Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Häc viÖn ng©n hµng
Môc LôC
Trang
SV: NguyÔn m¹nh TiÕn Líp: NHB- K7
1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Danh mục chữ viết tắt
NHTM
DN
NHNo&PTNT
HTX
TNHH
DNNN
DNTN
TCTD
NH
RRTD
NQH
BĐBTS
NHCSXH
HĐTD
CBTD
TSTC
TSBĐ
:
:
:
:
:
:
:
Danh mục bảng biểu
Danh mục bảng.
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn
Bảng 2.2 : Phân loại d nợ cho vay theo kỳ hạn
Bảng 2.3: D nợ cho vay theo thành phần kinh tế
Bảng 2.4: Phân loại d nợ theo nghành kinh tế.
Bảng 2.5: Kết quả kinh doanh
Bảng 2.6: Phân loại d nợ qua hạn theo tài sản đảm bảo
Bảng 2.7 : Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế
Bảng 2.8: Nợ quá hạn phân theo kỳ hạn nợ
Bảng 2.9: Nợ quá hạn phân theo nguyên nhân
Bảng 2.10: Phân loại nợ của NHNo&PTNT huyện Lục Ngạn
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tình hình hoạt động vốn của NHNo&PTNT huyện Lục
Ngạn
Biểu đồ 2.2: Tổng d nợ quá hạn theo tài sản đảm bảo
Biểu đồ 2.3: Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế
Biểu đồ 2.4: Nợ quá hạn theo nguyên nhân.
Biểu đồ 2.5: Nợ quá hạn theo nguyên nhân
Biểu đồ 2.6: Phân loại nợ của NHNo&PTNT huyện Lục Ngạn
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
3
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Phần Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nứơc trong đó có đổi mới
về cơ chế quản lý kinh tế,trong những những năm qua ngành ngân hàng đã
thực hiện chiến lợc đổi mới mạnh mẽ từ mô hình tổ chức đến phơng thức hoạt
động của mình. Với xu thế đi lên của xã hội thì nghành tài chính ngân hàng
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nó có tác động lớn tới các
nợ quá hạn không phải là không có. Song đợc sự chỉ đạo kịp thời của ban
giám đốc và sự lỗ của của cán bộ nghiệp vụ trong cơ quan đã hạn chế đợc mức
thấp nhất rủi ro.
Là một Sinh viên đợc học tập và nghiên cứu về nghành tài chính ngân
hàng đợc tham gia thực tập tại ngân NHNo&PTNT huyện Lục Ngạn, em có
những trăn trở với hoạt động tín dụng và nhận thức rõ hậu quả của rủi ro tín
dụng đối với Ngân hàng. Vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài Giải pháp phòng
ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại NHNo&PTNT
huyện Lục Ngạn- Bắc Giang để làm chuyên đề thực tập.
Do thời gian và phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp, kiến thức và kinh
nghiệm thực tế cha nhiều nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu
sót. Kính mong Ban giám đốc NHNo & PTNT Huyện Lục Ngạn, các thầy,cô
giáo, cùng các bạn đồng nghiệp góp ý để chuyên đề của em đợc hoàn chỉnh
hơn, nhằm giúp cho quá trình học tập và nghiên cứu của em sau này đợc tốt
hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn mạnh Tiến
2. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề
Chuyên đề nghiên cứu nhằm hớng tới các mục đích sau :
- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm lí luận, góp phần rút ngắn khoảng
cách giữa lí luận và thực tiễn về rủi ro tín dụng nói chung.
- Phân tích và đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng ở NHNo&PTNT huyện
Lục Ngạn từ năm 2005 đến năm 2007 .
- Tìm kiếm các giải pháp và đề xuất một số kiến nghị nhằm phòng ngừa
hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Lục Ngạn.
