nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ của bảo việt - Pdf 10

-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MINH PHƯNG

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN
THỌ CỦA BẢO VIỆT

Chuyên Ngành : Quản Trò Kinh Doanh
Mã Số: 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS: NGUYỄN QUỐC TẾ

Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2008

2.2. Các yếu tố cạnh tranh trong quá trình phát triển ngành Bảo hiểm. 18
III/ Kinh doanh Bảo hiểm ở các nước phát triển và một vài kinh
nghiệm
cho phát triển thị trường Bảo hiểm ở Việt Nam 18
Chương 2 : Phân tích năng lực cạnh tranh trong kinh doanh Bảo hiểm
nhân
thọ của Bảo Việt
I/ Qúa trình hình thành và phát triển ngành kinh doanh Bảo hiểm tại
Việt Nam 27
1.1. Giai đoạn từ ngày hòa bình lập lại đến năm 1993 27
1.2. Giai đoạn từ 18/12/1993 đến nay 27
1.3. Quá trình hình thành và phát riển của Bảo việt nhân thọ-Các chỉ
tiêu phát triển chủ yếu của ngành bảo hiểm việt nam trong thời gian
qua 28
II/ Phân tích năng lực cạnh tranh của Bảo Việt nhân thọ 31
2.1. Tài chính 31
2.2. Khả năng thâm nhập thị trường, thị phần, mạng lưới phân phối,
quảng
cáo, khuyếch trương 31
2.3. Quản trị điều hành 33
2.4. Nhân lực 35
2.5. Công nghệ, sản phẩm, dịch vụ 36
2.6. Chiến lược kinh doanh 39
2.6.1. Phát triển bảo hiểm trong xu thế mở cửa 39
2.6.2. Tốc độ phát triển doanh thu của Bảo việt nhân thọ 43
III. Phân tích các yếu tố liên quan đến cơ hội và thách thức của
Bảo việt nhân thọ trong điều kiện cạnh tranh 47
3.1. Đối với cả thị trường bảo hiểm Việt nam 47
3.1.1. Cơ hội 47
3.1.2. Thách thức 49


1

Phần mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực từ ngày 01/04/2001 đã đi vào đời
sống kinh tế - xã hội, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, an toàn cho các
doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia, góp phần thúc
đẩy nhanh sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt nam nhằm đáp ứng được
yêu cầu của thị trường cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế khi Việt nam chính
thức mở cửa, hội nhập.
Thị trường bảo hiểm Việt nam thật sự sôi động khi có sự xuất hiện của các
doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài với những ưu thế hơn hẳn về mặt
kinh nghiệm và nguồn lực tài chính của các công ty đa quốc gia. Điều này thật sự
nhiều thách thức lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam vốn còn non trẻ về
kinh nghiệm hoạt động, khả năng tài chính và những hạn chế trong quản lý.
Thách thức này ngày càng một lớn hơn khi tiến trình khu vực hoá và toàn
cầu hoá nề kinh tế đang diễn ra ngày càng nhanh chóng, khi Việt nam tham gia
ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực, trên thế giới và
các tổ chức kinh tế quốc tế. Theo đó, thị trường bảo hiểm việt nam sẽ hoàn toàn
mở cửa sau một thời gian. Cụ thể, theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ thì
nghành tài chính, tiền tệ nói chung chính thức mở cửa hoàn toàn từ năm 2007 .
Như vậy, để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt như
hiện nay và trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam luôn luôn
phải đổi mới một cách toàn diện trong mọi hoạt động kinh doanh của mình.
Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ,
ngoài những hoạt động nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tăng cường các
hoạt động tuyên truyền quảng cáo thì việc cải tiến và đa dạng hoá sản phẩm, việc
tăng cường các hoạt động đầu tư tài chính, đổi mới công nghệ thông tin và bài

kết gia nhập WTO, từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển hoạt động kinh
doanh bảo hiểm trong điều kiện hội nhập.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng của hoạt
động kinh doanh của ngành bảo hiểm Việt nam, của bảo hiểm Nhân thọ của Bảo
việt ( Bảo việt nhân thọ) trước và sau khi gia nhập WTO ( từ năm 1993 đến nay
và những năm tiếp theo)
4. Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài ngoài sử dụng phương pháp thống kê - tập hợp và phân tích mô tả số
liệu: dùng công cụ thống kê tập hợp tài liệu như thông thường. Do ngành bảo

