MỤC LỤC
Lêi më ®Çu
Lêi më ®Çu
CHƯƠNG I
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
I.1. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU
VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
I.1.1. Vốn lưu động và nguồn……………………………………………….6
I.1.1.1.Khái niệm và đặc điểm Vốn lưu động của doanh nghiệp ………….6
I.1.1.2. Phân loại vốn lưu động …………………………………………… 7
I.1.1.3. Kết cấu vốn lưu động……………………………………………….10
I.1.1.4. Vai trò của vốn lưu động………………………………………… 13
I.1.1.5. Nguồn hình thành vốn lưu động của Doanh nghiệp…………… 14
I.1.2. Nhu cầu vốn lưu động và cách xác định nhu cầu vốn lưu động….18
I.2.PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
I.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn Vốn lưu động…………………………………………………….19
I.2.1.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh……………………………… 20
I.2.1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động……… 20
I.2.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động và phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn
lưu động …………………………………………………………………… 23
I.3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN LƯU ĐỘNG ………………………………………………………….25
CHƯƠNG II
1
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
CỦA TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI HÀ NỘI.
II.1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI HÀ NỘI. …… 26
II.4.3.1. Những mặt mạnh …………………………………………………54
II.4.3.2. Những mặt còn hạn chế…………………………………………
54
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY
VẬN TẢI HÀ NỘI
III.1. TỔ CHỨC HỌAT ĐỘNG KINH DOANH CUNG ỨNG DỊCH VỤ,
THANH TOÁN VÀ THU HỒI CÔNG NỢ. ……………………………….57
III.2. BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG KINH DOANH. …. 58
III.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP GÓP PHẦN TĂNG DOANH THU. ……… 59
III.4.CHỦ ĐỘNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
VỐN LƯU ĐỘNG. ……………………………………………………… 60
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
Lêi më ®Çu
Lêi më ®Çu
* * * *
Vốn là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là một yếu tố quan trọng quyết
định đến sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vậy nên bất kỳ một doanh nghiệp
nào muốn tồn tại và phát triển đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý
và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả, nhằm đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là mục tiêu phấn đấu lâu dài
của mỗi doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng
vốn lưu động nói riêng gắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Do vậy, vấn đề sử dụng vốn một cách có hiệu quả luôn là vấn đề đặt
ra với mọi doanh nghiệp.
Mặc dù chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, song
các doanh nghiệp Nhà nước vẫn luôn đóng vai trò quan trọng đến sự tăng
doanh bao giờ cũng cần 3 yếu tố: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức
lao động. Có thể nói quá trình sản xuất kinh doanh chính là quá trình kết hợp
các yếu tố đó để tạo ra hàng hoá, dịch vụ. Khác với các tư liệu lao động, đối
tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất luôn thay đổi hình thái vật
chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản
phẩm và được bù đắp khi doanh nghiệp bán được sản phẩm và thu tiền về.
Những đối tượng sản xuất: Gồm những vật tư dự trữ để phục vụ cho
quá trình sản xuất được liên tục như: NVI chính, vật liệu phụ, nhiên liệu….
Những vật tư đang nằm trong quá trình chế biến như sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm… và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ, còn
gọi là công cụ lao động nhỏ. TSLĐ lưu thông, gồm các sản phẩm hàng hoá
cho tiêu dùng, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, chi phí
chờ kết chuyển, chi phí trả trước.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh TSCĐ sản xuất và TSCĐ lưu
thông luôn vận động tuần hoàn và chuyển hoá cho nhau. Chính đặc điểm
mang tính quy luật này làm quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên
tục. Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, để hình thành nên TSCĐ sản xuất và
TSCĐ lưu thông buộc doanh nghiệp cần thiết phải có một số vốn tiền tệ ứng
trước để hình thành các TSCĐ đó.
6
Những đối tượng lao động nói trên, về hình thái hiện vật gọi là tài sản
lưu động – vật tư hàng hoá, về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của
doanh nghiệp.
