Danh mục các chữ viết tắt
AFTA _ Asean Free Trade Area _ Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
APEC_ Asia- Pacific Economic Cooperation _ Hội nghị hợp tác kinh tế Châu Á
Thái Bình Dương
HS_ Harmonized System _ Hệ thống hài hoà về mã và miêu tả hàng hoá
WTO_ World trade Organization _Tổ chức thương mại quốc tế
GSP_ Generalised System of Preferenc e_Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
EU_ Euro Union _ Liên minh châu âu
FDI _ Forgein Direct Invesment_ Đầu tư trực tiếp nước ngoài
NAFTA _ North American Free Trade Area _ Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ
PNTR _ Permament Normal Trade Relations _ Qui chế thương mại bình thường
vĩnh viễn
BTA _ Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ
GDP _ Gross Domestic Product_ Tổng thu nhập quốc nội
1
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của chuyên đề: “Hoạt động gia công xuất khẩu tại công ty cổ
phần vật tư và giầy dép xuất khẩu Hải Hưng”
Khi xu thế hội nhập với khu vực và thế giới diễn ra ngày càng nhanh và qui mô
ngày càng rộng, Việt Nam một quốc gia đang phát triển đã có những bước tiến đáng
kể đặc biệt trong hoạt động thương mại quốc tế để tự khẳng định mình và tham gia vào
quá trình toàn cầu hoá của thế giới. Trong quá trình ấy đòi hỏi mỗi quốc gia phải
không ngừng khai thác những lợi thế vốn có của mình để cạnh tranh với các quốc gia
khác.
Đối với Việt Nam một đất nước còn nghèo lại thiếu vốn cũng như khoa học công
nghệ, trong khi đó lao động chưa chó trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, trình độ quản
lý còn yếu. Ở giai đoạn hiện nay, để có thể tham gia vào thương mại quốc tế thì nước
ta chủ yếu tiến hành những ngành sản xuất tận dụng được lợi thế có nguồn lao động
dồi dào, đầu tư vốn ít, quay vòng vốn nhanh, tích cực thu hút đầu tư FDI để tiếp thu
công nghệ và học hỏi kinh nghiệm quản lý, đó là những ngành như chế biến thuỷ sản,
Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp điều tra thu thập thông tin,
phỏng vấn trực tiếp, thống kê, phân tích tổng hợp để đưa ra các kết luận và các nhận
xét.
4. Ý nghĩa chuyên đề
Chuyên đề nghiên cứu về một hoạt động đang được áp dụng khá phổ biến trong
hầu hết các doanh nghiệp sản xuất Da- Giầy hiện nay. Do vậy nó có ý nghĩa trong việc
cung cấp những giải pháp giúp công ty có thể áp dụng trong quá trình sản xuất kinh
3
doanh, và đây cũng là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên những người muốn tìm
hiểu về hoạt động gia công xuất khẩu.
5. Kết cấu của chuyên đề
Chuyên đề có kết cấu gồm 3 phần:
Chương1. Lý luận chung về hoạt động gia công xuất khẩu của các ngành Da-
Giầy trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2. Thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu tại công ty cổ phần vật tư
và giầy dép xuất khẩu Hải Hưng
Chương 3. Phương hướng và một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện hoạt động
gia công xuất khẩu tại công ty cổ phần vật tư và giầy dép xuất khẩu Hải Hưng
4
Chương 1. Lý luận chung về hoạt động gia công xuất khẩu của ngành Da- Giầy
trong tiến trình hội nhập
1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế
Khi xu thế hội nhập đang ngày càng trở nên phổ biến thì không có một lý do gì
mà một quốc gia lại đứng ngoài sân chơi đó. Việc hàng loạt các hiệp định song phương
đa phương đã được ký kết, cùng với việc mở rộng phạm vi của các liên kết quốc tế đã
cho thấy không khí sôi động của quá trình hội nhập. Và khi các quốc gia xoá nhoà dần
biên giới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao thương thì làm cho kinh tế toàn cầu tăng
trưởng. Đánh giá về tình hình kinh tế thế giới năm 2005, các tổ chức kinh tế quốc tế
tế.