3

hiểm Việt nam còn là ngành mới phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ Việt nam là thị trường mới nổi. Mới cho cả nhà bảo hiểm (các công ty
bảo hiểm) và mới cả đối với người dân – các khách hàng chưa có thói quen, tập
quán mua bảo hiểm nhân thọ để tiết kiệm, bảo vệ và đầu tư cho tương lai. Do đó,
với thực tiễn hơn một thập niên triển khai nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Đề tài
còn tiến hành nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng thông qua các khảo sát, thăm dò
đối với khách hàng đã tham gia bảo hiểm nhân thọ tại Bảo việt từ sản phẩm,
tuyên truyền quảng cáo, hệ thống phân phối… để từ đó đưa ra các giải pháp kinh
doanh cho hệ thống trong thời gian tới.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh, tổng quan về thi trường
bảo hiểm Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ của Bảo việt nói riêng
Luận văn cũng phân tích một cách hệ thống thực trạng của ngành bảo hiểm
Việt Nam từ khi mở cửa đến trước khi gia nhập WTO và sau khi gia nhập WTO,
trên cơ sở đó đưa ra các phân tích về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
Trên cơ sở các phân tích và lý luận đã đưa ra, luận văn đề xuất một số giải
pháp mang tính khả thi nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/ và mới lạ hơn để khách
hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình. Khi
các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ khách hàng tốt nhất thì điều đó
có nghĩa là không có lợi thế cạnh tranh nào có thể giữ nguyên trạng để trường tồn
vĩnh viễn mà mỗi ngày phải có thêm cái mới lạ. Nói cách khác, trong cuộc “tranh
tài” giữa các doanh nghiệp để phục vụ khách hàng mỗi ngày một tốt hơn, doanh
nghiệp nào hài lòng với vị thế đang có trên thương trường sẽ rơi vào tình trạng
tụt hậu và sẽ bị đào thải.
1.1.

Năng lực cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm:
Khi nói đến cạnh tranh thì người ta thường nhắc đến thuật ngữ “Năng lực
cạnh tranh” – đây là thuật ngữ đã được sử dụng rất rộng rãi, nhưng đến nay vẫn
chưa có một định nghĩa, tiêu thức để đo lường rõ ràng.
Theo lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp/ngành/ quốc gia được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và

5

năng suất. Và, các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu dựa trên mức
chi phí thấp.
Quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren
(1)
thì cho rằng
năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các
thị trường trong và ngoài nước. Để đánh giá năng lực cạnh tranh, thường dựa
trên các chỉ số như: năng suất lao động, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, công
nghệ, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản

(3)
M.Porter là nhà khoa học nổi tiếng về quản lý của Mỹ, GS.Đại học Haward kiêm cố vấn của nhiểu công ty lớn
và các tổ chức chính phủ trên thế giới.

6

cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh thì
trước hết doanh nghiệp phải xác định lợi thế cạnh tranh của mình.
Theo M.Porter, doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình dựa
trên các lĩnh vực sau:
- Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh
tranh. Các yếu tố như đất đai, vốn về lao động thường được xem là nguồn lực để
tạo lợi thế cạnh tranh.
- Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng
giá trị cho khách hàng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính
hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế về sự khác biệt cho phép doanh nghiệp
định mức giá sản phẩm thậm chí cao hơn đối thủ nhưng vẫn được thị trường chấp
nhận.
Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm
(4)
, trình bày trong tác phẩm: Thị
trường, chiến lược, cơ cấu: Cạnh tranh về giá trị gia tăng và định vị doanh
nghiệp, thì một doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh trong sáu lĩnh vực
chất lượng sau:
1.1.2.1. Chất lượng sản phẩm - luôn đổi mới sản phẩm trước các đối
thủ: Giành và giữ thị phần bằng cách mở rộng hoặc chuyên biệt hóa các chức
năng của sản phẩm; hoặc đưa ra thị trường sản phẩm hoàn toàn mới chưa bao giờ
được biết đến trước đó.
1.1.2.2. Chất lượng thời gian – đón đầu trào lưu thị trường và tối ưu hóa
vận hành sản xuất: Là việc sản phẩm của doanh nghiệp hiện diện kịp thời ở thị

