Gòn và bia Hà Nội, thì nay cả nước
có 469 cơ sở sản xuất với năng lực 1021 triệu lít/năm. Với tốc độ tăng trưởng
nhanh, đáp ứng về số lượng cũng như chất lượng, dần dần thay thế sản phẩm
nhập khẩu và nâng cao giá trị nông sản thực phẩm.
II. Đặc điểm thị trường bia Việt Nam
Sản xuất đồ uống là ngành có lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới,
nhưng ở Việt Nam mới phát triển trên 100 năm. Đây là ngành sản xuất không
những cần thiết cho nhu cầu tiêu dùng, mà còn là ngành đem lại lợi nhuận cao
và đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước. Trong những năm gần đây, nhu cầu
tiêu dùng đồ uống trên Thế gới vẫn có xu hướng tăng, thị trường không ngừng
được mở rộng.
Đối với thị trường Việt Nam, từ những năm 90 trở lại đây, do nền kinh tế
xã hội phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng đồ
uống tăng, đặc biệt là nhu cầu về bia ngày càng tăng, bình quân đầu người
tiêu dùng trong cả nước khoảng 8 lít/người/năm. Các công ty lớn như Công ty
Bia Sài Gòn, Công ty Bia Hà Nội của Nhà nước hoặc các Công ty liên doanh,
có vốn đầu tư lớn sản xuất và chiếm lĩnh thị trường ở các vùng Thành phố
đông dân, các khu công nghiệp lớn
Xét thực tế thị trường hiện nay, ta thấy các công ty liên doanh sản xuất
bia với nước ngoài chững lại, sản phẩm của họ đã chiếm được một phần thị
trường, nhưng trong xu hướng hiện tại, sản phẩm của họ không còn nhiều
người ưa dùng nữa. Bia Halida và bia Carlberg đã mất nhiều thị trường, bia
BGI, San Miguel, Red Horse chưa chiếm lĩnh được bao nhiêu thị trường,
các loại bia liên doanh này đang gặp rất nhiều khó khăn trong tiêu thụ và sản

quản lý ngành và các cơ quan quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
môi trường.
Theo nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng, người ta kết luận rằng: sản xuất bia
hơi 10
0
mới đúng "gu" của người Việt Nam. Ở các nước phương Tây, người
14
ta sản xuất bia 12
0
là chính, còn ở Việt Nam bia hơi 12
0
sẽ bán được ít do
người nhậu cũng chóng xỉn hơn mà giá thành thường lại cao.
Tóm lại, do nhu cầu thị trường và sự tiến bộ của khoa học công nghệ,
hàng loạt các nhà máy và các cơ sở sản xuất bia được xây dựng, lắp đặt theo
nhiều quy mô khác nhau: từ vài trăm nghìn lít/năm đến hàng chục triệu
lít/năm. Địa điểm được phân bố ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Nhiều
hãng bia nước ngoài đầu tư liên doanh sản xuất bia ở Việt Nam. Do đó mức
tăng trưởng sản xuất bia ở Việt Nam tăng nhanh - cụ thể sau: (trang sau).
Từ số liệu thống kê cho thấy: từ năm 1994 - 1998 sản lượng bia của nước
ta đạt mức tăng trưởng cao, ở thời kỳ này hàng loạt các nhà máy, cơ sở sản
xuất mới được xây dựng đi vào sản xuất. Từ năm 1999 đến 2000 sản lượng
bia có mức độ tăng trưởng chậm lại, nguyên nhân chính là do hiệu quả sản
xuất kinh doanh kém, việc quản lý các dự án không được tiến hành triệt để.
15
Bảng 5 : Mức tăng trưởng sản lượng Bia của Việt Nam từ 1990 đến 2000
TT Năm Tổng sản lượng
(triệu lít)
Mức tăng trưởng
(triệu lít)

, thiết bị xử lý nước nấu và
phục vụ sản xuất, hệ thống xử lý chất thải
Dưới đây là danh sách một số hãng đã cung cấp thiết bị cho ngành sản
xuất bia và đã được thị trường Việt Nam chấp nhận.
Bảng 4 : Một số hãng sản xuất thiết bị, công nghệ sản xuất bia lựa chọn đầu

Khu vực sản xuất Hãng sản xuất thiết bị Nước sản Hãng ưu tiên
16
xuất thiết bị lựa chọn
1. Nhập và xử lý nguyên
liệu
Seeger, Wihelm Kunzel, Kulmbach
Buhler GmbH, Steinecker GmbH ,
Kuzel
Đức
Đức
Seeger
2. Hệ thống nhà nấu
Máy lọc hèm
STEINECKER
MEURA
Đức
Bỉ
STEINECKR
MEURA
3. Hệ thống gây men giống Gresser, Regensburg Đức Gresser
4. Tank lên men unitank Schmidding Werke, Ziemann,
Gresser,Regensburg
Đức Schmidding
Werke