1.2. Hoạt động gia công xuất khẩu và vai trò của hoạt động gia công xuất khẩu
1.2.1. Khái niệm
Gia công là hoạt động theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ
nguyên vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá
trình sản xuất. Khi hoạt động gia công vượt khỏi phạm vi quốc gia thì được gọi là gia
công quốc tế.
Gia công quốc tế là biến lao động tại chỗ thành nguồn thu ngoại tệ, đưa các yếu tố
sản xuất (chủ yếu là nguyên vật liệu) từ nước ngoài về để sản xuất hàng hoá, nhưng
không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ do tiền công (phí gia
công) đem lại. Vì vậy suy cho cùng, gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao
động, nhưng là lao động dưới dạng sử dụng (được thể hiện trong hàng hoá), chứ không
phải là xuất khẩu công nhân ra nước ngoài.
Gia công quốc tế nảy sinh do sự phát triển kinh tế của các nước không đồng đều,
bên cạnh các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, khoa học kỹ thuật phát triển, thu nhập
bình quân đầu người cao, cũng còn nhiều nước nghèo chậm phát triển, thu nhập bình
6
quân đầu người thấp nên hình thức gia công xuất khẩu được sử dụng rộng rãi. Hoạt
động gia công xuất khẩu nảy sinh từ nhu cầu của hai bên. Một bên cần lao động với
tiền lương thấp, một bên có sẵn lao động giá rẻ nhưng lại thiếu vốn, thiếu công nghệ kỹ
thuật, chưa có thị trường tiêu thụ. Vì vậy, có xu hướng chuyển dịch việc sản xuất
những mặt hàng cần nhiều lao động từ các nước phát triển sang các nước đang phát
triển.
1.2.2. Đặc điểm, vai trò hoạt động gia công xuất khẩu
Hoạt động gia công xuất khẩu có 4 đặc điểm chủ yếu sau:
Có sự xuất hiện của các nguyên vật liệu được nhập khẩu từ nước ngoài về, nước
nhận gia công có thể nhận cả máy móc, thiết bị, công nghệ, nước đặt gia công có thể
gửi kỹ thuật viên, chuyên gia sang kiểm tra giám sát.
Hàng hoá sản xuất ra để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu không dùng cho tiêu
đặt gia công, theo hợp đồng đặt gia công. Hình thức này áp dụng với hàng hoá thông
dụng, không phải là mũi nhọn hiện thời của bên đặt gia công và bên nhận gia công có
đầy đủ năng lực để hoàn chỉnh sản phẩm.
Ba là, gia công đảm nhận công đoạn: Bên nhận gia công sẽ gia công một phần sản
phẩm cho bên đặt gia công (có thể là công đoạn còn lại của sản phẩm, hoặc một phần
công đoạn trong quá trình chế tạo sản phẩm). Sau khi hoàn thành các công đoạn cần
gia công, bên nhận gia công sẽ giao lại các sản phẩm cho bên đặt gia công. Hình thức
này thường áp dụng với những hàng hoá mà bên nhận gia công không có khả năng đảm
nhận sản xuất toàn bộ sản phẩm hoặc tên sản phẩm gắn liền với danh tiếng của công ty
đặt gia công. Đây là hình thức khai thác triệt để lợi thế của bên đặt gia công về nhập
khẩu sản xuất, giá lao động rẻ, trình độ tay nghề đủ để gia công tốt phần công đoạn đó.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động gia công xuất khẩu
Là một bộ phận của thương mại quốc tế hoạt động gia công xuất khẩu chịu tác
động của rất nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố vĩ mô như môi trường sản xuất kinh
8
doanh của các doanh nghiệp đến những yếu tố vi mô đó là nội bộ sản xuất của công ty,
không chỉ là những tác động của môi trường nội địa mà còn có tác động của các quốc
gia khác trên thế giới.
