thực thi quyền sử dụng đất ở huyện hòa vang thành phố đà nẵng - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt không thể thay thế được, không có đất đai là không có bất kỳ
một ngành sản xuất nào, không có quá trình lao động nào diễn ra và không có
sự tồn tại của xã hội loài người. Không những vậy, đất đai còn có vai trò rất
quan trọng đi đối với sự phát triển của xã hội, xã hội càng phát triển thì nhu
cầu sử dụng đất ngày càng lớn trong khi đất đai lại có hạn điều đó đã làm cho
quan hệ giữa người với người và với đất đai ngày càng trở nên phức tạp. Điều
này đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách quản lý đất đai thích hợp để
việc sử dụng đất đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
Thời gian qua, việc sử dụng đất đai không chỉ lãng phí mà còn phát
sinh nhiều vấn đề khác về môi trường, xã hội, chẳng hạn đó là việc sử dụng
đất chưa được cân nhắc toàn diện, thiếu quan tâm đến tính bền vững, tình
trạng chuyển đất lúa có độ phì cao sang làm khu tái định cư, khu công nghiệp
mà không sử dụng những khu đất khác hoặc đất nông nghiệp khác hiệu quả
thấp, phân bổ quỹ đất không cân đối với nhu cầu sử dụng cho các mục đích
khác nhau trên cùng một khu vực, thiếu quỹ đất cho phát triển kết cấu hạ tầng,
văn hoá xã hội, nếu muốn thực hiện phải đền bù giải toả Việc giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất là hệ thống các giải pháp kinh tế, pháp
lý trong quản lý sử dụng đất, phân bổ hợp lý quỹ đất và giao quyền sử dụng
đất cho các tổ chức, cá nhân đúng mục tiêu và phù hợp với điều kiện của từng
địa phương.
Huyện Hoà Vang có tiềm năng đất đai phong phú và đa dạng, là huyện
ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng có điều kiện thuận lợi để phát
triển mọi mặt về đời sống kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường. Tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và đô thị hoá diễn ra
rất nhanh làm thay đổi cơ cấu kinh tế, hình thành khu công nghiệp vừa và
1
nhỏ, khu tái định cư, công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất nảy sinh
những vấn đề phức tạp nhất là diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm,

ninh trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đề xuất những quan điểm, hệ thống các biện pháp kinh tế - xã hội và
pháp lý trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng, quản lý đất, phân bổ hợp
lý quỹ đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất cho các mục đích phù hợp với
điều kiện cụ thể của địa phương, tạo ra những điều kiện cần thiết để tổ chức
sử dụng đất có hiệu quả cao, tránh sự chồng chéo gây lãng phí quỹ đất, tránh
được sự tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất đai, phá vỡ sự cân bằng sinh thái,
môi trường sống, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội và gây điểm nóng về
chính trị ở địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
Tìm hiểu thực trạng về thực thi quyền sử dụng đất, thi hành Luật Đất
đai, đặc biệt là công tác quy hoạch, kế hoạch phân bổ sử dụng đất; công tác
giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn
huyện Hoà Vang, chỉ rõ những kết quả đạt được và những hạn chế gây ra
những áp lực lớn đối với đất đai, đồng thời chỉ rõ những tiềm năng đất đai,
nhằm quản lý và phân bổ quỹ đất đai vào các mục đích sử một cách có hiệu
quả nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình thực hiện quyền sử đất ở huyện Hòa Vang giai
đoạn 2000 đến nay.
- Luận văn chú trọng, đề cập đến vấn đề thực thi quyền sử dụng đất ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, luận văn
chú trọng sử dụng các phương pháp truyền thống của kinh tế chính trị như:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
- Phương pháp kết hợp Logíc với lịch sử.