3. Phơng pháp nghiên cứu.
Đây là đề tài thuộc lĩnh vực kinh tế quản lí, do đó quá trình nghiên
cứu và thể hiện phải quán triệt phơng pháp luận phổ biến chung thông qua
việc sử dụng tổng hợp các biện pháp nh :
Để đa ra đợc một khái niệm Ngân hàng thơng mại, ngời ta thờng phải
dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trờng tài chính và đôi khi
còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tợng hoạt động. Nhng nhìn chung ta có
thể hiểu :
Ngân hàng thơng mại là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi
nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Khái
niệm này đang bị thay đổi vì sự pha trộn các hoạt động truyền thống của ngân
hàng với các loại hình trung gian tài chính khác .
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
6
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng năm 1997, sửa đổi bổ sung
năm 2004 thì NH là loại hình tổ chức TD đợc thực hiện toàn bộ hoạt động NH
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, có các loại hình NH gồm NHTM, NHPT, NHĐT, NHCS, NH Hợp
tác và các loại hình NH khác. Hiện tại hệ thống các tổ chức tín dụng gồm có:
Các tổ chức tín dụng nhà nớc gồm: 6 ngân hàng.
Ngân hàng thơng mại cổ phần đô thị gồm: 33 ngân hàng.
Ngân hàng nông thôn gồm: 1 ngân hàng.
Chi nhánh ngân hàng nớc ngoài gồm: 37 chi nhánh.
Ngân hàng liên doanh gồm: 5 ngân hàng.
Công ty tài chính gồm: 9 công ty.
Công ty thuê tài chính gồm: 12 công ty.
Ngân hàng đại diện nớc ngoài gồm: 51 ngân hàng.
Mỗi loại hình tổ chức tín dụng ở nớc ta mang những nét đặc trng phù hợp
với điều kiện của thời kỳ bớc đầu chuyển đổi của nền kinh tế.
Khái niệm trên cho thấy, về cơ bản NHTM có tính chất hoạt động tơng tự
nh nhiều loại hình tổ chức tài chính khác nhau với t cách là những trung gian
tài chính (những tổ chức thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ ngời thừa
vốn sang ngời thiếu vốn). Điểm phân biệt quan trọng giữa NHTM với các loại
tín dụng kể cả khối lợng vốn cho vay và thời gian cho vay .
Qua chức năng này, các NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các
bên trong quan hệ: ngời gửi tiền, Ngân hàng, ngời đi vay, nền kinh tế .Ngời
gửi tiền thu đợc lợi từ số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua khoản lãi
tiền gửi đồng thời đợc hởng các dịch vụ thanh toán và các tiện ích khác do
ngân hàng cung cấp. Ngời đi vay thoả mãn đợc nhu cầu về vốn sản xuất kinh
doanh, chi tiêu, thanh toán, đây là nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp
pháp. Bản thân ngân hàng thơng mại tìm kiếm đợc lợi nhuận. Thực hiện chức
năng này đối với nền kinh tế ngân hàng đã và đang thực hiện chức năng xã hội
của mình làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu t đợc mở rộng tài trợ vốn
cho các ngành, các thành phần kinh tế của đất nớc làm ăn có hiệu quả, từ đó
góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
* Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo
yêu cầu của khách hàng nh trích từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán
tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền
thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện
chức năng làm thủ quỹ cho xã hội. Đây là một chức năng quan trọng để ngân
hàng thực hiện một số hoạt động của mình và có nghĩa quan trọng đối với
hoạt động kinh tế. Trớc hết thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng tiết
kiệm chi phí lu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Khả năng lựa
chọn hình thức này góp phấn tăng nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, tốc độ luân
chuyển vốn và hiệu quả quá trình tái sản xuất xã hội. Thứ hai việc cung ứng
dịch vụ thanh toán là điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi. Chu chuyển tiền
tệ hệ nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do vậy khi chức năng trung
gian thanh toán đợc hoàn thiện thì vai trò của NHTM sẽ đợc nâng cao.
họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ Khi ngân hàng chỉ thực
hiện chức năng nhận tiền gửi mà cha cho vay, ngân hàng cha hề tạo tiền . Chỉ
khi thực hiện cho vay ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền.