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường doanh nghiệp được hiểu là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội,
chính trị kinh tế, tổ chức và kỹ thuật, các tác động, các mối liên kết diễn ra bên trong
bên ngoài doanh nghiệp có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Môi trường đó bao gồm cộng đồng các doanh nghiệp có các mối liên hệ với nhau và
các mối liên hệ này phải được giải quyết theo những quan điểm truyền thống của một
quốc gia, một cộng đồng người. Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong một môi trường kinh
doanh nhất định và chịu sự tác động của môi trường kinh doanh đó. Tuy nhiên, khi
phát triển đến một mức độ nào đó thì doanh nghiệp tác động trở lại môi trường kinh
doanh.
Hoạt động gia công quốc tế là một bộ phận của thương mại quốc tế. Chính vì vậy
làm hơn cho công nhân đem về nguồn lợi nhuận lớn hơn do vậy tăng sức mạnh cho
công ty là điều kiện để công ty có thể chuyển tiếp sang xuất khẩu trực tiếp.
Tình hình nhân lực: Phản ánh thực tế về số lượng cũng như trình độ của cán bộ
công nhân viên của công ty. Hiệu quả của công việc tốt hay không thì cần phải xem
xem người tiến hành công việc đó như thế nào. Đặc biệt trong hoạt động kinh doanh
buôn bán xuất nhập khẩu thì nhân lực còn phải cần những người thực sự có trình độ,
kinh nghiệm trong việc ký kết các hợp đồng giao dịch. Việc nhận gia công tuy ít đòi
hỏi đến khả năng trên nhưng nếu nước nhận gia công mà không tiếp tục tiếp cận và học
hỏi thì sẽ mãi mãi ở vị trí của nước nhận gia công thuê cho nước ngoài, và cũng khó
nhận được những hợp đồng đặt hàng. Có thể nói yếu tố nhân lực là yếu tố đánh gía sự
năng động của một doanh nghiệp.
10
Tình hình Marketing: Ngày nay khi một doanh nghiệp bắt tay vào kinh doanh
luôn luôn có ý thức phải gắn kinh doanh của doanh nghiệp mình với thị trường. Bên
cạnh những yếu tố như nhân lực, tài chính, quản lý sản xuất thì chức năng Marketing là
một chức năng không thể tách rời bởi nó là chức năng kết nối hoạt động của doanh
nghiệp với thị trường. Trong hoạt động gia công , bên đặt gia công thường là bên chú
trọng nhiều hơn đến hoạt động này, tuy vậy bên nhận gia công cũng phải chú trọng vì
nếu không liên kết tốt với thị trường thì khó nhận được nhiều đơn hàng dành cho sản
xuất. Do vậy, doanh nghiệp đặt hàng luôn phải nghiên cứu xem nhu cầu của người tiêu
dùng là gì để có chiến lược sản phẩm cụ thể còn bên nhận gia công thì nghiên cứu cùng
công nghệ đó mình có thể đáp ứng được cho sản xuất của đối tác nào để tiến hành đàm
phán ký kết hợp đồng nhận gia công.
Tình hình tài chính: Được phản ánh qua các chỉ số doanh thu, lợi nhuận, tài sản…
là nhân tố phản ánh thực lực của doanh nghiệp. Nếu tài chính của doanh nghiệp đủ
mạnh sẽ có thể đầu tư tốt hơn cho dây chuyền công nghệ để sản xuất, sẽ có điều kiện
tạo mức sống tốt hơn cho lao động, đồng thời cũng tạo được niềm tin cho phía đối tác
khi tiến hành ký kết các hợp đồng.
1.3. Vị trí ngành Da- Giầy trong nền kinh tế quốc dân
triệu đôi giầy dép các loại. Túi cặp xuất khẩu đạt trị giá 503 triệu USD tăng 7 % so với
năm 2005.