thôn - C.Mác đã viết: đất là t liệu sản xuất cơ bản, phổ biến và quý báu
nhất của sản xuất nông nghiệp [34, tr.532], đất là điều kiện không thể
thiếu đợc của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài ng ời kế tiếp
nhau. Đất đai là điều kiện hết sức cần thiết cho sản xuất, nhng tự nó không
thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà cần có những điều kiện khác, trong
đó có điều kiện quan trọng bậc nhất là lao động của con ngời. Đất đai cùng
với lao động của con ngời là hai yếu tố cơ bản và quan trọng nhất tạo ra của
cải vật chất để con ngời và xã hội loài ngời tồn tại, phát triển, điều này đã
đợc C.Mác dẫn lời của W.Petty Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải
vật chất.
Nếu nh các t liệu sản xuất khác có thể t do di chuyển từ nơi này đến
nơi khác thì đất đai lại có vị trí cố định, không thể di chuyển theo ý của con
ngời; còn xét về mặt diện tích thì đất đai là hữu hạn - trên phạm vi toàn cầu,
đất đai bị khống chế bởi bề mặt trái đất, ở mỗi quốc gia nó bị giới hạn ở biên
giới của mỗi quốc gia, đối với tỉnh, huyện, xã thì diện tích bị giới hạn trong
khuôn khổ địa giới hành chính của từng địa phơng.
Sự hình thành và phát triển của mỗi dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào đất
đai mà dân tộc đó sinh sống. Đó là đồng bằng, rừng núi, hệ sinh thái, nguồn n-
ớc và tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa Toàn bộ
sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con ngời đều trực tiếp hoặc gián tiếp
liên quan đến một đơn vị diện tích đất nhất định. Đất đai là tài nguyên của dân
5
tộc, của tổ quốc - nó vô cùng quý giá, không chỉ là di sản thiêng liêng của cả
dân tộc mà còn là biểu tợng cụ thể của quốc gia trờng tồn cùng dân tộc, là cơ
sở vật chất của lòng yêu nớc và tình làng nghĩa xóm.
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc ở nớc ta, mỗi tấc đất từ biên cơng
cho đến hải đảo đều thấm đợm mồ hôi, xơng máu của ông cha, của biết bao
thế hệ ngời Việt nam tạo lập và giữ gìn. Là một quốc gia nông nghiệp, với nền
văn minh lúa nớc truyền thống nên đất đai nói chung, ruộng đất nói riêng là
nguồn tài nguyên quốc gia quý giá, là t liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực

Giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp
tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng và Nhà nớc xác định 3 hình thức
sở hữu đất đai: sở hữu nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân, trong đó vấn
đề sở hữu tập thể gắn liền với hợp tác hóa nông nghiệp đợc phát huy mạnh mẽ.
Giai đoạn 1975 - 1985, đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc thống nhất
xây dựng mô hình tập đoàn sản xuất và tiếp tục thực hiện hợp tác hoá. Mỗi
một giai đoạn lịch sử đã qua cho thấy sự phát triển quan điểm, chủ trơng của
Đảng và chính sách của Nhà nớc phù hợp với đặc điểm, bối cảnh kinh tế -
chính trị - xã hội của từng giai đoạn cụ thể.
Cùng với tiến trình đó, nếu nh từ năm 1945 đến 1980 ở nớc ta tồn tại
3 loại hình sở hữu đối với đất đai là sở hữu nhà nớc, sở hữu tập thể và sở
hữu t nhân, thì từ năm 1980 chỉ còn một loại hình duy nhất là sở hữu toàn
dân. Cùng với sự phát triển kinh tế thì vấn đề đất đai ngày càng đợc Đảng
và Nhà nớc hết sức coi trọng, trong đó ngày càng đặc biệt nhấn mạnh vai
trò của Nhà nớc trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về
đất đai và thống nhất quản lý nhà nớc về đất đai - quan điểm này luôn đợc
quán triệt trong các văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nớc, chẳng hạn
nh:
Hiến pháp năm 1992 của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
Điều 17 quy định: Đất đai, vùng núi, sông hồ, nguồn nớc, tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lực ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài
sản do nhà nớc đầu t vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực
kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của nhà nớc đều thuộc sở hữu
toàn dân.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ơng khóa VII tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, không t nhân hóa, không cho phép mua bán đất. Thực hiện đúng Luật đất
đai, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách về đất đai. Trong
việc giao QSDĐ hay cho thuê đất phải xác định đúng giá các loại đất để sử