Chức năng này đợc thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng, đầu t
trong mối liên hệ chặt chẽ với ngân hàng trung ơng của mỗi nớc. Để có thể
hoạt động và đặc biệt cho sự phát triển hoạt động tín dụng, đầu t của mình,
các ngân hàng bằng các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống phải tạo điều kiện
cho việc tăng trởng nguồn vốn phù hợp với yêu cầu tăng trởng kinh tế. Hơn
thế nữa, năng lực của hệ thống NHTM trong việc tạo tiền không chỉ đáp ứng
đúng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng mà còn mang ý
nghĩa kinh tế to lớn, với một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực kỳ
quan trọng nh là ngời mở đầu, ngời tham gia và có khi nh là ngời nâng đỡ và
quyết định đối với mọi quá trình sản xuất.
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
* Chức năng thủ quỹ cho xã hội:
Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các
doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu
cầu rút tiền và chi tiền của họ.
Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập ngày càng cao,
tích luỹ của doanh nghiệp và các cá nhân ngày càng lớn cộng thêm nhu cầu
bảo vệ tài sản và mong muốn sinh lời từ khoản tiền có đợc của các chủ thể
kinh tế làm cho chức năng này càng đợc thể hiện rõ. Nó đem lại lợi ích cho cả
khách hàng và NH.
Đối với khách hàng, thông qua việc gửi tiền vào NH, họ không những đ-
ợc đảm bảo an toàn về tài sản mà còn thu đợc một khoản lợi tức từ NH.
Đối với NH, chức năng này là cơ sở để NH thực hiện chức năng trung
gian thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho NHTM để thực hiện
chức năng trung gian tín dụng.
ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trờng. Nguồn vốn tín dụng của
ngân hàng cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
chất lợng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu thị trờng, đứng vững trong cạnh tranh.
- Ngân hàng thơng mại là công cụ để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Các NHTM là đối tợng và đồng thời là trung gian thực hiện chính sách
tiền tệ, chính sách kinh tế quốc gia. Thông qua hệ thống của mình, bằng các
hoạt động tín dụng và thanh toán dới sự tác động của ngân hàng trung ơng,
các NHTM góp phần mở rộng hoặc thu hẹp khối lợng tiền tệ cung ứng trong l-
u thông để ổn định giá trị đồng tiền. Thông qua hoạt động tín dụng, NHTM
thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trờng,
thu hút vốn nớc ngoài để tăng tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đồng thời trên
cơ sở mở rộng sản xuất phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho ngời
lao động, góp phần thực hiện các mục tiêu và chính sách xã hội của Nhà nớc.
- NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế:
Trong nền kinh tế thị trờng ngày nay, xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá
là tất yếu, nó ngày càng trở nên cần thiết cấp bách. Việc phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ
phận cấu thành nên sự phát triển đó. NHTM cùng với hoạt động kinh doanh
của mình, đóng vai trò quan trọng trong sự hoà nhập kinh tế khu vực và thế
giới. Với các nghiệp vụ kinh doanh nh nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh
toán quốc tế, tài trợ ngoại thơng NHTM tạo điều kiện thúc đẩy giảm lu
thông tiền mặt, tăng thanh toán không dùng tiền mặt, đa dạng hoá các dịch vụ
Ngân hàng cung ứng cho xã hội, đa các tập quán, luật pháp, trình độ kinh
doanh xích lại gần nhau, từ đó điều tiết tài chính trong nớc phù hợp với sự
vận động của nền tài chính quốc tế.
* Nghiệp vụ của NHTM
- Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ bao gồm:
+ Nghiệp vụ vốn tiền gửi
+ Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá
nhau giữa ngời đi vay và ngời cho vay .
Tuỳ theo góc độ quan sát, tuỳ theo tiêu thức và mục đích, ngời ta có thể
nhìn nhận, phân chia tín dụng thành các loại khác nhau, chẳng hạn:
* Căn cứ tính chất chung nhất của quan hệ tín dụng giữa các nhóm
chủ thể trong nền kinh tế thì tín dụng đợc chia làm 2 loại:
- Tín dụng thơng mại: là loại tín dụng hình thành trực tiếp giữa những ng-
ời mua bán hàng hoá thông qua mua bán chịu.
