xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - Pdf 10

Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
hội, nó không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của từng quốc gia. Văn hóa là từ có nội hàm rất rộng bao trùm cả lĩnh vực
lịch sử, giáo dục, xã hội… Văn hóa giúp cho lịch sử con người nhận thức được
không gian, và mọi vật xã hội tiến tới chân - thiện - mỹ. Trải qua bao biến chuyển
của lịch sử, nếu có một điều đáng tự hào của nhân loại nói chung, đó chính là
thành tựu văn hóa. Lịch sử trên thế giới đã chứng minh: lớp bụi thời gian sẽ làm
phai mờ tất cả, trừ giá trị văn hóa vẫn mãi mãi lưu truyền. Trong thời đại ngày
nay, khi kinh tế ngày càng phát triển và các quốc gia trên thế giới ngày càng xích
lại gần nhau thì văn hóa dân tộc trở thành trung tâm của sự chú ý. Những năm
gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng
của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đồng thời đặt
mục tiêu “Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
[21;533].
Đối với từng quốc gia đều có những nét văn hóa rất riêng, rất đặc trưng của
quốc gia dân tộc mình gắn liền với sắc thái văn hóa của tất cả các dân tộc sinh
sống trên quốc gia đó. Đối với từng đơn vị hành chính (tỉnh, huyện) của một quốc
gia, bên cạnh tất cả các sắc thái văn hóa của các dân tộc đang sinh sống còn có
những địa danh, khu di tích lịch sử, các lễ hội truyền thống… góp phần tạo nên
những nét văn hóa rất đơn nhất, rất đặc sắc của đơn vị hành chính đó. Do đó, nếu
biết phát huy và phát triển các giá trị văn hóa của mỗi con người, của các cộng
đồng dân tộc, của từng khu di tích lịch sử, của từng lễ hội truyền thống một cách
lành mạnh thì càng có điều kiện thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết
tốt các vấn đề xã hội.
Việt Nam có 64 tỉnh, thành trải dài từ Bắc chí Nam hầu như nơi nào
cũng có di tích và thắng cảnh. Mỗi di tích và thắng cảnh như mỗi bông hoa rực rỡ
sắc màu trong rừng hoa văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. An Giang
thuộc miền Tây Nam Bộ, vùng đất có lợi thế về thiên nhiên, là vùng đồng bằng

mạnh theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà
nước. Mặt khác, vẫn tôn trọng những giá trị văn hóa thuộc về truyền thống của
các di tích, cũng như những nét sinh hoạt đặc sắc riêng của các lễ hội.
Các lễ hội núi Sam, có tính đa dạng về loại hình hoạt động và phong phú về
nội dung thờ cúng. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tập tục thờ nữ thần, thờ cúng
Phật, Thánh… xuất phát từ tín ngưỡng đa thần của cư dân nông nghiệp; từ cội
nguồn tâm thức chung của người Việt, luôn sống với đạo lý: “Uống nước nhớ
nguồn”. Qua các nội dung của các lễ hội nêu trên, người ta có thể nhìn nhận rõ
Trang
2
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
nét hơn tính giao lưu tiếp biến văn hóa của tín ngưỡng dân gian bản địa, điển hình
như Chúa Xứ Thánh Mẫu.
Trong những năm qua, mặc dù những nét văn hóa trong Lễ hội Vía Bà Chúa
Xứ núi Sam đã được nhiều tác giả nghiên cứu đến. Tuy nhiên, hầu hết tất cả đều
nêu một cách khái quát về Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, chưa đi sâu tìm hiểu phong
tục sinh hoạt, các nét văn hóa truyền thống độc đáo của lễ hội và đề ra các biện
pháp để giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, một
lễ hội được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2001.
Trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước, giai đoạn hội nhập toàn
cầu, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giữ gìn những nét văn hóa độc đáo trong Lễ
hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Quảng bá hình
ảnh độc đáo Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam không chỉ cho du khách trong nước
mà còn du khách ngoài nước biết đến, cũng như xóa bỏ những nghi ngờ, những
quan niệm sai lệch xem lễ hội là một hình thức mê tín dị đoan. Đó cũng là vấn đề
đáng quan tâm hiện nay.
Mảng đề tài về văn hóa là lĩnh vực tôi rất tâm đắc, được sinh ra và lớn lên
trên mảnh đất An Giang giàu truyền thống anh hùng, nổi tiếng về nông nghiệp,
với nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp. Tiếp bước truyền thống đó, tôi cũng
muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào quá trình xây dựng quê