làm nền tảng cho chế độ sở hữu về đất đai trên hai phơng diện chủ yếu sau:
- Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên vô giá không thể thay thế đ-
ợc của quốc gia. Đó cũng là kết quả của quá trình chinh phục, chế ngự tự
nhiên, chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ
8
khác. Do đó, Nhà nớc và mọi tổ chức, công dân phải có trách nhiệm bảo vệ
gìn giữ nguồn tài nguyên quốc gia này.
- Đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt, liên quan đến kết quả đầu t lao
động, vốn, công sức cải tạo của từng ngời lao động cụ thể - vì vậy, nó phải hết
sức cụ thể, xác định và gắn với các lợi ích thiết thực.
Các yếu tố đòi hỏi việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phải
đảm bảo cho Nhà nớc can thiệp vào quan hệ đất đai với t cách là ngời đại diện
chủ sở hữu và quản lý tối cao, phải đảm bảo thống nhất hài hòa giữa các
quyền năng, vai trò tối cao của Nhà nớc với các quyền cụ thể của chủ thể sử
dụng đất.
Chính vì vậy, khi định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai phải hớng
tới các yêu cầu, nguyên tắc sau đây:
- Luật pháp hóa vai trò của Nhà nớc với t cách là đại diện chủ sở hữu và
ngời thống nhất quản lý toàn bộ đất đai.
- Xác định rõ vai trò của tổ chức, cộng đồng dân c, hộ gia đình và cá
nhân với t cách là chủ thể sử dụng cụ thể - xác định.
- Thiết lập mối quan hệ cụ thể, hài hòa giữa Nhà nớc và chủ thể sử dụng
đất trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt tinh thần đó, Luật Đất đai năm 2003 đã kế thừa, phát triển
các quy định của Luật Đất đai 1993, đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong
việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về đất đai, quy định cụ thể rõ ràng
quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nớc đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và
nghĩa vụ của ngời sử dụng đất.
Nhà nớc thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai thông qua quy hoạch,

sử dụng và định đoạt với tài sản của mình [27, tr.639]. Theo định nghĩa này,
quyền sở hữu phải bao gồm cả chiếm giữ, sử dụng và định đoạt đối với tài sản.
Đất đai là tài sản - t liệu sản xuất đặc biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu các hình
thái sở hữu khác nhau về đất đai của xã hội loài ngời cho thấy sở hữu đất đai
thể hiện trên hai mặt: sở hữu về mặt pháp lý và sở hữu về mặt kinh tế.
Quyền sở hữu về mặt pháp lý của chủ sở hữu đối với đất đai bao gồm
các quyền cơ bản: Quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng.
Quyền chiếm hữu đất đai: là hành vi độc chiếm đất đai ban đầu của
con ngời với tự nhiên để có điều kiện sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm
đáp ứng nhu cầu tồn tại.
Quyền định đoạt đất đai: là quyền chủ sở hữu đất đai giao toàn bộ các
quyền đối với đất đai cho chủ thể khác hoặc từ bỏ các quyền ấy. Chủ sở hữu
đất đai có quyền định đoạt số phận của đất đai bằng cách bán, đổi, tặng,
10
cho thuê Tự họ thực hiện quyền định đoạt đất đai thông qua các quan hệ nói
trên, với hình thức hợp đồng bằng văn bản hoặc miệng.
Quyền sử dụng đất đai: Do mục đích của đề tài, luận văn xin đợc đi sâu
phân tích nội dung này trong mục 1.2.2.
1.2.2. Khái niệm quyền sử dụng đất
Theo từ điển kinh tế, QSDĐ là phơng thức quy định, điều kiện, hình
thức sử dụng đất đai của từng cá nhân, của tập thể hoặc của nhà nớc. Chế độ
sử dụng đất đai là do quan hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị trong xã hội
quyết định [27, tr.513].
Luật Đất đai năm 2003 qui định Nhà nớc quy định quyền chiếm hữu,
còn QSDĐ trực tiếp thuộc về hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức sử
dụng đất hợp pháp và đợc phép.
Theo Bộ Luật Dân sự năm 2005, QSDĐ là quyền khai thác công
dụng, hởng hoa lợi, lợi tức tài sản. ở Việt Nam, Nhà nớc chỉ là đại diện cho
chủ thể sở hữu đất là toàn dân, chỉ sử dụng quyền định đoạt đối với đất đai
bằng các hình thức nh: quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất, quy định về hạn