Giầy thể thao vẫn là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt nam với 381 triệu đôi,
trị giá 2,63 tỷ USD chiếm 73 % tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, giầy nữ với
số lượng 87 triệu đôi đạt trị giá 538 triệu USD chiếm gần 15% . Giầy vải vẫn tiếp tục
được duy trì , đặc biệt các loại giầy vải cao cấp thêu, in nổi và các loại giầy vải có mũ
từ da được nhiều khách hàng quan tâm. Năm 2006 đạt 25 triệu đôi, trị giá 217 triệu
USD chiếm 6,4 % tổng kim ngạch. Tuy số lượng giầy vải không tăng so với 2005 song
12
giá trị XK lại lớn hơn, điều đó cho thấy DN Việt nam đã XK giầy vải cao cấp thay thế
các loại giầy vải thấp cấp như trước đây. Các loại khác như: dép đi trong nhà, sandal,
dép đi biển đạt 75 triệu đôi, trị giá 202 triệu USD chiếm 5,6% tổng kim ngạch XK.
Đến hết năm 2006, toàn ngành đã trang bị trên 750 dây chuyền đồng bộ sản xuất
các loại giầy dép hoàn chỉnh với công suất 715 triệu đôi/năm.
Cụ thể vị trí ngành Da- Giầy Việt Nam được khẳng định qua sự đóng góp của
ngành vào tổng kim ngạch xuất khẩu.
Biểu đồ 01. Tỷ trọng ngành Da- Giầy Việt Nam trong Tổng kim ngạch
xuất khẩu năm 2006
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành Da- Giầy
Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng Da- Giầy:
Những nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng giầy dép là: Giá bán, mức thu nhập bình
quân đầu người, uy tín sản phẩm, kiểu dáng chất lượng…Có thể thấy giầy dép là một
sản phẩm tiêu dùng thiết yếu nhưng cũng là một sản phẩm thời trang cho nên tuỳ vào
13
từng loại có kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng khác nhau mà giá bán của sản phẩm đó
khác nhau. Từ đó ảnh hưởng đến tâm lý và phân tầng người tiêu dùng. Những người có
thu nhập cao sẽ lựa chọn những sản phẩm có chất lượng tốt giá cao còn những người
đi biển. v.v Năm 2005, Việt Nam chỉ giữ ở vị trí thứ 4, cách xa vị trí thứ 3 của Braxin
trong bảng xếp hạng các nước đạt kim ngạch xuất khẩu giày dép lớn nhất sang Mỹ. Với
mức tăng 34,4% về kim ngạch trong 9 tháng năm 2006, Việt Nam vượt qua Braxin
dành vị trí thứ 3, đạt kim ngạch 726 triệu USD. Nhiều chuyên gia dự báo, hết năm
2007, Việt Nam sẽ đứng ở vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng, chỉ sau Trung Quốc
Biểu đồ 02. Các nước xuất khẩu giầy vào thị trường Mỹ
Người tiêu dùng Mỹ không khó tính, sử dụng nhiều chủng loại giầy dép khác
nhau với yêu cầu tiện lợi thời trang và có độ bền cao nhưng ưa giảm giá. Hiện Việt
Nam là một quốc gia xuất khẩu Giầy dép khá lớn vào thị trường Mỹ đặc biệt kể từ khi
Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký kết và khi Mỹ thông qua PNTR cho Việt Nam
thì kim ngạch buôn bán hai nước tăng lên đáng kể. Trong tương lai đây là một thị
trường tiềm năng lớn của ngành giầy da Việt Nam bởi Việt Nam mới chỉ chiếm
khoảng 2% thị phần nhập khẩu giầy của Mỹ.