Phương pháp tiếp cận văn hóa: logic-lịch sử, khảo sát thực tế.
Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống.
Phương pháp điền giả
5. Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ thêm về văn hóa dân tộc nói chung, và một
số nét văn hóa độc đáo (Văn hóa tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu) của Lễ hội Vía Bà
Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang hiện nay nói riêng.
Đề ra một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa dân tộc trong Lễ hội Vía Bà Chúa
Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang trong giai đoạn hội nhập của đất
nước hiện nay.
Quảng bá hình ảnh văn hóa độc đáo của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
không chỉ cho du khách trong cả nước mà còn cho du khách nước ngoài biết đến,
cũng như xóa bỏ những nghi ngờ, những quan niệm sai lệch về Lễ hội.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm nguồn tư liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn hóa, cũng như nét văn hóa dân tộc
trong Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách,
chủ trương của chính quyền địa phương về công tác văn hóa, tư tưởng thị xã
Châu Đốc, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay.
Trang
4
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
6. Kết cấu khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 2 chương.
Chương 1
Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Mẫu trong nền
văn hóa Việt Nam
1.1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian
1.1.1. Khái niệm văn hóa

thức về giữ gìn nét văn hóa ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
2.3.2.2. Phát huy nét đẹp, điều đúng ở Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
2.3.2.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và biện pháp quản lý của
Nhà nước đối với Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam

Trang
6
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
Văn hóa tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ
Mẫu trong nền văn hóa Việt Nam
1.1. Văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Tiến trình lịch sử của nhân loại cho thấy, ngay từ thuở sơ khai, văn hóa đã là
nền tảng, là động lực của quá trình phát triển của toàn thể cộng đồng nói chung và
từng cá thể thành viên của cộng đồng nói riêng. Văn hóa đã trở thành một chủ đề
thu hút sự quan tâm chung của toàn thể cộng đồng nhân loại chứ không còn là
vấn đề riêng của giới nghiên cứu học thuật nữa.
Trong tiếng Việt, văn hóa là danh từ có nội hàm khá rộng và phức tạp.
Người ta có thể hiểu văn hóa như là một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng
cũng có thể hiểu văn hóa như lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn
hóa như trình độ học vấn mà mỗi công nhân viên chức vẫn ghi trong lý lịch công
chức của mình.
Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào những không
gian, thời gian khác nhau và những tác giả khác nhau. Điều đó chứng tỏ tính đa
dạng phong phú và tính luôn luôn biến đổi của văn hóa. Bản thân thực thể văn
hóa đã trở thành đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu, văn hóa không còn giới hạn
trong khuôn khổ của một khoa học mà là sự đa chiều của nhiều khoa học. Điều
này đã dẫn đến việc có quá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa được đề cập

nghĩa với giáo hóa [17;14]. Trong phong trào “Minh trị duy tân” khởi xướng vào
năm 1868, Nhật Bản đã dịch rất nhiều sách của phương Tây, hai từ văn hóa đã
được Nhật Bản dùng để dịch những từ có cùng gốc Latinh Cultura.
Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương
Đông như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hóa mới được đưa vào khoa
học, sử dụng như thuật ngữ khoa học. Năm 1774, từ này mới được xuất hiện
trong thư tịch và ghi vào từ điển năm 1783 ở Đức. Người đầu tiên sử dụng từ văn
hóa trong khoa học là Pufendorf, người Đức. Ông cho rằng văn hóa là toàn bộ
những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái
tự nhiên. Trong khi nhà triết học H.Kant lại cho rằng văn hóa là sự phát triển,
bộc lộ các khả năng, năng lực và sức mạnh của con người [17;14]. Cùng với các
nhà triết học Đức, nhà triết học Vico người Ý cho rằng, văn hóa là một từ chỉ
phức thể gồm: khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị.
Đến năm 1855, khi Klemm công bố công trình Khoa học chung về văn hóa
thì người ta mới coi khoa học về văn hóa hình thành và thực sự phát triển. Năm
1871, E.B.Tylor công bố công trình Văn hóa nguyên thủy ở Luân Đôn. Lúc này,
ngành khoa học về văn hóa mới chính thức được khẳng định, bởi E.B.Tylor đã
Trang
8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
xác lập được đối tượng nghiên cứu của ngành văn hóa học. Trên cơ sở này,
E.B.Tylor đã đề xuất một định nghĩa đầu tiên về văn hóa và khá nổi tiếng: “Văn
hóa, hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng và tập quán khác
mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [10;19]. Như
vậy, E.B.Tylor cho rằng con người có được văn hóa với tư cách là một thành viên
xã hội, không có cộng đồng nào không có văn hóa và cũng không có văn hóa nào
tồn tại ngoài cộng đồng. Đi sâu tìm hiểu định nghĩa này, có thể thấy, E.B.Tylor đã
nhấn mạnh về mặt tinh thần của văn hóa. Định nghĩa này cũng nêu gộp mọi bình
diện, cấp độ của văn hóa, do đó chưa nêu được bản chất văn hóa, vì vậy chỉ là