Vốn lưu động được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản lưu
động được đầu tư vào sản xuất, kinh doanh nhằm đảm bảo cho quá trình sản
xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Vốn lưu động tham gia một lần vào quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển
dịch toàn bộ giá trị của chúng vào giá trị của sản phẩm sản xuất ra, khi kết
thúc quá trình sản xuất giá trị hàng hoá được thực hiện, giá trị của tài sản lưu
động được hoàn trả lại sau một chu kỳ kinh doanh.
- Vốn vật liệu phụ: là những loại vật tư dự trữ cho sản xuất được sử dụng làm
tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công tác
quản lý.
- Vốn nhiên liệu : là giá trị những loại nhiên liệu dự trữ dùng cho sản xuất
như: xăng, dầu, than
- Vốn phụ tùng thay thế : gồm giá trị những phụ tùng dự trữ để thay thế mỗi
khi sửa chữa tài sản cố định.
- Vốn vật liệu đóng gói: gồm giá trị những loại vật liệu bao bì dùng để đóng
gói trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Vốn công cụ lao động nhỏ: là giá trị những tư liệu lao động có giá trị thấp,
thời gian sử dụng ngắn, không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định.
• Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm:
- Vốn sản phẩm đang chế tạo: là giá trị các sản phẩm dở dang trong quá trình
sản xuất hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp.
- Vốn bán thành phẩm tự chế biến : là giá trị những sản phẩm dở dang nhưng
khác với sản phẩm đang chế tạo là nó đã hoàn thành một hay nhiều giai đoạn
chế biến nhất định.
- Vốn về phí tổn đợi phân bổ: là những phí tổn chi ra trong kỳ nhưng có tác
dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, vì thế chưa tính hết vào giá thành trong kỳ
mà còn phân bổ cho các kỳ sau.
8
• Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm:
- Vốn thành phẩm : là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩm nhập kho và chuẩn
bị cho tiêu thụ.
- Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư
ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn
- Vốn trong thanh toán: là các khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong quá
trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ.
Cách phân loại này cho ta thấy tỷ trọng, vai trò vốn lưu động trong từng
khâu của quá trình sản xuất từ đó có biện pháp, kế hoạch mua sắm, dự trữ vật
Vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình
thái giá trị bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng hay các tổ chức tài
chính khác và tiền đang chuyển (tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý )
Tiền là loại tài sản mà doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại
tài sản khác hoặc để trả nợ. Trong đó:
• Tiền mặt tại quỹ: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp để tại quỹ để phục
vụ cho nhu cầu chi trả bằng tiền phát sinh trong ngày. Trong đó, phần lớn số
tiền này là tiền thu từ bán hàng mà doanh nghiệp chưa kịp nộp vào ngân hàng
hoặc chưa dùng để chi trả cho hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, những khoản
phải trả nhưng chưa đến hạn trả, các khoản quỹ chưa cần dùng tới cũng
được coi như tiền mặt tại quỹ và doanh nghiệp có thể huy động vào kinh
doanh nếu đảm bảo được các hoạt động này không ảnh hưởng tới kế hoạch
chi trả trong kỳ.
• Tiền gửi ngân hàng: Là lượng tiền doanh nghiệp gửi vào ngân hàng trên
các tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhờ ngân hàng giữ hộ, thanh toán cho
các nhà cung cấp khi họ cung cấp hàng hoá dịch vụ cho donh nghiệp. Ngoài
ra, doanh nghiệp còn được hưởng một mức lãi xuất theo quy định.
10
• Tiền đang chuyển: Là khoản tiền của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng,
kho bạc hoặc chuyển qua bưu điện để chuyển cho ngân hàng hay người được
hưởng nhưng chưa nhận được giấy báo có (ngân hàng) .
Trong kinh doanh, vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng
thanh toán các khoản nợ, để mua sắm vật tư hàng hoá, tương ứng với quy mô
kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi thường xuyên phải có một lượng tiền
tương xứng mới đảm bảo cho tài chính của doanh nghiệp ở mức bình thường.