15
1.4.2. Thị trường EU
Eu là cộng đồng kinh tế do 6 nước thành viên ban đầu sáng lập ra sau đó tăng lên
thành 15 nước đến tháng 5 năm 2004 thì EU mở rộng ra thành 25 nước. Đây là thị
trường tiêu thụ đồ da lớn nhất trên thế giới chiếm 30% lượng giầy dép xuất khẩu toàn
cầu. Người tiêu dùng EU tiêu thụ 1,6 tỷ đôi giầy dép các loại hàng năm, bình quân 4,3
đôi một người một năm. Trong đó thị trường nội địa cung ứng được khoảng 30% còn
lại nhập khẩu. Trung Quốc là nước xuất khẩu giầy dép lớn nhất vào EU chiếm 46,9%
về lượng và 28,3% về giá trị. Việt Nam chiếm 19,6% về lượng và 28,3% về giá trị.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt nam dẫn đầu vẫn là các nước EU, trước đây
xuất khẩu giầy dép của Việt nam vào thị trường này chiếm hơn 70% tổng kim ngạch
xuất khẩu cả ngành. Nhưng sang đến năm 2006 mặc dù tổng lượng xuất khẩu của
ngành sang EU có tăng nhưng chỉ chiếm 50% tổng kim ngạch của ngành Da- giầy do
ảnh hưởng của vụ kiện bán phá giá với giầy dép có xuất xứ từ Việt Nam vào thị trường
này.Tuy nhiên, sau khi có phán quyết cuối cùng của liên minh Châu âu là áp thuế
chống bán phá giá 10% đối với giầy mũ da xuất xứ Việt nam trong khi Trung quốc
là những nước nhập khẩu giầy dép của Việt Nam rồi tái xuất sang EU, hay nói cách
khác Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gián tiếp sang EU. Do vậy, các doanh nghiệp Việt
217.004
234.7
264.421
268.701
294.212
329.517
461.324
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
500
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
17
Nam nói riêng và doanh nghiệp sản xuất giầy cần chú trọng nâng cao chất lượng sản
phẩm để tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực
tiếp thị, tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang EU, chủ động tìm kiếm đối tác
và bạn hàng.
1.4.3. Thị trường Nhật Bản
Với dân số trên 130 triệu dân và thu nhập bình quân đầu người cao hàng năm
Nhật Bản nhập một số lượng giầy dép khá lớn khoảng 350 triệu đôi, trung bình 3 đôi/
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần vật tư và giầy dép xuất khẩu Hải Hưng (Trước khi cổ phần hoá là
công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng), được thành lập ngày 15/12/1968. Lúc đầu công ty
có tên gọi là chi cục vật tư Hải Hưng trực thuộc Tổng cục vật tư với 150 cán bộ công
nhân viên. Nhiệm vụ chính của công ty là cung ứng thường xuyên, có kế hoạch vật tư
kỹ thuật cho các đơn vị sản xuất trong và ngoài tỉnh. Năm 1971 Chi cục vật tư Hải
Hưng đổi tên thành công ty vật tư kỹ thuật Hải Hưng bao gồm 6 phòng ban, 5 cửa hàng
và 5 trạm cung ứng vật tư nhằm phân phối kinh doanh, cung ứng vật tư kỹ thuật được
Bộ vật tư cung cấp cho các đơn vị sản xuất đông thời làm nhiệm vụ hạch toán kinh tế,
quản lý vật tư tài sản và lao động để phục vụ đầy đủ kịp thời và kinh tế nhất cho sản
xuất.
Năm 1980 Công ty vật tư trực thuộc liên hiệp cung ứng vật tư khu vực III Bộ vật
tư . Năm 1985 Bộ vật tư giải thể liên hiệp cung ứng vật tư khu vực III , công ty kỹ
thuật Hải Hưng trực thuộc Bộ vật tư.
Năm 1991 do sát nhập 3 Bộ: Vật tư, Ngoại thương, Thương nghiệp, công ty vật tư
tổng hợp Hải Hưng trực thuộc Bộ thương Nghiệp.
Năm 1992 Bộ thương nghiệp đổi tên thành Bộ thương mại và công ty cổ phần vật
tư Hải Hưng trực thuộc Bộ thương mại.
Năm 1986 cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế quản lý kinh tế mới, công ty đổi
tên thành công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng. Lúc này công ty chuyển đổi sang cơ chế
quản lý từ cung ứng, phân phối theo kế hoạch vật tư kỹ thuật sang tự chủ hạch toán sản
xuất kinh doanh với chức năng chính là :
20
Chủ động khai thác thị trường vật tư hàng hoá kim khí cung ứng đầy đủ
kịp thời nhu cầu cho sản xuất, xây dựng đời sống xã hội, đảm bảo yêu cầu về chất
lượng, số lượng, chủng loại.
