phát triển hoạt động lưu ký chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán dầu khí - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PV Securities: Công ty Cổ phần Chứng khoán Dầu khí
TTCK: Thị trường chứng Khoán
CTCK: Công ty chứng khoán
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước
TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTLKCK: Trung tâm lưu ký chứng khoán
TVLK: Thành viên lưu ký
CTCP: Công ty cổ phần
LKCK: Lưu ký chứng khoán
HĐQT: Hội đồng quản trị
HĐCĐ: Hội đồng cổ đông
TCPH: Tổ chức phát hành
P.LK&QLCĐ PVS: Phòng lưu ký và quản lý cổ đông của công ty Cổ
phần Chứng khoán Dầu khí.
BLPH: bảo lãnh phát hành
TDCK: Tự doanh chứng khoán
MG và LK: Môi giới và lưu ký
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006, hòa mình cùng với nền kinh tế thế giới Việt Nam đã chính
thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới-WTO. Việc gia nhập WTO đồng
nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, trong
đó có thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán là một phần của
khu vực tài chính của một quốc gia. Đây là một nguồn vốn dài hạn quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của một nước. Trong thời gian gần đây,
thị trường chúng khoán non trẻ của Việt Nam liên tục biến động,
Để thị trường chứng khoán hoạt động và phát triển lành mạnh, công
bằng, sôi động, hiệu quả không thể không nói đến vai trò của hoạt động lưu

KÝ CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.Tổng quan về chứng khoán và công ty chứng khoán
1.1.1.Chứng khoán.
Chứng khoán là hàng hóa của TTCK . Đó là những tài sản tài chính vì
nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể nó để thu tiền về.
Theo sự phát triển của thị trường, hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng.
Nói chung, người ta phân chia chứng khoán thành cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ, và các chứng khoán phái sinh.
1.1.1.1.Cổ phiếu.
Khái niệm: Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 thì cổ phiếu
được định nghĩa như sau:
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Khi mua cổ phiếu, những người đầu tư (hay còn được gọi là các cổ
đông) sẽ trở thành những người chủ sở hữu đối với công ty. Mức độ sở hữu
đó tùy thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ
đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình
hoạt động của công ty. Trong trường hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý
hay phá sản, cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi công ty đã
trang trải xong các khoản nghĩa vụ khác (như thuế, nợ ngân hàng hay trái
phiếu…). Cổ phiếu là công cụ tài chính không có thời hạn, các cổ đông có
thể tiến hành mua bán, chuyển nhượng các cổ phiếu trên thị trường thứ cấp
theo quy định của pháp luật.
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông,
có thể chia thành hai loại cổ phiếu cơ bản: Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu
ưu đãi.
 Cổ phiếu phổ thông:
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu điển hình nhất. Nếu một công ty

quản lý trong công ty, có quyền tham gia các đại hội cổ đông và bỏ phiếu
quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Nếu không tham gia được,
cổ đông có thể ủy quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết theo chỉ
thị của họ hoặc tùy ý người được ủy quyền.
Tùy theo quy định, mỗi cổ đông có thể được bỏ số phiếu tối đa cho
mỗi ứng cử viên bằng số cổ phiếu nắm giữ, hoặc được dồn toàn bộ số phiếu
có thể chi phối (bằng tổng số phiếu nhân với số ứng cử viên) để bầu cho
một (hoặc hơn) ứng cử viên. Cách thứ hai có lợi cho các cổ đông nhỏ, vì
tuy có ít phiếu bầu nhưng lại có thể tập trung phiếu để tăng thêm giá trị
quyền bỏ phiếu của mình.
Ngoài những quyền lợi cơ bản về kinh tế trên đây, cổ đông phổ thông
còn có những quyền pháp lý khác nữa, như quyền được kiểm tra sổ sách
của công ty khi cần thiết, được yêu cầu triệu tập đại hội đồng cổ đông bất
thường…
 Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi dành cho cổ đông nắm giữ nó những ưu đãi so với cổ
phiếu phổ thông. Cổ phiếu ưu đãi bao gồm hai loại chính là ưu đãi về cổ
tức và ưu đãi quyền biểu quyết.
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá,
hay một mức cổ tức tuyệt đối tối đa. Trong điều kiện công ty hoạt động
bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ đc hưởng mức cổ tức này, vì thế thu nhập
từ cổ tức của cổ phiếu ưu đãi hầu như là cố định. Đổi lại điều đó, cổ đông
ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng
của công ty.
Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỷ lệ đó,
công ty sẽ trả theo khả năng có thể. Đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể
không trả cổ tức ưu đãi, và khi mà cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì
cổ đông phổ thông cũng chưa được trả.
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