Mức dự trữ vốn bằng tiền trực tiếp phụ thuộc vào mức dự trữ hàng hoá.
Trong doanh nghiệp hàng hoá và tiền tệ tạo thành hai dòng luân chuyển:
Dòng hàng hoá và dòng tiền tệ vận động theo hai chiều ngược nhau. Khi mua
hàng, dòng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp đồng thời dòng hàng hoá đi vào và
mặt luôn luôn ở mức hợp lý.
Các khoản phải thu:
Đây là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành vốn lưu động.
Khi doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hoá của mình cho những doanh nghiệp
khác, thông thường sự vận động giao – nhận của tiền và hàng hoá không đồng
thời nên phát sinh quan hệ tín dụng thương mại và chúng tạo nên các khoản
nợ phải thu khách hàng. Quy mô của các khoản phải thu không chỉ phụ thuộc
vào quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, mà nó còn phụ thuộc vào loại hình,
chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Nói chung một doanh nghiệp sản xuất
thì các khoản phải thu ít hơn của doanh nghiệp thương mại.
Dự trữ ( tồn kho).
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất
kinh doanh thì vật tư, sản phẩm dở dang, hàng hoá tồn kho là những bước
đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Quản lý
dự trữ là tính toán, duy trì một lượng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
thành phẩm hàng hoá với cơ cấu hợp lý đảm bảo sản xuất kinh doanh được
liên tục và có hiệu quả. Chi phí về dự trữ hợp lý không chỉ là chi phí về trông
12
coi bảo quản mà còn là chi phí cơ hội của vốn. Việc dự trữ mặc dù có hao phí
nhưng nó cũng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.
Tài sản lưu động khác:
Đây là những khoản: Tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết
chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản ký cược, ký quỹ
I.1.1.4. Vai trò của vốn lưu động
Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập,
hoạt động và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết,
quan trọng nhất trong sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp,
vốn lưu động có những vai trò chủ yếu sau:
Vốn lưu động giúp cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh một cách liên tục có hiệu quả. Nếu vốn lưu động bị thiếu hay luân
động như thế nào cho có hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu chung
của doanh nghiệp.
I.1.1.5. Nguồn hình thành vốn lưu động của Doanh nghiệp
Trong chu kỳ kinh doanh phát sinh nhu cầu vốn lưu động. Nhu cầu vốn
lưu động được xác định đúng đắn là cơ sở để doanh nghiệp tổ chức các nguồn
vốn đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh
doanh, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh nhất định, không để vốn
bị ứ đọng.
Từ đặc điểm trên, công tác quản lý vốn lưu động phải được quan tâm
chú ý từ khâu lập kế hoạch nhu cầu vốn lưu động, huy động và sử dụng vốn
phải phù hợp, sát với tình hình kinh doanh, thường xuyên kiểm tra, giám sát,
có biện pháp sử lý kịp thời để tăng nhanh tốc độ chu chuyển và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, doanh nghiệp phải tổ chức
tốt các nguồn vốn lưu động, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn lưu động
của doanh nghiệp. Để thực hiện vấn đề này, doanh nghiệp cần phân chia
nguồn vốn lưu động theo các tiêu thức khác nhau để thấy được tính chất, mức
14
độ ảnh hưởng của từng nguồn vốn, giúp cho doanh nghiệp khai thác tốt nguồn
vốn đó.
Căn cứ vào nguồn vốn hình thành, vốn lưu động được chia ra thành các
loại:
• Nguồn vốn trong nội bộ doanh nghiệp là số vốn thuộc sở hữu của doanh
nghiệp, gồm:
Nguồn vốn điều lệ: là số vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc được
bổ sung vốn điều lệ trong quá trình hoạt động. Vốn điều lệ của doanh nghiệp
không nhỏ hơn vốn pháp định quy định cho từng loại hình doanh nghiệp.
Nguồn vốn tự bổ sung : là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có nguồn gốc từ lợi nhuận của doanh
nghiệp được tái đầu tư.