SEEGER,BuseAnlagenbauGmbH
Bad Honningen
Đức
Đan mạch
SEEGER
9. Hệ thống xử lý nước nấu Kyll GmbH, Bergisch Đức
10. Hệ thống nồi hơi Loos Đức Loos
11. Hệ thống máy lạnh GEA Ahlborn GmbH,
ABB Kalteanlagen GmbH
Đức ABB Kalteanlagen
GmbH
12. Hệ thống máy nén khí Atlas copco GmbH
Igersonll - Rand GmbH
Đức Atlas copco
GmbH
2. Công nghệ sản xuất bia
Quy trình công nghệ được tóm tắt như sau:
Nguyên liệu đưa vào sản xuất ngoài malt, đại mạch, còn một phần là gạo,
houblon và một số phụ gia khác. Gạo và malt được đưa vào Silo chứa, từ đó
được chuyển sang thùng Hopper để ngâm, rửa sạch, để ráo nước rồi đưa tới
bộ phận xay nghiền nguyên liệu thành các mảnh vỏ nhỏ tạo điều kiện cho quá
trình chuyển hoá nguyên liệu và trích ly tối đa dung dịch nấu bia. Nguyên liệu
sau khi đã xay nghiền được chuyển tới nồi nấu malt theo tỷ lệ quy định công
nghệ của Công ty bia Sài Gòn. Tại đây tinh bột và protein được phân huỷ để
tạo thành đường, axit amin và các chất hoà tan khác rồi chúng đưa qua lọc
hèm để tách đường và các chất hoà tan ra khỏi bã bia. Dung dịch này được
gọi là "nước nha". Tiếp theo nước nha được đưa tới nồi nấu có chứa houblon
để ổn định thành phần của nước nha và làm cho nước nha có hương vị của
hoa houblon. Sau khi kết thúc thời gian đun sôi, dịch đường được lọc để loại
17

SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIA

Xuất xưởng bia thùng

Nhập kho xuất
xưởng bia lon Nhập kho xuất
xưởng bia chai
19
Malt
Gạo, Ngô
Nước
Đường, sirô
Hoa bia
Nghiền
Ngâm, nấu
trộn - đường hoá
Lọc
Đun sôi
Lắng cặn
Làm lạnh
Thổi oxy
Giống
(nấm men )
Lên men
Tàng trữ
Lọc bia
Bổ sung CO

số vốn đầu tư trên 600 tỷ đồng và đã thực hiện gần 200 tỷ đồng.
Theo số liệu thống kê, ngành bia có các loại hình doanh nghiệp sản xuất
bia như sau:
TT Loại hình sở hữu
Số cơ
sở
CS thiết
kế
(triệu lít)
SL.thực
hiện
(triệu lít)
Hiệu
suất
(%)
Tỷ trọng
(%)
1 Quốc doanh TW 2 205 219 107,0 32,8
2 Liên doanh nước ngoài 6 355 167 49,8 25,0
3 Bia địa phương, tư
nhân, cổ phần
461 461 283 61,3 42,2
Tổng cộng 469 1.021 669 100,0
1. Công ty bia Trung ương
Tháng 10/1995, Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát được thành lập
theo mô hình quyết định 90/ TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Thủ tướng
chính phủ . Trong đó công ty bia Sài Gòn và Công ty bia Hà nội là hai doanh
nghiệp lớn của Tổng công ty chiếm 35,4% thị phần trong cả nước, lợi nhuận
hàng năm do hai công ty này mang lại 445,69 tỷ đồng. Hai công ty này hoạt
động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả do làm tốt công tác quản lý các

đồng)
I
Bia Trung
ương
1
Công ty Bia Hà
Nội
50 237.904 45,9 394.000 87.000 223.000
2
Công ty Bia Sài
Gòn
160 153.689 173,0 1.870.162 358.691 1.020.589
Tổng cộng 210 319.593 218,9 2.264.162 445.691 1.243.589
Qua phân tích và đánh giá ta thấy:
* Suất đầu tư bình quân của các doanh nghiệp
Quốc doanh Trung ương
1.521,9 đ /lít bia
* Lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp
Quốc doanh Trung ương
2.122,3 đ /lít bia
* Nộp Ngân sách bình quân của các doanh nghiệp
Quốc doanh Trung ương
5.921,9 đ /lít bia
* Doanh thu bình quân của các doanh nghiệp
Quốc doanh Trung ương
10.781,7 đ /lít bia
* Bình quân lao động cho sản xuất kinh doanh
12,5 người /triệu lít bia
1.1- Công ty bia Hà nội
21