mức cổ tức được chi trả và khả năng tăng giá của cổ phiếu không có mối
liên hệ cố định. Có loại cổ phiếu có mức trả cổ tức cao và ổn định nhưng
tiềm năng tăng giá lại ít, trái lại có loại cổ phiếu trả cổ tức thấp, thậm chí
không trả cổ tức nhưng lại hứa hẹn khả năng tăng giá cao. Tùy theo mục
tiêu và mức độ chấp nhận rủi ro của từng nhà đầu tư mà có thể lựa mua
những loại cổ phiếu mà những đặc điểm về khả năng đem lại lợi tức là
khác nhau
1.1.1.2.Trái phiếu
Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 thì trái phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một
phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Trái phiếu là loại công cụ nợ quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay)
một khoản tiền xác định, thường là trong một khoảng thời gian cụ thể, và
phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn. Trái phiếu có những
đặc trưng quan trọng sau:
Người phát hành:
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Có hai loại người phát hành trái phiếu chính là chính phủ (trung ương
và địa phương) và công ty. Chính phủ là người phát hành đáng tin cậy nhất
do có được những điều kiện đảm bảo cao nhất cho việc hoàn trả gốc và trả
lãi. Còn trong khu vực công ty thì người phát hành có nhiều loại, mỗi loại
có khả năng khác nhau trong việc đáp ứng các nghĩa vụ đã thỏa thuận với
người cho vay. Nói cách khác, có thể coi rủi ro thanh toán của trái phiếu
chính phủ là bằng 0, còn các trái phiếu công ty khác nhau có mức độ rủi ro
thanh toán khác nhau.
Ngoài rủi ro thanh toán, trái phiếu chính phủ vẫn phải chịu các loại rủi
ro khác giống như bất kỳ một loại trái phiếu công ty nào như rủi ro lãi suất,
rủi ro lạm phát…

kỳ, mỗi năm một hoặc hai lần, trừ loại trái phiếu không trả lãi định kỳ (zero
– coupon bond). Người nắm giữ trái này được nhận tiền lãi do việc mua trái
phiếu với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá của nó. Khi trái phiếu đáo
hạn, lãi sẽ được trả, chính bằng khoản chênh lệch giữa mệnh giá trái phiếu
với giá đã trả để mua trái phiếu đó.
Cũng có cả trái phiếu với lãi suất thả nổi với lãi suất cuống phiếu được
định kỳ ấn định lại theo một chuẩn mực nào đó đã được định trước.
Ngoài việc cho biết các khoản thanh toán lãi cuống phiếu mà người
đầu tư có thể nhận được trong thời hạn của trái phiếu, lãi suất cuống phiếu
còn chỉ ra mức độ mà theo đó giá của trái phiếu sẽ chịu tác động của những
thay đổi lãi suất. Nếu các yếu tố khác không đổi, lãi suất cuống phiếu càng
cao, giá trái phiếu càng ít thay đổi trước một thay đổi của lãi suất. Kết quả
là lãi suất trái phiếu và thời gian đáo hạn có những hiệu ứng ngược chiều
đối với tính biến động giá của một trái phiếu.
Phân loại trái phiếu:
Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu ko mang tên trái chủ, cả trên bề
mặt trái phiếu cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả
lãi dính theo tờ trái phiếu, khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc
cắt ra và mang tới nơi đã quy định trước để nhận lãi, khi trái phiếu đáo hạn
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
người nắm giữ nó chỉ việc cầm trái phiếu đến ngân hàng để nhận lại khoản
cho vay.
Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ
trên cả bề mặt trái phiếu cũng như trên sổ của người phát hành. Hình thức
ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh
toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh toàn bộ mà ngày càng phổ biến là
hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất,
quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở
hữu trên máy tính.

Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết
quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước các cổ đông.
Trái phiếu chuyển đổi: các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho
phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của
công ty phát hành. Tùy theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến
hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể, xác
định.
Ngoài các đặc trưng chính như trên, còn có thể có một số loại trái
phiếu có tính chất riêng biệt như:
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà có quy định cứ định
kỳ (6 tháng hay một năm, hai năm…) lại ấn định lại lãi suất theo lãi suất thị
trường. Loại trái phiếu này được phát hành trong những khoảng thời gian
có những biến động mạnh về lãi suất thị trường, để hạn chế thiệt hại cho
hai bên tham gia vay mượn.
Trái phiếu có thể mua lại: là loại trái phiếu cho phép người vay (người
phát hành) trong những điều kiện nhất định có thể mua lại toàn bộ hay một
phần trái phiếu đã phát hành, tức là trả lại vốn cho người cho vay trước khi
trái phiếu hết hạn. Khi đó, các dòng thanh toán của trái phiếu sẽ kết thúc
sớm hơn so với thời hạn của trái phiếu.
Trái phiếu có thể bán lại: là loại trái phiếu cho phép người mua trái
phiếu trong những điều kiện nhất định có thể bán lại trái phiếu cho người
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát hành, thu hồi vốn trước khi trái phiếu đáo hạn. Cũng như trường hợp
trên, việc bán lại trái phiếu sẽ phá vỡ dự kiến về các dòng thanh toán nhận
được từ trái phiếu trong điều kiện bình thường.
Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép người mua trai phiếu
trong những điều kiện nhất định có thể đổi trái phiếu lấy cổ phiếu thường,
theo một tỷ lệ và mức giá đã ấn định.
1.1.1.3.Chứng chỉ Quỹ.