- Tín dụng ngân hàng: là loại tín dụng hình thành trong quan hệ vay mợn
giữa Ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội.Trong quan hệ này
ngân hàng giữ vai trò vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho vay.Theo nghĩa này
thì tín dụng ngân hàng bao gồm cả việc huy động vốn của các ngân hàng và
việc các ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, với t cách là
một trong các chức năng cơ bản của NHTM thì tín dụng đợc hiểu là hoạt động
cấp tín dụng của các ngân hàng cho nền kinh tế từ các nguồn vốn khác nhau
mà chúng huy động đợc, là việc NHTM thoả thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả. Hoạt động này đợc thực hiện dới
các hình thức cụ thể nh: cho vay bằng tiền, chiết khấu các giấy tờ có giá, cho
thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng
* Căn cứ vào sự đảm bảo tín dụng, tín dụng đợc chia ra làm 2 loại:
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
14
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
- Tín dụng không có đảm bảo (tín chấp): là loại tín dụng không có tài
sản thế chấp, cầm cố, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng hoặc sự bảo lãnh của các tổ chức chính trị xã hội.
- Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi ngời
vay vốn phải có tài sản cầm cố hoặc tài sản thế chấp làm đảm bảo cho khoản
vay .
* Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng, tín dụng gồm 2 loại:
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vợt quá thu nhập của
dân chúng, cũng nh cho yêu cầu chi của ngân sách nhà nớc trong lúc cha có
nguồn thu Nh vậy, tín dụng ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn một cách
có hiệu quả trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
+ Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản
xuất lu thông: Thông qua việc tập trung và u tiên vốn cho các ngành kinh tế
mũi nhọn, kinh tế trọng điểm, những nơi có nhu cầu vốn lớn, tín dụng ngân
hàng góp phần nâng cao sức mạnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều
kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nớc ngoài.
+ Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ thông qua việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện đ-
ợc các cơ hội đầu t sản xuất kinh doanh của mình. Thông thờng các doanh
nghiệp chỉ sử dụng đến vốn ngân hàng sau khi đã huy động mọi nguồn lực của
bản thân, điều đó cũng có nghĩa là nếu không có tín dụng ngân hàng thì doanh
nghiệp khó có khả năng thực hiện cơ hội đầu t kinh doanh của mình. Nhất là
trong cơ chế thị trờng, mất cơ hội là mất hết. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng
giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh trong cạnh tranh, vơn lên tồn tại và
phát triển trên thơng trờng.
+ Tín dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy chế độ hạch toán kinh doanh,
tăng cờng quản lý tài chính, tăng tích luỹ đối với doanh nghiệp. Về phía ngời
vay vốn luôn cân nhắc giữa hiệu quả vốn mang lại với thời hạn, lãi suất của
vốn vay và họ chỉ vay khi tính toán có lãi, đó chính là bản chất của hạch toán
kinh tế. Về phía ngân hàng, trớc khi cho vay cũng đòi hỏi khách hàng phải
thoả mãn nhiều điều kiện về tình hình tài chính cũng nh chất lợng của các báo
cáo tài chính. Điều đó buộc doanh nghiệp phải tăng cờng hơn nữa công tác
hạch toán kinh doanh, quản lý tài chính và tích luỹ vốn.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ của nhà nớc điều tiết khối lợng tiền tệ
lu thông trong nền kinh tế:
của một NHTM mà còn có vai trò to lớn và ảnh hởng sâu rộng đến sự phát
triển của cả nền kinh tế- xã hội.
1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thơng mại.
1.2.1. Tổng quan về rủi ro và rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1.1. Khái niệm rủi ro.
Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng, rủi ro có thể đợc hiểu là mối đe
doạ, bị tổn thất một phần nguồn vốn của ngân hàng hoặc không đạt đợc thu
nhập hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ sung để thực hiện các nghiệp vụ nhất
định.