của các nước, từ văn hóa cũng có một vị trí xứng đáng với những lời giải thích
khá đầy đủ và sâu sắc: “Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn
ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ … những hiểu biết kĩ thuật cũng như toàn bộ việc
tổ chức môi trường con người… những công cụ, nhà ở… và nói chung toàn bộ
công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và ứng xử của một
nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó…” (Bách khoa toàn thư Pháp)
[10;35].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, văn hóa bắt nguồn từ lao động.
C. Mác viết: Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên
của mọi sự tồn tại con người, và do đó tiền đề của mọi lịch sử, đó là người ta phải
có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì
trước hết phải có thức ăn, nước uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác. Như
vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất những tư liệu để thỏa mãn những nhu
cầu ấy, việc sản xuất ra đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một
điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước)
người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ để nhằm duy trì đời sống con
người [31;10-11]. Từ đây Mác cho rằng, khởi điểm của hành vi lịch sử đầu tiên là
văn hóa. Văn hóa như là sự thăng hoa của quá trình sản xuất vật chất, là cái để
con người khẳng định mình. Và do vậy, bản chất con người luôn sáng tạo theo
quy luật của cái đẹp. Quan niệm của Mác, Ăngghen về văn hóa đã được
V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Với V.I.Lênin, văn hóa luôn gắn liền với phát
triển và hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội [31;11].
Thuật ngữ văn hóa xuất hiện rất lâu trong ngôn ngữ Hán, du nhập vào Việt
Nam từ hơn 2000 năm trước [3;10]. Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác
nhau được các giáo sư, các nhà văn hóa học Việt Nam nêu lên. Căn cứ vào nghĩa
gốc của từ Culture trong tiếng Latinh, Giáo sư Vũ Khiêu, nhà văn hóa học Việt
Nam, cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ vun trồng của con người, của xã hội…
Văn hóa là trạng thái của con người ngày càng tách khỏi giới động vật, ngày
càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con
người” [13;21].

hội, tính giá trị với chức năng điều tiết xã hội, tính lịch sử với chức năng giáo
dục, tính nhân bản với chức năng giao tiếp;
Sáu là, văn hóa về bản chất là một quá trình phát triển mang tính người, nó
là cái đặc trưng cho một cộng đồng dân tộc.
Tóm lại, điểm qua một vài định nghĩa xưa và nay, trong và ngoài nước về
văn hóa, có thể thấy rằng trên cả hai bình diện chính trị và khoa học thì những
quan điểm hoặc định nghĩa về văn hóa là rất khác nhau nhưng không vì thế mà
Trang
11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
chúng ta không thấy điểm chung trong các định nghĩa, quan niệm về văn hóa (văn
hóa thuộc về con người và có tính giá trị). Tất nhiên, ở mọi cộng đồng người khác
nhau do những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau thì những giá trị này không
đồng nhất mà chúng hết sức khác nhau thậm chí đối nghịch nhau.
Bên cạnh khái niệm văn hóa, còn có những khái niệm gần gũi, có liên quan
song không đồng nhất với nó. Đó là các khái niệm văn minh, văn hiến, văn vật.
Văn hóa là một khái niệm bao trùm, có chứa cả giá trị vật chất lẫn tinh thần.
Văn hóa luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc. Khái niệm văn hóa và các nền văn
hóa cổ đại đều xuất phát từ các nước phương Đông có nền kinh tế nông nghiệp
trồng lúa nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, … Nền văn hóa phương
Tây xuất hiện sớm nhất là văn hóa Hy lạp và La Mã cùng có nguồn gốc từ
phương Đông, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của nền văn hóa Ai Cập -
Lưỡng Hà. Các trung tâm văn hóa cổ đại phương Đông đều hình thành ở những
lưu vực có con sông lớn - là những nơi sản xuất nông nghiệp từ xưa đến nay.
Văn minh (văn là vẻ đẹp, minh là sáng) là một từ có nguồn gốc trong tiếng
Hán được Hán Việt hóa, được ghép bằng hai từ Văn và Minh. Trong các tiếng
Anh, Pháp, Đức, Nga, Latinh cùng có một nguồn gốc là Civilisation là để chỉ sự
khai hóa, làm cho con người thông tuệ lên. Như vậy, quan niệm của phương
Đông và phương Tây thì có sự đồng nhất trong khái niệm văn minh, đó là làm
cho con người tân tiến hơn cả về vật chất, về tinh thần, về ứng xử, cũng có nghĩa