một phần trong danh mục đầu tư của quỹ để thu lợi nhuận.
 Được hưởng lợi do những thay đổi có lợi trong giá trị thị trường.
Ngoài ra còn có thể tái đầu tư những khoản phân phối từ cổ tức hay lợi
vốn vào quỹ, tức là có thêm cổ phần của quỹ và tiếp tục được hưởng những
lợi ích như trên đối với những cổ phần mới này.
1.1.1.4.Chứng khoán phái sinh.
Chứng khoán phái sinh bao gồm một số loại cơ bản như sau:
Quyền mua cổ phần: hay còn được gọi là quyền mua trước là quyền
ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiện hữu của một công ty cổ phần
được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát hành cổ phiếu phổ
thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại
một mức giá xác định, thấp hơn giá phát hành ra công chúng và trong một
thời hạn nhất định.
Mức giá phát hành này luôn thấp hơn mức giá hiện hành của chứng
khoán tại thời điểm quyền được phát hành là vì để tránh rủi ro giảm giá
chứng khoán trong đợt phát hành, điều này có thể đe dọa tới thành công
của đợt phát hành ngoài ra mức ra thấp hơn còn làm tăng thêm tính hấp dẫn
của đợt phát hành.
Mỗi cổ phần đang lưu hành thường đi kèm theo một quyền. Số lượng
quyền cần thiết để mua một cổ phần mới sẽ được quy định cụ thể tùy theo
từng đợt phát hành. Nếu cổ đông không muốn thực hiện quyền thì họ có thể
bán chúng trên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể lên hoặc xuống trong khoảng thời gian chào bán, do giá của cổ phiếu
trên thị trường tăng hoặc giảm.
Chứng quyền: Chứng quyền là loại chứng khoán cho phép người nắm
giữ nó có quyền được mua một số lượng xác định một loại chứng khoán
khác, thường là cổ phiếu thường, với một mức giá xác định và trong một
thời hạn xác định. Quyền này thường được phát hành lại khi tổ chức lại các

Hợp đồng tương lai: Là một thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng
sẽ mua hoặc bán một hàng hóa nào đó tại một thời điểm xác định trong
tương lai theo một mức giá đã định trước. Chức năng kinh tế cơ bản của
các thị trường hợp đồng tương lai là cung cấp một cơ hội cho những người
tham gia thị trường để phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi.
Trước năm 1972, chỉ có những hợp đồng tương lai lien quan tới những
nông sản truyền thống như ngũ cốc, cà phê, cacao…được giao dịch. Chúng
được gọi chung là hợp đồng tương lai hàng hóa. Các hợp đồng tương lai
dựa trên cơ sở một công cụ tài chính hay chỉ số tài chính được gọi là hợp
đồng tương lại tài chính, bao gồm hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu, hợp
đồng tương lai lãi suất, hợp đồng tương lai tiền tệ.
Hợp đồng quyền chọn: là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó
được mua hoặc bán một khối lượng hàng hóa tại một mức giá xác định và
trong một thời hạn xác định.
Các hàng hóa cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu,
chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai. Một hợp
đồng quyền chọn bất kỳ đều bao gồm bốn đặc điểm cơ bản sau:
 Loại quyền (quyền chọn bán hoặc chọn mua)
 Tên hàng hóa cơ sở và khối lượng được mua hoặc bán theo quyền
 Ngày hết hạn
 Giá thực hiện
Người bán quyền, trao quyền cho người mua để đổi lấy một khoản tiền
được gọi là giá quyền hoặc phí quyền. Mức giá mà tại đó công cụ này có
thể được mua hoặc được bán gọi là giá thực hiện quyền. Ngày mà sau đó
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyền hết giá trị gọi là ngày hết hạn. Một quyền chọn Mỹ có thể được thực
hiện vào bất kỳ thời điểm nào cho đến ngày đáo hạn và bao gồm cả ngày
hết hạn. Một quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày
hết hạn.

 Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự
doanh hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường).
Vai trò của CTCK:
Với những đặc điểm trên, CTCK có vai trò khác nhau đối với các chủ
thể khác nhau trên TTCK.
Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia thị trường của
các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành chứng
khoán. Vì vậy thông qua hoạt động làm đại lý phát hành, bảo lãnh phát
hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà
phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung
gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành
không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung
gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả nhà đầu tư
và nhà phát hành. Khi thực hiện công việc này, CTCK đã tạo ra cơ chế huy
động vốn cho nền kinh tế thông qua TTCK.
Đối với các nhà đầu tư: thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn,
đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm thời gian và chi phí giao dịch, do đó
nâng cao được hiệu quả của các khoản đầu tư. Đối với hàng hóa thông
thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và
người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự biến đổi thường xuyên của giá cả
chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho các nhà đầu tư tốn
kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu trước khi ra quyết định đầu tư.
Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu
quả.
Đối với TTCK: thì CTCK có hai vai trò chính:
Thứ nhất là góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng

khoán và thực hiện giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của
TTCK các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám sát của các
cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin này vừa là quy định
của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì
CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin
CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị
trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin
về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường
có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị
trường.
Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai trò
cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, các cơ
quan quản lý thị trường và đối với TTCK. Những vai trò này được thể hiện
cụ thể thông qua nghiệp vụ hoạt động của CTCK.
1.1.2.2.Mô hình, tổ chức của CTCK.
Mô hình công ty chứng khoán.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các
doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì CTCK là một loại
hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh
doanh của nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước. Mô hình tổ chức
kinh doanh của CTCK ở mỗi nước đều có đặc điểm riêng tùy theo đặc điểm
của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của người làm công tác quản
lý nhà nước. Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai mô hình cơ bản hiện nay
là:
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ: theo mô hình
này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh
chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia làm hai
loại:

mất khả năng chi trả. Do những hạn chế như vậy, nên sau khi khủng hoảng
thị trường tài chính 1929-1933 các nước đã chuyển sang mô hình chuyên
doanh, chỉ có một số thị trường như Đức vẫn còn áp dụng mô hình này.
Mô hình CTCK chuyên doanh: theo mô hình này hoạt động chuyên
doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh
vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh
doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là: Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng,
tạo điều kiện cho TTCK phát triển. Mô hình này được áp dụng ở nhiều
nước như Mỹ, Nhật, Canada, Hàn Quốc…Tuy nhiên, trong thời gian gần
đây các nước này có xu hướng xóa bỏ dần hàng rào ngăn cách giữa hai loại
hình kinh doanh (tiền tệ, chứng khoán) và hình thành nên các tập đoàn tài
chính khổng lồ nên ngày nay một số thị trường cũng cho phép kinh doanh
trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán nhưng được tổ chức
thành các công ty mẹ và các công ty con có sự quản lý, giám sát chặt chẽ
và hoạt động tương đối độc lập với nhau.
Tổ chức của CTCK: Hiện nay có ba loại hình tổ chức CTCK cơ bản là
công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Công ty hợp danh: Theo luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 thì công
ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất hai thành viên là chủ
sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi
là thành viên hợp danh), các thành viên này cùng tham gia vào quá trình ra
quyết định quản lý công ty. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn, các
thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty và chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc
cùng các chức vụ quản lý khác đề điều hành công ty theo các sách lược
kinh doanh đã đề ra.
Giấy chứng nhận cổ đông hay sổ cổ đông không thể hiện một món nợ
của công ty, mà thể hiện quyền lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của
công ty.
Công ty vẫn tồn tại khi quyền sở hữu của công ty thay đổi.
CTCP có các ưu điểm sau:
Đây là loại hình công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay
đổi cổ đông, tỷ lệ sở hữu.
Rủi ro mà chủ sở hữu công ty phải chịu được giới hạn ở một mức hạn
chế nhất định. Nếu công ty thua lỗ hoặc phá sản thì cổ đông chỉ phải chịu
thiệt hại ở mức vốn đã đầu tư vào công ty.
Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ
phiếu
Ngoài ra, đối với CTCK nếu được tổ chức theo mô hình CTCP thì khi
thực hiện niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo miễn
phí.
Hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin đối
với công ty tổ chức theo mô hình CTCP tốt hơn là công ty tổ chức theo các
mô hình khác.
Do các ưu điểm này mà ngày nay các CTCK chủ yếu tổ chức theo mô
hình CTCP, thậm chí ở nhiều nước (như Hàn Quốc) còn quy định CTCK
bắt buộc phải là CTCP.
Tóm lại, CTCK cũng là một loại hình công ty nhưng do hoạt động
nghiệp vụ của nó đặc biệt khác so với các công ty sản xuất hay thương mại
Nguyễn Phương Thảo Lớp: Tài chính công 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nói chung nên về mặt tổ chức của chúng cũng có nhiều sự khác biệt. Các
CTCK ở các nước khác nhau hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status