Rủi ro tín dụng NH là rủi ro trong việc cấp tín dụng cho một bên vay nợ
không thực hiện đợc nghĩa vụ trả lãi hoặc hoàn trả vốn gốc các khoản tín
dụng. Có nghĩa là: khách hàng vay vốn không trả đợc nợ theo HĐTD đã ký
hay nói cách khác khoản thu nhập dự tính sinh lời từ tài sản cho vay của Ngân
hàng không đợc hoàn trả đầy đủ về số lợng và thời hạn
Hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói
riêng không thể tránh khỏi rủi ro, quá trình mở rộng kinh doanh thờng đi liền
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
với việc mở rộng phạm vi rủi ro. Hoạt động ngân hàng gồm nhiều nghiệp vụ,
mỗi nghiệp vụ gắn liền với rủi ro khác nhau, do đó luôn đòi hỏi phải sử dụng
các biện pháp tự bảo vệ và các biện pháp khác để giảm bớt đi các thiệt hại,
mất mát có thể xảy ra.
1.2.1.2. Một số loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng.
Trong quá trình kinh doanh, mọi hoạt động đều phải đối mặt với một số
loại rủi ro chủ yếu sau:
* Rủi ro thanh khoản:
Rủi ro thanh khoản là những thiệt hại xảy ra khi NHTM không có đủ
hoặc mất khả năng chi trả cho ngời gửi tiền. Rủi ro thanh khoản xuất phát từ
sự không khớp nhau về thời hạn giữa tài sản nợ và tài sản có. Rủi ro này xảy
chính của các NHTM. Ngoài những loại này, các NHTM còn phải đối mặt với
nhiều loại rủi ro khác nh: rủi ro quản lý (do tham ô, do thiếu năng lực tổ chức,
năng lực cán bộ yếu kém, chế độ lơng bổng không hợp lý); rủi ro môi trờng
(do những thay đổi bất lợi về pháp lý và quy chế, về kinh tế và cạnh tranh); rủi
ro phân phối (do những bất cập về tác nghiệp, hệ thống kỹ thuật, triển khai sản
phẩm mới)
1.2.2. Hậu quả, nguyên nhân rủi ro tín dụng và sự cần thiết phải ngăn
ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng.
1.2.2.1. Hậu quả của rủi ro tín dụng.
Nh đã nêu ở trên, chúng ta quan niệm: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát
sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng; là nguy cơ; là mức độ mất
mát, thiệt hại tài chính mà ngân hàng phải gánh chịu do vô số những nguyên
nhân khác nhau cả về phía ngân hàng, khách hàng và các yếu tố khác thuộc về
môi trờng hoạt động kinh doanh.
Khái niệm rủi ro tín dụng nêu trên trớc hết đề cập tới khía cạnh hậu quả
của rủi ro, trong đó nhấn mạnh sự thiệt hại mất mát về tài chính của bản thân
mỗi ngân hàng khi cấp tín dụng cho khách hàng của họ. Tuy vậy thực tế thì
những hậu quả của nó còn tác động rộng hơn, có thể xem xét dới các giác độ
chủ yếu sau:
* Đối với ngân hàng thơng mại:
Chúng ta đều biết các NHTM có vốn tự có thấp thờng chỉ chiếm từ 5-8%
trên tổng nguồn vốn hoạt động, nguồn vốn kinh doanh chủ yếu là vốn huy
động nên rủi ro xảy ra sẽ dẫn tới mất khả năng thanh toán chi trả có thể làm
khách hàng giảm lòng tin vào ngân hàng. Họ sẽ hạn chế quan hệ với ngân
hàng, làm cho ngân hàng mất đi cơ hội tích luỹ vốn, giảm sức cạnh tranh của
ngân hàng, gây ra phản ứng dây chuyền các khách hàng tới rút tiền làm cho
ngân hàng mất khả năng thanh toán, suy yếu nhanh và dẫn tới phá sản hàng
loạt các ngân hàng.