hội. Tuy mỗi nớc có sự khác biệt về sở hữu đất đai nhng việc thực hiện lợi ích
kinh tế từ quyền sử dụng đất đều có những đặc điểm chung cơ bản và xuyên
suốt.
Nh vậy, QSDĐ xét về mặt kinh tế thì không chỉ dừng lại ở việc xác
nhận các hành vi, thao tác, hoạt động mà chủ yếu lại phải nhấn mạnh các
quan hệ kinh tế liên quan, thậm chí nó phải là tổng hợp các quan hệ kinh tế
đặc trng, và trong đó lại chứa đựng trong đó rất nhiều mối quan hệ, nhiều
quyền cụ thể khác nhau - chẳng hạn nh: quyền khai thác đất - bị qui định bởi
phạm vi, giới hạn và cố định trong không gian về diện tích, nó tồn tại vô hạn
về thời gian và khả năng sinh lợi lâu dài
So với các t liệu sản xuất khác, đất có u thế đặc biệt, nh Các Mác đã viết
T bản cố định bỏ vào máy móc, không vì đợc sử dụng tốt hơn lên, trái lại nó
hao mòn đi, trái lại, nếu đợc xử lí một cách thích đáng thì đất đai sẽ tốt mãi
lên. Ưu thế của đất là những khoản đầu t liên tiếp để đem lại lợi nhuận mà
không làm thiệt đến những khoảng đầu t liên tiếp ấy [34, tr.484].
1.2.3. Quan niệm về thực thi quyền sử dụng đất
Theo từ điển tiếng Việt, thực thi có nghĩa là thực hiện và thi hành một
nhiệm vụ cụ thể nhất định, đối với một đối tợng cụ thể nhất định, nhằm hớng
tới mục tiêu xác định. Với nghĩa thực hiện, thực thi trớc hết bị qui định bởi
những thuộc tính tự nhiên vốn có hay những tính qui định bản chất của chính
đối tợng đó, vì vậy nó là khách quan; đối tợng của thực hiện phải đã hoặc
đang tồn tại trên thực tế. Với nghĩa là thi hành thì nó trớc hết mang tính bị
động - thừa hành một mệnh lệnh hay nhiệm vụ nào đó do chủ thể khác yêu
12
cầu theo qui hoạch, chơng trình hay kế hoạch đã vạch sẵn, hiện thực hoá các
quyết định, các nghị quyết vì vậy nó còn bao hàm cả nghĩa tạo dựng cái
mới, cái tơng lai.
Với cách tiếp cận đó, TTQSDĐ không chỉ bao gồm hoạt động của các
chủ thể sử dụng đất nhằm khai thác các năng lực của đất để thoả mãn những
lợi ích của họ, mà nó còn phải bao gồm cả những công tác quản lý nhà nớc về

nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, bồi dỡng lực lợng nhân dân để
đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi. Vì vậy, nhận
thức về TTQSDĐ dờng nh cha đợc đề cập đến, mà chỉ chủ yếu quan tâm tâm
nhiều đến việc thực hiện khẩu hiệu ngời cày có ruộng - nghĩa là vấn đề sở
hữu đợc nhấn mạnh, còn vấn đề sử dụng chủ yếu vẫn mang tính chất truyền
thống
- Giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam
tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng và Nhà nớc xác định 3 hình
thức sở hữu đất đai: sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân, trong đó
vấn đề sở hữu tập thể gắn liền với hợp tác hóa nông nghiệp đợc phát huy mạnh
mẽ. Nhận thức về QSDĐ ở thời kỳ này gắn liền với quan điểm, mô hình kinh
tế kế hoạch hoá tập trung - mà điển hình là mô hình hợp tác xã, nông - lâm tr-
ờng quốc doanh và các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh; phù hợp với nền
kinh tế thời chiến Mặc dù vậy, giai đoạn này cũng đã xới xáo lên vấn đề sử
dụng đất - chẳng hạn nh những chủ trơng xây dựng cánh đồng 5 tấn, mà điển
hình là việc chuyển đổi mô hình hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao đã làm
thay đổi căn bản phơng thức sử dụng đất.
- Giai đoạn 1975 - 1980, đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc thống
nhất, cùng với việc sắp xếp, tổ chức mô hình sản xuất mới ở miền Nam thì do
sớm phát hiện ra những bất cập của mô hình sản xuất hiện hành ở miền Bắc
mà nhiều tìm kiếm, thử nghiệm mới đợc triển khai Tuy vậy, một mô hình
mới cho việc TTQSDĐ hiệu quả vẫn cha đợc xác lập.
- Giai đoạn từ 1981 đến nay - trên phơng diện TTQSDĐ có thể nói đây
là thời kỳ có nhiều biến đổi lớn, có nhiều bớc ngoặt quan trọng. Đầu tiên phải
kể đến đột phá trong nông nghiệp khi khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao
động đợc triển khai năm 1981 và Nghị quyết 10 của BCT về đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế nông nghiệp, mở đầu Luật Đất đai năm 1987 và đến Luật Đất
đai năm 2003 là mốc quan trọng nhất hớng đến việc hoàn thành xác lập quyền
sử dụng.
Mỗi một giai đoạn lịch sử đã qua cho thấy sự phát triển quan điểm, chủ