lượng thương hiệu được hình thành và củng cố thông qua mối quan hệ ràng buộc
giữa việc khách hàng nhận dạng thương hiệu, trung thành với thương hiệu và
doanh nghiệp trung thành với thương hiệu của mình. Thương hiệu đạt vị thế cao
nhất là lúc mà chu kỳ sống của thương hiệu phát triển đến độ bao gồm đầy đủ
việc biểu trưng cho chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nhân cách và giá trị đề cao bởi
doanh nghiệp.
1.1.2.6. Chất lượng giá cả – hợp ý và hợp thời: Xác định giá cả trên cơ sở
cân nhắc sự đối kháng giữa logic kinh tế với logic tâm lý xã hội của người mua.
Từ đó, chất lượng giá cả cơ bản phải xuất phát từ sự hợp ý, hợp thời đối với
khách hàng. Nói cách khác, khi doanh nghiệp chứng minh được hiệu quả mang
lại từ chi phí mà khách hàng phải trả là phù hợp với ý muốn và thời điểm yêu cầu
của khách hàng thì bảng giá áp dụng sẽ mang đến cho doanh nghiệp thêm một lợi
thế cạnh tranh đặc thù.
Như vậy, có thể khẳng định qua việc đánh giá về các lĩnh vực chất
lượng, doanh nghiệp sẽ nhận diện được năng lực cạnh tranh của mình.

8

1.1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh:
Trong nền kinh tế thị trường, năng
lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn
tại và phát triển, là yếu tố quyết định để
doanh nghiệp có thể vươn tới một vị thế
mà tại đó doanh nghiệp có khả năng tác
động đến các lực lượng cạnh tranh một
cách hiệu quả. Khi tốc độ hội nhập càng
nhanh, mức độ cạnh tranh càng gia tăng
thì sự quan tâm đến vấn đề năng lực cạnh
tranh càng cần thiết. Việc nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ góp

nh
tranh
(Ngu

n: M. Porter, chi
ế
n l
ượ
c c

nh

tranh,

9

Môi trường nội bộ
Môi trường vi mô

Môi trường vĩ mô

Hình
1.2. Môi trư
ờng hoạt động của doanh nghiệpBước 1: Xem xét, đánh giá chiến lược hiện tại: Bao gồm toàn bộ các giả


Sức mạnh đàm
phán từ phía
nhà cung
c

p
Thách thức từ phía đối
th
ủ tiềm năng

Thách thức từ các sản phẩm và
d
ịch vụ thay thế

C

nh tranh gi

a
các doanh nghi

p
hi

n t


ườ
i
Hình 1.3. N
ă
ng l

c l
ư

ng c

nh tranh
(Ngu

n: M. Porter, chi
ế
n l
ượ
c c

nh

tranh, NXB KHKT, 1996)kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, do vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về các áp lực
cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm.
Đối với thị trường bảo hiểm nhân thọ, để xây dựng một chiến lược cạnh
tranh phù hợp, cần có sự phân tích trung thực về các điểm mạnh, điểm yếu và sự
sẵn sàng thách thức với cỏc nếp nghĩ truyền thống. M. Porter đó đưa ra một mụ

phẩm có cùng chức năng đáp ứng nhu cầu sử dụng giống nhau của khách hàng.
Sự hiện hữu của sản phẩm thay thế ngày càng đa dạng tạo thành nguy cơ cạnh
tranh giá cả, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
c). Quyền lực thương lượng của nhà cung cấp: Những nhà cung cấp
cũng là một lực lượng đáng kể có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp bằng cách tăng giá hay giảm chất lượng vật tư hàng hóa,
d). Quyền lực thương lượng của khách hàng: Nhu cầu của khách hàng
luôn luôn thay đổi, khách hàng luôn muốn mua, sử dụng dịch vụ với giá thấp
hơn, chất lượng cao hơn, được phục vụ tốt hơn,… Cũng như các ngành khác,
khách hàng cũng là cơ sở cho mọi chiến lược của doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ viễn thông.
1.2.3. Các chiến lược cạnh tranh :
M. Porter đã đề xuất ba chiến
lược cạnh tranh chung để giành
được lợi thế cạnh tranh (hình 1.4).
Ba chiến lược cạnh tranh chung có
liên quan mật thiết tới quy mô hoạt
động của doanh nghiệp cũng như
mức độ khác biệt sản phẩm mà
doanh nghiệp đang tìm kiếm.
1.2.3.1. Chiến lược khác biệt
hoá:
Chiến lược này liên quan đến việc doanh nghiệp theo đuổi việc tìm kiếm
sự duy nhất, độc đáo riêng của sản phẩm, dịch vụ được khách hàng nhận biết trên
thị trường và sau đó chỉ ra một doanh nghiệp duy nhất đáp ứng được những sự
độc đáo này. Khác biệt hoá sản phẩm chú trọng đến việc trả mức giá cao đặc biệt
hơn là để nhằm bù đắp lại những chi phí sản xuất tăng thêm, và cho khách hàng
H
ì
nh 1.4. Các chi