Nguồn vốn lưu
=
Tài sản
_
Nợ ngắn
động thường xuyên lưu động hạn
Hoặc:
Nguồn vốn lưu
=
Tổng nguồn vốn
_
Giá trị còn lại của
động thường xuyên thường xuyên tài sản cố định
Trong đó:
* Tổng nguồn vốn
=
Nguồn vốn
+
Nợ dài
thường xuyên chủ sở hữu hạn
* Giá trị
=
Nguyên giá tài
_
Giá trị hao.
còn lại sản cố định mòn luỹ kế
Như vậy, nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp cho
phép doanh nghiệp chủ động cung cấp đầu tư kịp thời, đảm bảo quá trình sản
=
Nguồn vốn lưu
+
Nguồn vốn lưu
lưu động động thường xuyên động tạm thời
Như vậy, doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động trong từng
khâu, khả năng đáp ứng vốn lưu động của nguồn vốn chủ sở hữu để tổ chức
17
khai thác và sử dụng các khoản nợ dài hạn, nợ ngắn hạn hợp lý đáp ứng nhu
cầu vốn lưu động giúp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả.
I.1.2. Nhu cầu vốn lưu động và cách xác định nhu cầu vốn lưu động
Nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu thường xuyên ở mức cần thiết thấp
nhất đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành bình
thường liên tục. Do vậy xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường
xuyên cần thiết là một nội dung quan trọng của hoạt động tài chính doanh
nghiệp.
Xác định nhu cầu vốn lưu thông là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp tổ
chức tốt các nguồn vốn, đảm bảo nhu cầu vốn một cách kịp thời đầy đủ cho
hoạt động sản xuất. Nếu xác định nhu cầu vốn quá cao, doanh nghiệp sẽ
không khai thác được khả năng tiềm tàng của mình về vốn, không khuyến
khích doanh nghiệp tìm những biện pháp để cải tiến hoạt động kinh doanh
này nên tình trạng đầu tư thừa ứ đọng về vốn, sử dụng tăng phí vật tư dự trữ,
thành phẩm tồn đọng trong kho phát sinh những chi phí không cần thiết, làm
tăng giá thành, giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp
sẽ gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo, gây căng thẳng về vốn, tốc độ sản
xuất bị ngừng trệ do thiếu vốn, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ phải đi vay đột xuất
với những điều kiện nặng nề về lãi suất do đó làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp. Quan trọng hơn doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không thực hiện được các
hợp đồng kinh tế đã ký kết, không có khả năng thanh toán, từ đó mất uy tín
hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông. Sử dụng Vốn lưu động
hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các tài sản cố định
thuộc vốn cố định, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và
phát triển vốn kinh doanh. Vì vậy việc quản lý bảo toàn và nâng cao hiệu quả
sử dụng Vốn lưu động là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.
Bảo toàn Vốn lưu động là phải duy trì và giữ vững được sức mua của
đồng vốn để sao cho số vốn thu hồi về sau mỗi vòng tuần hoàn đủ sức mua
19
sắm một lượng tài sản như cũ theo thời giá hiện tại. Trong điều kiện hiện nay
khi các doanh nghiệp phải thực hiện nguyên tắc tự cấp phát tài chính thì toàn
vốn nói chung và Vốn lưu động nói riêng có ý nghĩa sống còn, đảm bảo cho
doanh nghiệp ít nhất phải đảm bảo tài sản giản đơn với quy mô như cũ hoặc
phát triển vốn để tái sản xuất mở rộng.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc nâng cao hiệu quả sử dụng
Vốn lưu động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp nó quyết định
đến sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp trong cơ chế mới.