* Đối với khách hàng:
Khi ngân hàng gặp rủi ro thì ngời gửi tiền sẽ bị mất vốn dẫn tới gặp khó
đảm bảo, do quản lý yếu kém hoạch định ngân quỹ không chính xác dẫn đến
ngời vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, do yếu tố khách quan
hoặc chủ quan nh vậy ngời vay thiếu hoặc không có khả năng thanh toán.
- Khách hàng gặp khó khăn, bất trắc trong kinh doanh, làm ăn thua lỗ
gây thất thoát vốn dẫn đến không có khả năng thanh toán
- Khách hàng cố ý lừa đảo , cung cấp thông tin sai sự thật , trây ỳ không
chịu trả nợ ( Rủi ro do đạo đức của khách hàng .)
Trong một quy trình tín dụng bao gồm hai giai đoạn : cho vay tiền của
NH và sử dụng tiền vay của ngời đi vay. Do đó những trục trặc trong quá trình
kinh doanh của khách hàng đều có ảnh hởng xấu đến việc trả nợ ngân hàng
nh:
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
20
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
+ Sự biến động của những nhân tố trong thị trờng đầu vào: giá cả nguyên
vật liệu biến động tăng làm tăng giá thành sản phẩm. Nếu giá bán không tăng
thì lợi nhuận thu đợc sẽ giảm, ảnh hởng tới việc hoàn trả đầy đủ nợ cho ngân
hàng. Nếu nâng giá bán thì việc tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp khó khăn, khả năng
thu hồi vốn sẽ chậm lại, có thể vi phạm nghĩa vụ trả nợ về mặt thời gian. Hoặc
thiếu nguyên vật liệu chính phải sử dụng nguyên vật liệu thay thế và nh vậy
phải tạo dây chuyền làm tăng chi phí, giảm tiến độ sản xuất kinh doanh.
+ Sự biến động các nhân tố trong thị trờng tiêu thụ: Do có nhiều sản
phẩm cùng loại cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp không còn phù hợp
với thị trờng, nếu doanh nghiệp không có biện pháp tiêu thụ thì doanh số bán
sẽ bị giảm sút dẫn đến lợi nhuận bị giảm và không đủ khả năng trả nợ cho
ngân hàng
+ Năng lực tài chính của khách hàng không lành mạnh: một số doanh
nghiệp không cân đối đợc ngân sách của mình, các nguồn thu rất hạn chế cơ
cấu vốn không hợp lý đôi khi vốn tín dụng chiếm tỷ trọng quá lớn trong cơ
cấu vốn đầu t mà đáng lẽ ra vốn tín dụng chỉ là bổ xung, hoặc là giá trị tài sản
Ngân hàng quá chú trọng vào lợi nhuận, đặt lợi nhuận lên trên các
nguyên tắc, quy định của tín dụng. Ngân hàng cứ cho vay nhiều mà sao nhãng
sự lành mạnh của khoản vay, tiếp đó ngân hàng lại quá quan tâm vào tài sản
đảm bảo coi đó là sự chắc chắn cho việc thu hồi vốn do đó coi nhẹ công tác
phòng ngừa rủi ro, lơ là kiểm tra giám sát việc thực thi dự án vay vốn, không
nắm vững tình hình sử dụng tiền vay của khách hàng, không tích cực đôn đốc
ngời vay thực hiện các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng
Do năng lực, nhận thức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng còn hạn
chế, thực hiện sai hoặc không đầy đủ qui trình tín dụng: không am hiểu ngành
nghề mà mình đang cho vay, khả năng phân tích tình hình tài chính, xác định
vị trí vai trò, khả năng thị trờng hiện tại và tơng lai của ngời vay vốn còn yếu
kém, thiếu khả năng phân tích các báo cáo tài chính dẫn đến xác định hiệu
quả, thời hạn của dự án cho vay không hợp lý, không đủ kiến thức để kiểm tra
tính pháp lý, các sai sót của hồ sơ, chứng từ cho vay Do thiếu sự giám sát tín
dụng dẫn đến rủi ro đạo đức, do coi nặng tính cạnh tranh với các NHTM khác
dẫn đến lơi lỏng hoặc bỏ qua điều kiện tín dụng hoặc do t chất của cán bộ yếu
kém.