Từ khi có loài người đã có tín ngưỡng. Các tín ngưỡng xa xưa ấy đều là bái
vật giáo, đa thần giáo theo quan niệm sơ khai của nhân loại là vạn vật hữu linh.
Cùng với sự tiến bộ của nhân loại, các tôn giáo lớn ra đời dần thay thế các tín
ngưỡng sơ khai. Tuy nhiên, nhiều bộ tộc, nhiều dân tộc của các quốc gia, kể cả
các quốc gia có nền văn hóa sớm phát triển, vẫn duy trì tín ngưỡng đa thần giáo.
Theo Đào Văn Tập trong Tự điển Việt Nam phổ thông: “Tín ngưỡng là lòng
tin, ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [27;95].
Trong Hán – Việt tự điển, Đào Duy Anh đã giải thích: “Tín ngưỡng là lòng
ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [27;95].
Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật
thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người
suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm. Tín ngưỡng là một thành tố của văn
hóa tổ chức cộng đồng, thuộc phạm vi đời sống cá nhân, được hình thành tự phát,
nhưng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người.
Tín ngưỡng của người Việt thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Ra đời trên nền tảng
xã hội nông nghiệp cổ truyền, tố chất nông dân mạnh về tư duy tổng hợp, thiếu tư
duy phân tích nên tín ngưỡng của người Việt là tín ngưỡng dân dã đang ở giai
đoạn hình thành mầm móng của tôn giáo sơ khai; nghĩa là tín ngưỡng Việt Nam
chưa chuyển được thành tôn giáo.
Trang
13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
Cũng như các thành tố khác của văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng Việt Nam
phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt
Nam. Đó là: sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên); là sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm – Dương (từ đối tượng thờ cúng
như Trời – Đất, Chim – Thú, Rừng – Nước, cơ quan sinh dục Nam – Nữ… cho
đến cách thức giao lưu giữa con người và thần linh, trần gian và cõi linh thiêng);
là khuynh hướng đề cao nữ tính với hàng loạt nữ thần được thờ cúng ở mọi làng