I.2.1.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Trong cơ chế bao cấp với cơ chế cấp phát vốn cho các DNNN, việc
khai thác để tạo lập Vốn lưu động và quan tâm đến hiệu quả sử dụng Vốn lưu
động không được quan tâm đúng mức. Chuyển sang nền kinh tế thị trường,số
Vốn lưu động của DNNN hiện nay ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ và giảm dần
trong tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp Nhà nước. Thực tế số vốn có thể
sử dụng được còn ít hơn do tình trạng tồn đọng vật tư, hàng hoá kém mất
phẩm chất, chậm luân chuyển , công nợ khó đòi, tài sản tổn thất chưa được xử
lý. Vì vậy tình hình thiếu Vốn lưu động của doanh nghiệp hiện nay là rất phổ
biến. Theo số liệu tổng hợp của Bộ ngành và các địa phương, phần Vốn lưu
động còn thiếu ( so với 30% định mức là vốn ngân sách) là hàng ngàn tỷ
đồng.
Bên cạnh vấn đề thiếu vốn thì việc sử dụng Vốn lưu động của các
hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động,
người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Số vòng quay
=
Tổng số doanh thu thuần
của vốn lưu động Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong kỳ.
Nếu số vòng quay tăng so với thực tế kỳ trước, chứng tỏ hiệu quả sử dụng
vốn tăng và ngược lại. Chỉ tiêu này còn được gọi là “Hệ số luân chuyển vốn”.
21
Thời gian của một
=
Thời gian của kỳ phân tích
vòng luân chuyển Số vòng quay của Vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để quay được một vòng vốn lưu
động. Thời gian của một vòng (kỳ ) luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân
chuyển càng lớn.
Hệ số đảm nhiệm
=
Vốn lưu động bình quân
vốn lưu động Tổng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thì cần chi phí bao
nhiêu đồng vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều.
Các hệ số khả năng thanh toán:
Hệ số thanh toán
=
Tổng tài sản lưu động & đầu tư ngắn hạn
ngắn hạn Nợ ngắn hạn
của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kỳ kinh
doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho. Nếu số vòng quay hàng
tồn kho thấp, doanh nghiệp có thể dự trữ vật tư quá mức dẫn đến vật tư bị ứ
đọng và tiêu thụ chậm. Từ đó có thể dẫn đến dòng tiền vào của doanh nghiệp
bị giảm đi và có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính.
I.2.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động.
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp chịu
rất nhiều các nhân tố làm tăng hoạt động làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử
dụng Vốn lưu động của doanh nghiệp. Nhưng chung quy lại có hai nhân tố
ảnh hưởng là:
Nhân tố khách quan.
Cơ chế quản lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước cho phép các doanh nghiệp có
quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiêu Nhà nước
vẫn quản lý vĩ mô nền kinh tế và tạo hành lang pháp lý để tất cả các thành
23
phần kinh tế hoạt độnh tự do trong khuân khổ pháp luật. Theo đó những
nghành nghề mà Nhà nứơc khuyến khích sẽ được hưởng những chính sách ưu
đãI, những ngành nghề mà Nhà nước hạn chế, cấm sẽ khó khăn hược chấm
dứt hoạt động.
Lạm phát: ở mỗi thời điểm mặt bằng giá cả có sự khác nhau ảnh hưởng
đến giá trị thực tế của đồng vốn. Do đó hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần thiết
tính toán trên cơ sở điều chỉnh các thông số theo yếu tố lạm phát vì: Nếu lạm
phát tăng làm giá cả tăng ảo, không đánh giá được giá trị thực tế của đồnh
vốn. Sau một thời gian kinh doanh đồng vón sẽ bị mất giá, nếu mất giá quá
nhiều doanh nhiệp sẽ mất vốn.
Ảnh hưởng tình hình kinh tế, chính trị xã hội thế giới.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới diễn ra bình ổn thì tình hình kinh tế
trong nước cũng ổn định. Ngược lại nếu tình hình kinh tế chình trị xã hội
suất lao động, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
I.3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN LƯU ĐỘNG
Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án cung cấp sản phẩm dịch
vụ.
Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động tự có, phương án huy động
và sử dụng hợp lý các nguồn vốn huy động.
Tổ chức, quản lý quá trình sử dụng vốn lưu động và quá trình cung cấp
dịch vụ.
Đầu tư công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Tăng cường phát huy vai trò tài chính trong quản lý và sử dụng vốn lưu
động.
25