triển ồ ạt từ năm 1990 trở lại đây, nhưng đều là quy mô nhỏ, chỉ có 23 nhà
máy có công suất 3 triệu lít/năm, 30 nhà máy có công suất từ 1-2 triệu lít/năm,
còn lại đều có công suất dưới 1 triệu lít/năm.
Những nhà máy bia địa phương này nhập thiết bị đồng bộ từ nước ngoài,
chủ yếu là Cộng hoà liên bang Đức, Đan Mạch , nhiều nhà máy đã tự động
hoá từng phần, song chủ yếu sản xuất vẫn cơ giới, năng suất lao động cao,
22
chất lượng sản phẩm tốt. Một số cơ sở nhập công nghệ hay licence nước
ngoài. Các cơ sở này do suất đầu tư cao, sản xuất kinh doanh thiếu kinh
nghiệm, không có thị trường tiêu thụ, "gu" bia chưa hợp với thị hiếu người
tiêu dùng nên hiệu quả chưa cao, làm ăn thua lỗ, nợ Nhà nước hàng trăm tỷ
đồng.
Điều rõ nhất là 12 nhà máy bia địa phương, nhập thiết bị đồng bộ, tiên
tiến của nước ngoài. Mỗi nhà máy có vốn đầu tư 60 - 70 tỷ đồng, hoàn toàn
bằng vốn vay, nâng tổng số lên 1000 tỷ đồng. Nhưng do quy mô nhỏ (3-5
triệu lít/năm), suất đầu tư cao, bất cập với kỹ thuật công nghệ nên bia chai
làm ra không tiêu thụ được, nay chủ yếu phải tạm làm bia hơi. Doanh thu
thấp, không có khả năng hoàn vốn và trả nợ Ngân hàng, các nhãn hiệu bia
Kaiser, Nager, Henninger, Viger, Habada, Nada, Vida, Timer, Beyker là
hậu quả của những đầu tư sai, mà khi xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật
chắc rằng đều kết luận có hiệu quả cao !!! còn hiện nay đang khó khăn, chưa
có hướng giải quyết.
Bảng 3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Quốc doanh địa phương
Đơn vị Công suất Vốn đầu tư Sản lượng Doanh thu
1997
Lợi nhuận
1997
Nộp ngân sách
thiết kế (triệu

1280,59%
* Nộp Ngân sách
908,83%
* Doanh thu
439,18%
* Bình quân lao động
44,02%
Qua bảng so sánh trên cho ta biết, cùng nguồn vốn Nhà nước song kết quả
sản xuất kinh doanh tại khu vực Trung ương mang lại lợi nhuận nhiều hơn
cho Đất nước và cho doanh nghiệp. Từ đây ta cũng có thể thấy được việc đầu
tư phải tính toán kỹ lưỡng nhất là những bước ban đầu chuẩn bị dự án.
3. Bia liên doanh
Bia liên doanh là một dạng đầu tư mới, đồng bộ, nhiều bộ phận tự động.
Do đó suất đầu tư cho 1 triệu lít là cao nhất: 10.352 triệu đồng/ 1 triệu lít.
Những hãng bia này cung cấp cho thị trường 167 triệu lít, chiếm 25% thị
phần, nhưng phát huy công suất thấp (47,04%). Đó là do sản xuất ra sản phẩm
bia chưa phù hợp với người tiêu dùng, giá bán sản phẩm cao, đối tượng tiêu
dùng chọn vào những người có thu nhập cao, bán chủ yếu ở các nhà hàng,
khách sạn Vì vậy, 13 liên doanh được cấp giấy phép nhưng chỉ có 6 liên
doanh vẫn đang hoạt động. Liên doanh bia Hà Tây cũng mới xây dựng nhà
xưởng để lâu chưa lắp máy. Một số liên doanh quá lỗ như BGI Tiền Giang,
BGI Đà Nẵng phải bán cho hãng Foster's (Úc) thành 100% vốn nước ngoài,
còn BGI Hải Phòng phải rút giấy phép đầu tư, liên doanh bia Khánh Hoà cũng
thành 100% vốn nước ngoài và mang tên Rồng Vàng - Khánh Hoà.
4. Các doanh nghiệp sản xuất bia của các thành phần kinh tế khác
Sự đầu tư phát triển của các doanh nghiệp bia lớn ở Trung ương và ở các
địa phương, cùng 6 liên doanh với nước ngoài không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu
dùng trong nước. Vì vậy, hơn 300 cơ sở sản xuất bia hơi ở các địa phương và
của các thành phần kinh tế khác phát triển, cung cấp trên 100 - 200 triệu lít
bia/ năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status