vấn đề quyền lực của nhà cung cấp.
1.2.3.2. Chiến lược chi phí thấp:
Với chiến lược này, mục tiêu là trở thành nhà sản xuất có chi phí thấp nhất
trong ngành. Rất nhiều (có thể là tất cả) phân đoạn thị trường trong ngành hàng
được cung cấp hàng hoá với chi phí được tối thiểu hoá. Chiến lược này có hai ưu
điểm sau:
Một là, Vì chi phí thấp nên doanh nghiệp có thể định giá bán sản phẩm
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh như vẫn thu lợi nhuận ngang bằng họ. Trong
trường hợp có cuộc chiến tranh về giá thì doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhất
định trong khi lợi nhuận của đối thủ bằng không.
Hai là, Doanh nghiệp có vị trí thuận lợi hơn so với các đối thủ cạnh tranh
trước sức ép của khách hàng nếu cuộc chiến tranh về giá xảy ra. Hơn nữa, lợi thế

13

về chi phí hay tính kinh tế nhờ quy mô cũng là một trong các rào cản ngăn chặn
đối thủ mới gia nhập ngành.
1.2.3.3. Chiến lược tập trung vào trọng điểm:
Trong chiến lược tập trung vào trọng điểm, doanh nghiệp hướng tới sự
khác biệt về nhu cầu trong một hoặc một vài phân đoạn thị trường mục tiêu.
Những nhu cầu đặc biệt của khách hàng trên phân đoạn thị trường có nghĩa là
thêm cơ hội để cung cấp sản phẩm hoàn toàn khác so với những đối thủ cạnh
tranh mà mục tiêu của họ là hướng vào số đông. Vấn đề quan trọng đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào là khi áp dụng chiến lược này, phải đảm bảo rằng các khách
hàng thật sự có những nhu cầu và mong muốn khác biệt – theo nghĩa khác là cần
có một cơ sở hợp lý cho sự khác biệt và sản phẩm của những đối thủ cạnh tranh
hiện tại không thể đáp ứng những nhu cầu và mong muốn đó.
1.2.4. Các kỹ tuật sử dụng để xác định chiến lược cạnh tranh: SWOT,
ma trận hình ảnh cạnh tranh.
Việc xác định chiến lược mang tính nghệ thuật cao, thể hiện ở việc vận

T
1
, T
2
, T
3
, …

S

S
1
, S
2
, S
3
, …
S + O
S + T
W

W
1
, W
2
, W
3
,
W + O
W + T

mạnh, khắc phục điểm yếu, tận dụng cơ hội, hạn chế rủi ro“. Từ đó doanh nghiệp
có thể nhận dạng được các chiến lược cạnh tranh của mỡnh.
(2). Sau khi đưa ra các chiến lược có thể thực hiện được, cần chọn ra các
chiến lược cho doanh nghiệp theo đuổi. Các chiến lược chọn ra này phải xếp theo
thứ tự ưu tiên chiến lược nào thực hiện trước, chiến lược nào thực hiện sau.
Việc quyết định chọn chiến lược nào thuộc thẩm quyền của những nhà
quản lý cao nhất. Trong đề tài này chúng tôi chỉ định hướng những chiến lược
thích hợp và kiến nghị Bảo Việt theo đuổi dựa trên việc phân tích, đánh giá năng

(5)
Tiến trỡnh cỏc bước xõy dựng ma trận EFE (External Factional Evaluation) và IFE (Internal Factional
Evaluation):
Bước 1: Lập danh mục cỏc yếu tố cú vai trũ quyết đinh đến sự thành cụng của doanh nghiệp (Từ 10 đến 20 yếu
tố);
Bước 2: Xỏc định mức độ quan trọng từ 0,0 (khụng quan trọng đến 1,0( rất quan trọng của từng yếu tố.
Bước 3: Xỏc định trọng số từ 1 đến 4 của từng yếu tố trong quan hệ với khả năng phản ứng của chiến lược hiện
tại của doanh nghiệp; 4 là phản ứng tốt nhất, 3 là khỏ, 2 là trung bỡnh và 1 là yếu.
Bước 4: Tớnh điểm từng yếu tố ngoại vị (ma trận EFE)/ hoặc nội vi (ma trận IFE).
Bước 5: Cộng tổng số điểm của toàn bộ danh mục cỏc yếu tố, nếu: Tổng điểm đạt 2,5 là trung bỡnh; cao nhất là 4 và
là 1 là yếu. 15