về mặt kinh tế.
1.2.2. Nội dung và vai trò của thực thi quyền sử dụng đất trong
phát triển kinh tế - xã hội
Theo phân tích trên, nội dung và vai trò của việc TTQSDĐ đợc thể
hiện ở và bị qui định bởi hoạt động của các chủ thể có liên quan, mà trong
đó quan trọng nhất và điển hình nhất thuộc về Nhà nớc và các chủ thể sử
dụng đất.
15
1.2.2.1. Quản lý nhà nớc đối với đất đai và quản lý đất đai (Theo Luật
đất đai 2003)
a. Xét về mặt đặc điểm, các định chế của Nhà nớc đối với đất đai và
quản lý đât đai theo Luật Đất đai năm 2003 có điểm đáng chú ý - đó là sự tách
bạch rõ ràng giữa quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nớc
với quản lý nhà nớc đối với đất đai, xác định phơng thức thực hiện, định rõ
quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan Nhà nớc trong việc thực hiện các nội
dung này, cụ thể là:
* Đối với việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.
Luật Đất đai năm 2003 đã xác định rõ nội dụng quyền định đoạt - một
biểu hiện điển hình của quyền sở hữu đối với đất đai của Nhà nớc với những
nội dung cụ thể sau [40, tr.13]:
+ Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua thông qua quyết định,
quy định sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất.
+ Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn giao đất.
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất.
+ Định giá đất.
Bên cạnh đó, Nhà nớc thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai
thông qua các chính sách về đất đai bao gồm:
+ Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
+ Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất.

hoạch sử dụng đât đai của cả nớc, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với
việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nớc.
+ Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ơng và quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc
phòng, an ninh, thống nhất quản lý nhà nớc về đất đai trong phạm vi cả nớc.
+ Bộ Tài nguyên và Môi trờng chịu trách nhiệm trớc Chính phủ trong
việc quản lý nhà nớc về đất đai.
+ Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành
pháp luật về đất đai tại địa phơng.
+ UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và
quản lý nhà nớc về đất đai tại địa phơng theo thẩm quyền.
b. Xét về nội dung cụ thể - Luật Đất đai năm 2003 qui định quyền của
Nhà nớc tập trung ở các phơng diện sau [44, tr.14]:
- Lập, quản lý hồ sơ địa giới hành chính và các loại bản đồ về đất đai.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích QSDĐ.
- Thu hồi đất.
17
- Tài chính về đất đai trong thị trờng bất động sản.
- Tổ chức cơ quan quản lý đất đai.
- Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về đất đai.
Đây chính là những vấn đề quan trọng và đợc Luật Đất đai năm 2003,
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật
Đất đai quy định cụ thể và chi tiết chặt chẽ về căn cứ nội dung, thẩm quyền và
trình tự, thủ tục thực hiện. Có thể nói chế định quyền của Nhà nớc và quản lý
Nhà nớc về đất đai cũng chính là nội dung thể hiện những điểm mới quan
trọng nhất của Luật Đất đai năm 2003 so với Luật Đất đai trớc đây. Tóm lại,
chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là yếu tố mang tính nền tảng, xác lập phơng
thức và nội dung để TTQSDĐ.