kết quả hành vi giao phối Đực – Cái, Nam – Nữ); trước sự sinh sôi để duy trì sự
sống của cây trồng (cây lúa…), vật nuôi. Họ nhìn thấy ở thực tiễn đó một sức
mạnh siêu nhiên và sùng bái các hiện vật – hiện thực đó như thần thánh. Như vậy,
bản chất của tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng cầu sinh nở và no đủ.
Ở nước ta, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử, dưới hai
dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành vi giao phối.
Thứ nhất, thờ cơ quan sinh dục nam nữ, được gọi là thờ sinh thực khí (sinh
= đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ). Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng
phồn thực, nó phổ biến ở các nền văn minh nông nghiệp trên thế giới. Thuật ngữ
của ngành dân tộc học trên thế giới gọi sinh thực khí là Linga (Cơ quan sinh dục
nam) và Yoni (Cơ quan sinh dục nữ).
Ở Việt Nam, việc thờ sinh thực khí được gọi là thờ cúng nõ nường, những
tên chỉ sinh thực khí là Nõ (nêm) tượng cho bộ phận sinh dục nam, Nường (nang,
mo nang) tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Ngoài ra, còn có các biến thể của việc
thờ cơ quan sinh dục nam nữ như: thờ cột đá tự nhiên, thờ các kẻ đá nứt tự nhiên,
tạc các bộ phận của các công trình kiến trúc có hình dáng như bộ phận sinh dục
nam, nữ.
Thứ hai, thờ hành vi giao phối, một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, đặc
biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam.
Ở Việt Nam, có những biểu hiện của tín ngưỡng này như: tượng bốn đôi
nam nữ đang giao hợp được đúc bằng đồng, gắn trên nắp thạp đồng Đào Thịnh
(Yên Bái, niên đại 500 năm Tr.CN). Ở thân thạp Đào Thịnh khắc chìm hình
những con thuyền, chiếc sau nối đuôi chiếc trước, khiến cho hai con cá sấu – rồng
được gắn ở mũi và lái của hai chiếc thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan.
Trên nắp trống đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) có khắp những cặp chim ngồi trên
lưng nhau trong tư thế đạp mái; tượng cóc giao phối; điệu múa “tùng – dí” trong
lễ hội làng các vùng trung Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ, với thanh niên nam nữ
từng đôi múa, cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ,
cứ mỗi khi nghe trống đánh (tùng), họ lại giơ hai vật đó chạm vào nhau (dí);
Tượng nam nữ với bộ phận sinh dục quá cỡ thường xuyên có mặt ở các nhà mồ

gắn bó với lễ về nội dung, không gian và thời gian. Lễ hội là kết quả của sự vận
động của sự hội nhập giữa “Lễ” và “Hội” diễn ra trong tiến trình lịch sử đời sống
tinh thần của cộng đồng xã hội. Cũng có thể hiểu: lễ hội là sinh hoạt văn hóa tín
ngưỡng của cộng đồng làng xã, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và
phát triển cho cả cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, niềm hạnh phúc cho
từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu
của mùa màng từ bao đời nay đã quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “Nhân
Khang Vật Thịnh”. Đó là mục đích và yêu cầu của lễ hội dân gian truyền thống.
Một quan niệm đúng đắn về bản chất của lễ hội sẽ là cơ sở quan trọng để từ đó
nhìn nhận, đánh giá thực trạng hiện nay của chúng ta và đưa ra hướng giải quyết
thích hợp.
Trang
16
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
1.1.3. Tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về văn hóa
1.1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách
mạng Việt Nam. Toàn bộ tư tưởng di sản của Người là một kho báu văn hóa của
dân tộc, hàm chứa nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú, đặc sắc và sáng tạo, rất
trí tuệ và rất nhân văn. Trong đó tư tưởng về văn hóa chiếm một vị trí đặc biệt
quan trọng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận
mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt
Nam. Nó chắc lọc, tổng hợp và kết tinh được những giá trị văn hóa của phương
Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế trong đó cốt
lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa và bản sắc dân tộc Việt
Nam [18;13].
Nét đặc sắc nổi bật trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài
hòa giữa dân tộc với quốc tế, giai cấp với nhân loại, truyền thống với hiện đại,

phẩm đặc sắc, mẫu mực trên nhiều lĩnh vực, để lại nhiều nhiều quan điểm, tư
tưởng của mình về văn hóa và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Thắm nhuần
sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa
dân tộc, tắm mình trong hoạt động thực tiễn phong phú của nhân dân, Hồ Chí
Minh đã nhận rõ ý nghĩa lớn lao và vị trí đặc biệt của văn hóa.
Người nói: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết. Phải làm thế nào
cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được
tham nhũng, được lười biếng, phù hoa xa xỉ. Tâm lý của ta lại muốn lấy tự do,
độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc
lập, tự do… Số phận dân ta ở trong tay ta. Văn hóa phải biết soi đường cho quốc
dân đi” [2;137-138]. Chúng ta thấy rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
văn hóa và chiến lược phát triển văn hóa. Những tư tưởng đó không chỉ còn
nguyên giá trị của nó mà có thể nói, hơn lúc nào hết cần được quán triệt trong giai
đoạn đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, việc xây dựng một nền
văn hóa mới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra như một trong
những nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Những ngày đầu tháng 9/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã cho thành lập Ủy ban văn hóa lâm thời Bắc bộ. Trong buổi
tiếp đại biểu của Ủy ban này ngày 7/9/1945, Người nói: “Tôi mong rằng các ngài
trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố
nền độc lập Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới”
[11;415]. Khi miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí
Minh đã nêu rõ: “… để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn
hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về văn hóa” [11;416].
Trang
18
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám (1945), cuộc kháng chiến dân tộc ta
bước vào thời kỳ quyết liệt. Trên cơ sở nắm vững được vị trí vai trò của văn hóa,