lực của doanh nghiệp cũng như những thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp
gặp phải khi thực hiện chiến lược.
Tiêu thức chúng tôi sử dụng để chọn lựa chiến lược là:
+ Đảm bảo đạt được những mục tiêu và chiến lược phát triển của Bảo
Việt nhõn thọ.
+ Cú tớnh khả thi; phải khai thác được điểm mạnh, khắc phục điểm yếu

chính để bù đắp cho những thiệt hại, tổn thất liên quan đến tài sản của họ.
2.1.1.2. Đối với tổ chức: Bảo hiểm nhân thọ cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho
những cá nhân đóng vai trò quan trọng đến sự thành công của tổ chức. Trường
hợp những người này qua đời, công ty bảo hiểm thanh toán quyền lợi cho tổ chức
được bảo hiểm. Qua đó, cung cấp một nguồn tài chính đảm bảo cho tổ chức khắc
phục những tổn thất do mất những người chủ chốt như có nguồn tài chính để tìm
kiếm, đào tạo những người thay thế. Ngoài ra, bảo hiểm còn cung cấp nguồn tài
chính cho tổ chức để bù đắp vào những rủi ro, tổn thất xảy ra đối với tài sản của
tổ chức.
Như vậy, bảo hiểm thông qua những sản phẩm và dịch vụ của mình, đã cung
cấp một sự an toàn tài chính cho cả cá nhân và tổ chức kinh tế – xã hội.
2.1.2. Ổn định kinh tế - xã hội:
Rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại đến của cải vật chất do con người tạo
ra và chính cả bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của dân cư,
ngưng trệ hoạt động sản xuất của nền kinh tế. Nói chung, nó làm gián đoạn và
giảm hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội.
Quỹ dự trữ bảo hiểm được tạo lập trước, khắc phục hậu quả nói trên, bằng
cách bù đắp các tổn thất phát sinh nhằm tái lập và đảm bảo tính thường xuyên
liên tục của xã hội. Như vậy, trên phạm vi rộng toàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo
hiểm đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt
động lâu dài và bền vững của mọi chủ thể dân cư và nền kinh tế. Với vai trò đó,
bảo hiểm khi thâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, đã
phát huy tác dụng vốn có của mình: nâng cao ý thức đề phòng và hạn chế tổn thất
cho mọi thành viên trong xã hội, góp phần ổn định kinh tế - xã hội.
2.1.3. Trung gian tài chính:
Công ty bảo hiểm là một trong những định chế tài chính quan trọng đối với
nền kinh tế. Thông qua các sản phẩm bảo hiểm cung cấp cho công chúng, nó huy
động nguồn vốn nhàn rỗi từ công chúng, tạo lập các quỹ bảo hiểm để thực hiện
các cam kết với khách hàng nhưng tạm thời nhàn rỗi như quỹ dự phòng nghiệp


được trong bất kỳ gia đình nào trên thế giới này, duy chỉ có điều là không phải ai
cũng có điều kiện để tham gia được bảo hiểm nhân thọ. Ngoài ra, đối với cả nền
kinh tế của mỗi quốc gia, ngành Bảo hiểm Nhân thọ giúp mang lại một nguồn
vốn rất lớn để tái đầu tư lại nền kinh tế, đây coi như là một khoản đầu tư nội địa.

18

Tại Việt nam, kế hoạch này đến năm 2010, nguồn vốn do ngành bảo hiểm Nhân
thọ tái đầu tư lại nền kinh tế vào khoảng 52.000 tỷ đồng (đến hết năm 2007 con
số này đã là : 44.945 tỷ đồng. Chỉ có bảo hiểm nhân thọ mới giúp họ thực hiện
được mong muốn này và điều này thể hiện được vị trí và vai trò quan trọng của
ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng trong quá trình phát
triển kinh tế –xã hội như thế nào.
2.2. Các yếu tố cạnh tranh trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm
Do đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là kinh
doanh sản phẩm vô hình, nên trong quá trình phát triển các doanh nghiệp bảo
hiểm thường cạnh tranh với nhau bởi các yếu tố sau:
- Sản phẩm
- Hệ thống kênh phân phối
- Dịch vụ bán hàng
- Hoạt động marketing
- Công nghệ thông tin
- Nguồn nhân lực
- Đầu tư tài chính .
III. Kinh doanh bảo hiểm ở các nước phát triển và một vài kinh nghiệm
cho phát triển thị trường bảo hiểm ở việt nam
Đối với thị trường bảo hiểm Việt nam, mặc dù Bảo việt là doanh nghiệp
tiên phong, tuy nhiên so với các nước trên thế giới thì chúng ta đi sau họ hàng
trăm năm và như vậy rõ ràng họ hơn hẳn chúng ta về nhiều mặt trong đó phí bình
quân đầu người tham gia bảo hiểm ở các quốc gia này cũng hơn hẳn chúng ta