1. Đợc cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
2. Hởng thành quả lao động, kết quả đầu t trên đất.
3. Hởng các lợi ích do công trình của Nhà nớc về bảo vệ, cải tạo đất
nông nghiệp.
4. Đợc Nhà nớc hớng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông
nghiệp.
5. Đợc Nhà nớc bảo hộ khi bị ngời khác xâm phạm đến QSDĐ hợp pháp
của mình.
6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm QSDĐ hợp
pháp của mình và những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Ngời sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ chung sau đây:
1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định
về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công
trình công cộng trong lòng đất và tuân theo quy định khác của pháp luật.
2. Đăng ký QSDĐ, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhợng,
cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bão lãnh, góp vốn bằng
QSDĐ theo quy định của Pháp luật.
3. Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định củ pháp luật;
4. Thực thi các biện pháp bảo vệ đất.
5. Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trờng, không làm tổn hại đến
lợi ích hợp pháp của ngời sử dụng đất có liên quan.
6. Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.
7. Giao lại đất khi nhà nớc có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời
hạn sử dụng đất.
Đó là các quyền và nghĩa vụ chung của ngời sử dụng đất. Bên cạnh đó,
Luật Đất đai năm 2003 đã xác định quyền và nghĩa vụ đặc thù, chẳng hạn nh
19
đối với quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng
cho ngời sử dụng đất; quyền thế chấp, bão lãnh, góp vốn bằng QSDĐ đây
không phải là quyền mà tất cả các ngời sử dụng đất đều có. Chỉ có những ngời

20
1.2.2.3. ảnh hởng của quá trình thực thi quyền sử dụng đất đến phát
triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam, đất đai luôn là vấn đề cốt tử đối với nông dân, đất là t
liệu sản xuất quan trọng, cho nên quan hệ đất đai của xã hội luôn xoay
quanh vấn đề sử dụng đất và lợi ích do đất đai mang lại, quan hệ đất đai là
một trong những quan hệ trong nền kinh tế thị trờng nhận thức, vận dụng
đúng quan hệ sở hữu đất đai, vận động của sở hữu đất đai, loại hình và hình
thức sở hữu là đòi hỏi cấp bách để chủ động TTQSDĐ đai, việc khẳng định
QSDĐ đai là loại tài sản - hàng hóa, thừa nhận sự hình thành và hình thành
QSDĐ ở Việt Nam hiện nay là một bớc nhận thức mới trong đờng lối lãnh
đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nớc ta. TTQSDĐ đai cũng là nhằm đa ra một
số biện pháp để sử dụng tốt hơn quỹ đất đai hiện có của nớc ta. Vì vậy,
muốn có giải pháp phù hợp để thực thi tốt QSDĐ, cần thiết phải hiểu đ ợc
sâu sắc quá trình diễn biến quan hệ đất đai qua các thời kỳ, trên phạm vi cả
nớc cũng nh tại từng địa phơng, các quan hệ đất đai đều mang tính kế thừa
lịch sử. TTQSDĐ ở Việt Nam hiện nay đợc thể hiện qua quá trình phân tích
dới đây:
Trớc khi thực dân Pháp đô hộ nớc ta, nền kinh tế Việt Nam, là nền kinh
tế phong kiến, tự cung, tự cấp, sở hữu đất đai phong kiến chiếm địa vị thống
trị QSDĐ đai trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nớc phong kiến. Từ giữa thế
kỷ thứ XIX đến cách mạng tháng tám 1945, khi pháp xâm lợc Việt Nam, ngày
01 tháng 9 năm 1945, các luật lệ và chính sách đất đai cơ bản do nhà nớc Pháp
đặt ra, trong đó có chính sách cớp đất lập đồn điền. Vào khoảng cuối những
năm 20 của thế kỹ XX, Việt Nam có 4.300.00ha đất trồng trọt, trong đó có
487.297ha ruộng công chiếm 9,5 đất trồng trọt, chiếm 1/5 diện tích, trong đó
1/3 là đất lúa, có 1.874.800 ngời ngời là chủ ruộng, chủ yếu là những chủ đồn
điền ngời Pháp và địa chủ ngời Việt Nam, trong khi đó tổng số hộ ở nớc ta
thời kỳ này là khoảng 4 triệu hộ là hơn một nữa số hộ không có ruộng. Sau khi
giành đợc độc lập, thời kỳ trớc hợp tác hóa nông nghiệp (1945-1958) Chính