luôn phấn đấu vì một xã hội có văn hóa, phấn đấu cho mọi người được hưởng văn
hóa, phấn đấu cho cả dân tộc phải có văn hóa ngang tầm thời đại. Cho nên khi nói
Trang
19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
đến việc chống giặc dốt, Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
[2;141]. Khi nói đến Đảng ta, Người đòi hỏi: “Đảng là đạo đức là văn minh”
[2;141]. Nếu Đảng không có đạo đức, không văn minh thì làm sao có thể lãnh đạo
cả một dân tộc chiến thắng được những tên đế quốc lớn như Mỹ và Pháp. Đó
chính là bí quyết về sức mạnh văn hóa mà kẻ thù không sao hiểu nổi. Ngày nay,
trong xây dựng đất nước, Đảng không có đạo đức thì làm sao đưa đất nước đi vào
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hồ Chí Minh chỉ ra tính chất, đặc trưng của nền văn hóa mới mà chúng ta
cần xây dựng, đó là nền văn hóa dân tộc, hiện đại và nhân văn. Người nói nhiều
đến việc xây dựng đời sống mới, chăm lo phát triển văn hóa từ việc nhỏ đến việc
lớn, quan tâm đến đời sống văn hóa của mọi người, mọi nhà. Đặc biệt, Chủ tịch
Hồ Chí Minh nói nhiều đến đạo đức và xây dựng con người toàn diện có cả đức
lẫn tài. Ngày nay, trong bối cảnh xã hội mới, được chứng kiến nhiều hiện tượng
xuống cấp đạo đức đến mức báo động, chúng ta càng thấy rõ những điều dạy của
Người về đạo đức cách mạng là vô cùng sáng suốt.
Không chỉ nói đến văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương,
một ví dụ tiêu biểu của một con người văn hóa, không chỉ thể hiện ở tài năng,
phẩm chất, đức độ mà cả cách ứng xử, tác phong. Đó là một con người rất
nghiêm khắc trong việc chống cái xấu, cái ác nhưng rất bao dung với mọi người.
Như vậy, các quan điểm, tư tưởng cơ bản nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn
hóa nước ta. Những lời dạy của Người không chỉ có tầm chiến lược mà còn có ý
nghĩa chỉ đạo cụ thể trong công việc hằng ngày của chúng ta. Nó mãi mãi là ánh
sáng soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta.
1.1.3.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn

Việt Nam (phần IV); Nhiệm vụ cần kíp của những nhà văn hóa mác xít Đông
Dương và nhất là những nhà văn hóa mác xít ở Việt Nam (phần V). Đề cương
văn hóa 1943 của Đảng ta do đồng chí Trường Chinh chấp bút thực sự là văn kiện
lớn có giá trị lịch sử, đánh dấu quan điểm của Đảng ta về văn hóa - văn nghệ. Xác
định “phạm vi vấn đề văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật”, bản
Đề cương văn hóa 1943 khẳng định: “Thái độ cộng sản Đông Dương đối với vấn
đề văn hóa:
a. Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở
đó người cộng sản phải hoạt động.
b. Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn
hóa.
c. Có lãnh đạo được phong trào văn hóa Đảng mới ảnh hưởng được dư
luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” [21;517].
Trên cơ sở ấy, bản Đề cương văn hóa 1943 khẳng định: nền văn hóa mà
cuộc cách mạng văn hóa Đông Dương phải thực hiện sẽ là văn hóa xã hội chủ
Trang
21
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
nghĩa và chỉ ra ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa: dân tộc hóa,
đại chúng hóa và khoa học hóa.
Đến nay, nhiều quan điểm văn hóa, nhiều phạm trù khoa học, nhiều phương
châm hành động được nêu lên trong bản Đề cương văn hóa 1943 đã đi vào cuộc
sống và trở nên quá quen thuộc với mọi người, “nếu đặt bản Đề cương vào thời
điểm 50 năm trước thì đó lại là đỉnh cao trí tuệ đương thời, là nhận thức sắc bén
về tình hình, là dự báo khoa học về tương lai, là sức mạnh tinh thần to lớn mà đất
nước đang cần” [17;22]. Nói cách khác, ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã thấy vai trò quan trọng của văn hóa, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt
Nam.
Nối tiếp Đề cương văn hóa 1943, năm 1948, đồng chí Trường Chinh công
bố tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam ở Hội nghị văn hóa toàn quốc