tỷ lệ người mua bảo hiểm cũng như tăng phí bảo hiểm bình quân đầu người lên
cao góp phần tăng doanh thu phí của ngành, nâng cao tỷ trọng phí trên GDP cao
30.5
188
54.6
10.5
10.6
6.1
0
50
100
150
200
Trung
Quoc
Thailand Philippines
Phí BH bình quân đầu người ở một số
nước Đông Nam Á (USD/người)
Nguồn: SwissRe Sigma Report No.5/2006

20

hơn nữa so với năm 2007 là: 1,55% trong khi đó, tỷ lệ này ở khu vực Đông nam á
là : 3,31% ( Nguồn Hiệp hội bảo hiểm)
Phụ lục : Tham khảo-ngành bảo hiểm Trung Quốc gia nhập WTO
Phụ lục này mô tả quá trình phát triển bảo hiểm tại Trung Quốc, vai trò của
bảo hiểm trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và các ảnh hưởng mà các
thành viên trong WTO tác động lên hoạt động bảo hiểm tại Trung Quốc.
Bảo hiểm trở thành một trong những vấn đề được tranh cãi nhiều nhất
trong việc Trung Quốc gia nhập WTO. Đây vừa là kết quả của quá trình phát

WTO;
-Trung Quốc sẽ cho phép bên nước ngoài sở hữu 50% vốn và xoá bỏ yêu
cầu về liên doanh đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngàoi và rỡ bỏ dần
hạn chế về việc mở chi nhanh;
- Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, Trung Quốc sẽ cho phép bên nước ngoài
sở hữu 51% vốn khi gia nhập WTO; và
- Trung Quốc sẽ cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm hoàn toàn dựa trên
tiêu chí về đảm bảo khả năng tài chính mà không tiến hành đánh giá nhu cầu kinh
tế hay hạn chế số lượng giấy phép. Trung Quốc đưa ra các cam kết mở cửa thị
trường trong Hiệp định song phương Hoa Kỳ - Trung Quốc và Hiệp định song
phương Châu Âu – Trung Quốc nhằm gia nhập WTO. Những hạn chế trong tiếp
cận thị trường như hạn chế cấp phép cũng đã được nêu trong hiệp định này. Các
công ty sẽ có thể có được cấp phép nếu họ có hơn 30 năm kinh nghiệm ở 1 nước
thành viện của WTO; đã có một văn phòng đại diện tại Trung Quốc trong hai
năm liên tiếp; và tìa sản trên thế giới trên 5 tỷ USD.
Các cam kết WTO khác bao gồm: việc thành lập chi nhánh trong nước
được cho phép cùng với việc xoá bỏ dần các hạn chế về địa lý; tái bảo hiểm; bảo
hiểm chính sách và bảo hiểm rủi ro thương mại lớn có thể được phép cung cấp
trên cả nước khi gia nhập WTO; các sản phẩm bảo hiểm y tế, hưu trí và bảo hiểm
nhóm được phép bán trong hai và ba năm sau khi gia nhập WTO; dịch vụ môi
giới bảo hiểm cũng sẽ được cho phép hoạt động.
Thị trường bảo hiểm Trung Quốc hiện còn nhỏ, chưa phát triển hết, không
chỉ về quy mô mà còn về các sản phẩm và cơ sở hạ tầng cơ bản, nhiều địa bàn ở
Trung Quốc còn chưa có các công ty bảo hiểm.

Trích đoạn Quản trị điều hành Phát triển bảo hiểm trong xu thế mở cửa Đối với Bảo việt nhân thọ Mục tiêu phát triển của Bảo Việt nhân thọ Giải pháp phát triển kênh phân phối
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status