Do ngân hàng định giá tài sản đảm bảo không chuẩn nếu định giá cao
hơn giá thị trờng khi xử lí TSĐB rất khó khăn, hoặc đã cho vay vốn vợt qua
mức trên TSĐB cho phép thì lúc này sẽ không thu đợc vốn .
Do cán bộ NH có vấn đề về đạo đức, đã thông đồng với khách hàng để
lập hồ sơ thiếu khách quan, thiếu cơ sở kinh tế hoặc CBNH xâm tiêu dẫn
đến việc thất thoát vốn.
* Nguyên nhân khác:
Do các nguyên nhân bất khả kháng nh: thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh,
mất mùa,chiến tranh, tai nạn
Do môi trờng kinh tế cha ổn định nó tác động tới sức mua của ngời dân,
tác động tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
22
hàng và thị trờng mà khi cấp tín dụng các ngân hàng không thể định lợng
chính xác. Hơn nữa, có một nghịch lý mà các ngân hàng luôn phải chấp nhận
khi ra các quyết định tín dụng đó là luôn cân nhắc giữa rủi ro và lợi nhuận.
Khi cấp một khoản tín dụng nào đó, hoặc khi mở rộng tín dụng để tăng thu
nhập thì cũng đồng thời là sự chấp nhận nguy cơ rủi ro, mất mát vốn cao hơn.
Chính vì vậy, nỗ lực của ngân hàng trong việc tìm kiếm, thực hiện các biện
pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng cũng mang tính khách quan tơng tự
nh nỗ lực để tìm kiếm cách thức làm tăng thu nhập, tăng lợi nhuận.
Trên một phơng diện khác chúng ta đều biết rằng, các NHTM hoạt động
theo phơng châm: đi vay để cho vay, vốn tự có của bản thân ngân hàng
chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động. Nguồn vốn chủ
yếu mà ngân hàng có đợc là huy động từ ngời gửi tiền, nguồn tiết kiệm hoặc
đi vay trên thị trờng tài chính. Do đó trong quá trình cấp tín dụng NHTM luôn
phải xem xét tới khả năng thu hồi vốn và nếu không xem xét kỹ vấn đề này
thì rủi ro tất yếu sẽ xảy ra. Hơn nữa, một khi rủi ro tín dụng xảy ra nó không
chỉ ảnh hởng đến mọi hoạt động của ngân hàng, đến kết quả kinh doanh của
ngân hàng, mà còn ảnh hởng quan trọng tới tình hình hoạt động kinh doanh
của các khách hàng ở mọi lĩnh vực kinh tế, cũng nh ảnh hởng tới hoạt động
của toàn nền kinh tế quốc dân. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm khả năng
đạt mục tiêu lợi nhuận, ngân hàng không thể đòi hỏi đợc những khoản nợ đã
đến hạn làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, giảm uy tín với khách
hàng, ngời vay ít đi, ngời gửi cũng sẽ giảm khi đó mọi hoạt động kinh doanh
của ngân hàng sẽ không thể thực hiên đợc, quy mô hoạt động, mức thu nhập
của NHTM sẽ bị thu hẹp. Do vậy, NHTM cần phải có sự phòng ngừa và có
những giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng.
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện ngân hàng
1.3. biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng để phòng ngừa và hạn chế rủi
chuẩn kế toán tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới để phân loại. Bên cạnh đó,
chính phủ nhiều nớc trong khu vực nh: Malaysia, Indonexia, Thái Lan còn
thúc đẩy việc thành lập ra các định chế để đảm trách việc xử lý có hiệu quả
SV: Nguyễn mạnh Tiến Lớp: NHB- K7
25