đai ổn định lâu dài hộ nông dân theo tinh thần khoán 10 đã tạo sức sản xuất
mới trong nông nghiệp, nông thôn, tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng
đất cao, cộng đồng trong cộng động dân c. Tuy vậy, dẫn đến những mâu thuẩn
chia nhỏ quỹ đất ở nông thôn, với quan điểm có gần, có xa, có tốt, có xấu mâu
thuẫn với yêu cầu tập trung đất đai để sản xuất tập trung chuyên môn hóa,
phát triển sản xuất hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật những hộ
nông dân nghèo, khó khăn thiếu vốn, lao động, kiến thức, kinh nghiệm sản
xuất và nhận đợc định suất đất đai dẫn đến lãng phí quỹ đất đai. Trong khi đó
hộ khá, có vốn, có lao động và có kinh nghiệm sản xuất thì thiếu đất và sự bất
22
hợp lý này dẫn đến việc các hộ tự trao đổi, chuyển nhợng ngầm với nhau về
ruộng đất. Vì vậy, việc xác lập QSDĐ với quan điểm mới đặt ra ngày càng lớn
và cần phải đợc giải quyết. Bên cạnh đó, tình trạng bao chiếm đất đai của
nông trờng, lâm trờng quốc doanh, Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
chiếm tỷ lệ quá lớn, trong khi đó nhân dân tại chổ lại thiếu đất sản xuất, dẫn
đến tình trạng nông dân đòi lại đất cũ và tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trên lĩnh
vực đất đai rất phức tạp tạo bất ổn về an ninh, chính trí. Các vấn đề bức xúc về
đất đai về nông nghiệp, nông thôn, nông dân đợc đặt ra và đòi hỏi phải đợc
giải quyết vả về lý luận và thực tiển. Với nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế
thị trờng, hội nhập quốc tế cho thấy việc chuyển nhợng, cho thuê, thế chấp đất
đai là tất yếu và rất cần thiết.
Từ quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nớc đại diện chủ sở
hữu thống nhất quản lý, Nhà nớc thực hiện quyền sở hữu của mình trong việc
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đai. Việc Nhà nớc giao đất, cho thuê
đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ngời sử dụng đất (hộ gia đình, cá nhân, tổ
chức ) là một bớc cụ thể hóa quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, một
chuyển biến lớn trong nhận thức và vận dụng vào thực tiển về sở hữu đất đai.
Thc hin i mi ton din chớnh sỏch rung t, tin hnh giao t
ai n nh cho nhõn dõn theo tinh thn Ngh quyt 10 th hin qua cỏc ni
dung sau: Mt l, i mi quan h s hu bao gm: quan h sn xut, tha

sử dụng. Diễn biến chi tiết của việc quy hoạch sử dụng các loại đất đai qua
một số năm trớc khi có luật đất đai 2003 đợc mô tả ở bảng 1.1.
Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai trên phạm vi cả nớc qua các năm
Chỉ tiêu
1990 1995 2000
So sánh
2000/1990
D.tích
(nghìn
ha)
Tỷ
trọng
(%)
D.tích
(nghìn
ha)
Tỷ
trọng
(%)
D.tích
(nghìn
ha)
Tỷ
trọng
(%)
D.tích
(nghìn
ha)
Tỷ
trọng

0,17
1,16
22.869,8
9.345,4
11.575,4
1.532,8
72,2
370,0
69,54
28,38
35,15
4,66
0,22
1,13
+4.691,4
2.412,2
2.180,2
560,6
-
- 470,8
+ 25,8
+ 34,8
+ 23,2
+ 57,6
-
- 54,7
II- Đất cha sử dụng và
sông suối, núi đá
14.924,9 45,1 12.604,1 37,8 10.027,3 30,46 - 4,897,6 - 32,8
Nguồn: Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 3,

nhanh: năm 1996 có khoảng 375.500 ha thì đến năm 2002 có 677.500 ha, tăng
302.000 ha (tăng 80,43%) [51, tr.183].
Nhìn chung, việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian
qua đã có những chuyển biến tích cực: mở rộng diện tích, chuyển dịch cơ cấu
theo hớng phát triển sản xuất hàng hóa; khai thác thế mạnh (thổ nhợng, các
điều kiện tự nhiên) của từng khu vực nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn
25

Trích đoạn Những thành công và nguyên nhân Những hạn chế và nguyên nhân QUAN ĐIỂM, MỤC TIấU VÀ GIẢI PHÁP THỰC THI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở HOÀ VANG ĐÀ NẴNG THỜI GIAN ĐẾN Nõng cao nhận thức về cụng tỏc quản lý và sử dụng đất đai và đẩy mạnh cụng tỏc phổ biến giỏo dục phỏp luật về đất đa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status