vực văn hóa. Tiếp nối những văn kiện về văn hóa đã được công bố trước đây, Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VI ra nghị quyết 05 chuyên về văn
hóa văn nghệ (tháng 11-1987). Tháng 6-1988, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương khóa VI và sau đó tháng 11-1988 Bộ Chính trị ra nghị quyết và
kết luận về công tác văn hóa văn nghệ. Ngày 8-6-1989, Ban Bí thư ra chỉ thị số
62 – CT/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học nghệ thuật.
Ngày 21-6-1990, Ban Bí thư ra chỉ thị số 61 – CT/TW về công tác quản lý văn
hóa nghệ thuật và ngày 25-7-1990 ra chỉ thị số 63 – CT/TW về tăng cường sự
lãnh đạo đổi mới trong tư duy lý luận về văn hóa của Đảng. Quan điểm của Đảng
cũng được thể chế hóa trong văn bản nhà nước. Hiến pháp 1992 của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thể chế hóa những quan điểm ấy. Trong
chương III của Hiến pháp (1992) với nhan đề Văn hóa, giáo dục, khoa học, công
nghệ, từ điều 30 đến điều 34 đề cập đến vấn đề văn hóa ở các khía cạnh:
Một là, Nhà nước chủ trương bảo tồn phát triển nền văn hóa Việt Nam, các
di sản văn hóa dân tộc, những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư
tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,
cấm truyền bá tư tưởng, văn hóa phản động, đồi trị, bài trừ mê tín, hủ tục.
Hai là, Văn hóa có chức năng góp phần bồi dưỡng nhân cách và tinh thần
cao đẹp của con người Việt Nam, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ
nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác, có thuần phong mỹ
tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc.
Ba là, Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm các hoạt
động văn hóa tổn hại cho lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối
sống tốt đẹp của người Việt Nam.
Tháng 1-1993, Ban chấp hành Trung ương khóa VII họp hội nghị lần thứ tư
dành riêng một nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những năm
trước mắt. Trong lời phát biểu khai mạc hội nghị, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
nói: mọi sự phát triển xã hội phải “gắn liền với việc kế thừa và phát huy những
truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc
Trang

Cần phải nhận thấy rằng, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn văn hóa, Đảng ta
đã nhận thức rất rõ sự cần thiết của việc ban hành một nghị quyết riêng về văn
hóa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
thực sự là một sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng và phản ánh ý nguyện toàn dân, ở
diện rộng, chiều sâu và tầm cỡ lớn lao hơn. Điểm mới thể hiện tầm nhìn chiến
lược của Đảng trong việc xây dựng nhiệm vụ của văn hóa một cách toàn diện,
Trang
24
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Svth: Nguyễn Hồ Thanh
một nghị quyết mang tính định hướng chiến lược lâu dài, đồng thời đưa cả những
giải pháp để giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt. Điểm mới này, một mặt
thể hiện rất rõ ở những quan điểm chỉ đạo cơ bản về văn hóa, trong đó đặc biệt là
5 quan điểm chỉ đạo cơ bản về xây dựng và phát triển văn hóa:
Thứ nhất, Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ ba, Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Thứ tư, Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng
lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng.
Thứ năm, Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự
nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận
trọng. [21;533-534-535].
Mặt khác, còn thể hiện khá cụ thể ở những nhiệm vụ, những giải pháp lớn để
xây dựng và phát triển văn hóa. Nghị quyết lần này đã nhìn nhận vai trò văn hóa,
vị thế văn hóa một cách toàn diện, từ quan niệm văn hóa với nội hàm rộng đến
việc xác lập trọng tâm công tác văn hóa những năm trước mắt; từ quan điểm gắn
kết văn hóa với phát triển, sự thấm sâu của văn hóa đến đời sống xã hội đến hình
thành một phong trào, một cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status