Chủ động hạch toán kinh doanh đảm bảo yêu cầu bảo toàn và phát triển
vốn kinh doanh có lãi, nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước, đảm bảo việc làm
và đời sống cho cán bộ công nhân viên.
Năm 2005, cùng với xu thế tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước,
theo chủ trương của Đảng, nhà nước, Bộ thương mại có quyết định 4099 QĐ-BTM tiến
hành chuyển đổi công ty sang hình thức công ty cổ phần. Sau khi tiến hành cổ phần
hoá
Tên công ty: Công ty cổ phần vật tư và giầy dép xuất khẩu Hải Hưng
Tên tiếng anh: HAI HUNG MATERIALS AND SHOES EXPORT
JOINT STOCK COMPANY
Viết tắt: HMSC
Địa chỉ: Đường Quán Thánh- Phường Bình Hàn- Thành phố Hải
Dương- Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320.852352/ 853372/ 855660/ 853490
Fax: 0320.850878.
Hiện công ty có 1 dây chuyền sản xuất giầy vải 1 dây chuyền sản xuất giầy thể
thao đồng bộ, 570 lao động sở hữu 1800 m
2
đất có 2,979 tỷ đồng là vốn lưu động.
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của công ty
Chức năng chính của công ty là:
Mua bán vật tư tổng hợp: kim khí, hoá chất, (được nhà nước cho phép), thiết
bị điện, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dựng.
Mua bán máy móc, thiết bị cho xây dựng, vận tải
Xây dựng công trình, nhà ở, nhà xưởng, trang trí nội thất công trình
Sản xuất gia công và mua bán giầy dép vật tư dùng cho sản xuất giầy dép
Cho thuê văn phòng nhà xưởng…
22
Trong đó sản xuất giầy dép xuất khẩu vẫn chức năng chính của công ty.
Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty
Sơ đồ 01. Cơ cấu tổ chức của công ty
Bộ máy tổ chức Công ty cổ phần vật tư và giầy dép xuất khẩu Hải Hưng sau khi
Xưởng
gò ráp
hoàn
chỉnh
23
Hội đồng quản trị gồm có 7 người, ban kiểm soát có 3 người gồm 1 tổng giám
đốc 1 phó tổng giám đốc 1 kế toán trưởng. Trong đó tổng giám đốc là người được giao
trách nhiệm pháp nhân. Các đơn vị trực thuộc gồm có: Phòng tổ chức, hành chính (cả
bảo vệ), phòng kế toán tài vụ, phòng xuất nhập khẩu, xưởng cơ khí tổng hợp, xưởng
pha cắt - chuẩn bị, xưởng may mũ giầy, xưởng gò ráp hoàn chỉnh.
Đại hội cổ đông:
Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
có thẩm quyền cao nhất công ty. Đại hội có quyền quyết định các loại cổ phần và tổng
số cổ phần chào bán. Bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT, thành viên ban
kiểm soát, quyết định sửa đổi bổ sung điều lệ của công ty, thông qua báo cáo tài chính
hàng năm, thông qua định hướng phát triển công ty, quyết định tổ chức lại, giải thể
công ty.
Hội đồng quản trị:
Là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty, quyết định chiến lược, kế hoạch phát
triển công ty. Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần chào bán của từng loại. Quyết
định đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong
báo cáo tài chính gần nhất của công ty. Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp
thị và công nghệ, thông qua hợp đồng mua bán, vay cho vay và các hợp đồng khác có
giá trị lớn hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản trong báo cáo gần nhất. Bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Tổng giám đốc, phó
tổng giám đốc, kế toán trưởng và những người quản lý quan trọng khác.
Ban kiểm soát:
Gồm có 3 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi nhiệm với đa số phiếu
đại diện cho số cổ phần. Ban kiểm soát bầu 1 người làm Trưởng Ban kiểm soát. Ban
25