Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PV Securities: Công ty Cổ phần Chứng khoán Dầu khí
TTCK: Thị trường chứng Khoán
CTCK: Công ty chứng khoán
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước
TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTLKCK: Trung tâm lưu ký chứng khoán
TVLK: Thành viên lưu ký
CTCP: Công ty cổ phần
LKCK: Lưu ký chứng khoán
HĐQT: Hội đồng quản trị
HĐCĐ: Hội đồng cổ đông
TCPH: Tổ chức phát hành
P.LK&QLCĐ PVS: Phòng lưu ký và quản lý cổ đông của công ty Cổ
phần Chứng khoán Dầu khí.
BLPH: bảo lãnh phát hành
TDCK: Tự doanh chứng khoán
MG và LK: Môi giới và lưu ký
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006, hòa mình cùng với nền kinh tế thế giới Việt Nam đã chính
thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới-WTO. Việc gia nhập WTO đồng
nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, trong
đó có thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán là một phần của
khu vực tài chính của một quốc gia. Đây là một nguồn vốn dài hạn quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của một nước. Trong thời gian gần đây,
thị trường chúng khoán non trẻ của Việt Nam liên tục biến động,
Để thị trường chứng khoán hoạt động và phát triển lành mạnh, công
bằng, sôi động, hiệu quả không thể không nói đến vai trò của hoạt động lưu
ký chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là hoạt động quan trọng, là một khâu
Chứng khoán là hàng hóa của TTCK . Đó là những tài sản tài chính vì
nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể nó để thu tiền về.
Theo sự phát triển của thị trường, hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng.
Nói chung, người ta phân chia chứng khoán thành cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ, và các chứng khoán phái sinh.
1.1.1.1.Cổ phiếu.
Khái niệm: Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 thì cổ phiếu
được định nghĩa như sau:
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Khi mua cổ phiếu, những người đầu tư (hay còn được gọi là các cổ
đông) sẽ trở thành những người chủ sở hữu đối với công ty. Mức độ sở hữu
đó tùy thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ
đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình
hoạt động của công ty. Trong trường hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý
hay phá sản, cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi công ty đã
trang trải xong các khoản nghĩa vụ khác (như thuế, nợ ngân hàng hay trái
phiếu…). Cổ phiếu là công cụ tài chính không có thời hạn, các cổ đông có
thể tiến hành mua bán, chuyển nhượng các cổ phiếu trên thị trường thứ cấp
theo quy định của pháp luật.
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông,
có thể chia thành hai loại cổ phiếu cơ bản: Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu
ưu đãi.
Cổ phiếu phổ thông:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu điển hình nhất. Nếu một công ty
chỉ được phát hành một loại cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu phổ thông.
Cổ phiếu phổ thông mang lại các quyền sau cho các cổ đông:
Quyền hưởng cổ tức
Cổ tức là phần lợi nhuận của công ty dành để trả cho những người chủ
mỗi ứng cử viên bằng số cổ phiếu nắm giữ, hoặc được dồn toàn bộ số phiếu
có thể chi phối (bằng tổng số phiếu nhân với số ứng cử viên) để bầu cho
một (hoặc hơn) ứng cử viên. Cách thứ hai có lợi cho các cổ đông nhỏ, vì
tuy có ít phiếu bầu nhưng lại có thể tập trung phiếu để tăng thêm giá trị
quyền bỏ phiếu của mình.
Ngoài những quyền lợi cơ bản về kinh tế trên đây, cổ đông phổ thông
còn có những quyền pháp lý khác nữa, như quyền được kiểm tra sổ sách
của công ty khi cần thiết, được yêu cầu triệu tập đại hội đồng cổ đông bất
thường…
Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi dành cho cổ đông nắm giữ nó những ưu đãi so với cổ
phiếu phổ thông. Cổ phiếu ưu đãi bao gồm hai loại chính là ưu đãi về cổ
tức và ưu đãi quyền biểu quyết.
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỷ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá,
hay một mức cổ tức tuyệt đối tối đa. Trong điều kiện công ty hoạt động
bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ đc hưởng mức cổ tức này, vì thế thu nhập
từ cổ tức của cổ phiếu ưu đãi hầu như là cố định. Đổi lại điều đó, cổ đông
ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng
của công ty.
Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỷ lệ đó,
công ty sẽ trả theo khả năng có thể. Đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể
không trả cổ tức ưu đãi, và khi mà cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì
cổ đông phổ thông cũng chưa được trả.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong trường hợp công ty thanh lý tài sản, cổ đông ưu đãi được ưu
tiên nhận lại vốn trước cổ đông phổ thông, nhưng sau người có trái phiếu.
Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo đó những điều khoản để tăng
thêm tính hấp dẫn của nó. Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định rằng nếu
chưa trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi thì xem như công ty còn mắc nợ, cho
đến khi nào có đủ lợi nhuận để trả, và tất nhiên cho tới khi đó, khi trả hết cổ
1.1.1.2.Trái phiếu
Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 thì trái phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một
phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Trái phiếu là loại công cụ nợ quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay)
một khoản tiền xác định, thường là trong một khoảng thời gian cụ thể, và
phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn. Trái phiếu có những
đặc trưng quan trọng sau:
Người phát hành:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có hai loại người phát hành trái phiếu chính là chính phủ (trung ương
và địa phương) và công ty. Chính phủ là người phát hành đáng tin cậy nhất
do có được những điều kiện đảm bảo cao nhất cho việc hoàn trả gốc và trả
lãi. Còn trong khu vực công ty thì người phát hành có nhiều loại, mỗi loại
có khả năng khác nhau trong việc đáp ứng các nghĩa vụ đã thỏa thuận với
người cho vay. Nói cách khác, có thể coi rủi ro thanh toán của trái phiếu
chính phủ là bằng 0, còn các trái phiếu công ty khác nhau có mức độ rủi ro
thanh toán khác nhau.
Ngoài rủi ro thanh toán, trái phiếu chính phủ vẫn phải chịu các loại rủi
ro khác giống như bất kỳ một loại trái phiếu công ty nào như rủi ro lãi suất,
rủi ro lạm phát…
Thời gian đáo hạn của trái phiếu:
Thời gian đáo hạn của trái phiếu là thời gian mà người phát hành hứa
hẹn đáp ứng những điều kiện của nghĩa vụ. Ngày đáo hạn của trái phiếu là
ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ, người phát hành trái phiếu sẽ thu
hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả khoản vay gốc.
Nói chung những trái phiếu có thời hạn từ 1 đến 5 năm được gọi là trái
phiếu ngắn hạn, từ 5 đến 10 năm là trái phiếu trung hạn, trên 10 năm là trái
phiếu dài hạn.
còn chỉ ra mức độ mà theo đó giá của trái phiếu sẽ chịu tác động của những
thay đổi lãi suất. Nếu các yếu tố khác không đổi, lãi suất cuống phiếu càng
cao, giá trái phiếu càng ít thay đổi trước một thay đổi của lãi suất. Kết quả
là lãi suất trái phiếu và thời gian đáo hạn có những hiệu ứng ngược chiều
đối với tính biến động giá của một trái phiếu.
Phân loại trái phiếu:
Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu ko mang tên trái chủ, cả trên bề
mặt trái phiếu cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả
lãi dính theo tờ trái phiếu, khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc
cắt ra và mang tới nơi đã quy định trước để nhận lãi, khi trái phiếu đáo hạn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
người nắm giữ nó chỉ việc cầm trái phiếu đến ngân hàng để nhận lại khoản
cho vay.
Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ
trên cả bề mặt trái phiếu cũng như trên sổ của người phát hành. Hình thức
ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh
toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh toàn bộ mà ngày càng phổ biến là
hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất,
quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở
hữu trên máy tính.
Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành.
Chính phủ phát hành trái phiếu (hay các công cụ nợ nói chung) nhằm mục
đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc
làm công cụ điều tiết tiền tệ.
Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán
và cũng là loại chứng khoán có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó nên
lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ
để ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.
Trái phiếu công trình là loại trái phiếu được phát hành để huy động
vốn cho những mục đích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình
trường. Loại trái phiếu này được phát hành trong những khoảng thời gian
có những biến động mạnh về lãi suất thị trường, để hạn chế thiệt hại cho
hai bên tham gia vay mượn.
Trái phiếu có thể mua lại: là loại trái phiếu cho phép người vay (người
phát hành) trong những điều kiện nhất định có thể mua lại toàn bộ hay một
phần trái phiếu đã phát hành, tức là trả lại vốn cho người cho vay trước khi
trái phiếu hết hạn. Khi đó, các dòng thanh toán của trái phiếu sẽ kết thúc
sớm hơn so với thời hạn của trái phiếu.
Trái phiếu có thể bán lại: là loại trái phiếu cho phép người mua trái
phiếu trong những điều kiện nhất định có thể bán lại trái phiếu cho người
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phát hành, thu hồi vốn trước khi trái phiếu đáo hạn. Cũng như trường hợp
trên, việc bán lại trái phiếu sẽ phá vỡ dự kiến về các dòng thanh toán nhận
được từ trái phiếu trong điều kiện bình thường.
Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép người mua trai phiếu
trong những điều kiện nhất định có thể đổi trái phiếu lấy cổ phiếu thường,
theo một tỷ lệ và mức giá đã ấn định.
1.1.1.3.Chứng chỉ Quỹ.
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà
đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
Tùy theo loại hình của quỹ mà có các cách phân chia thành các loại
chứng chỉ quỹ khác nhau, và đặc điểm của các loại chứng chỉ đó cũng khác
nhau. Dựa theo hình thái vận động của vốn, có thể phân thành quỹ đóng và
quỹ mở.
Trong quỹ đóng, các chứng chỉ quỹ chỉ được phát hành một lần, với
một số lượng xác định. Quỹ không mua lại chứng chỉ quỹ cũng như phát
hành bổ xung. Các chứng chỉ quỹ sẽ được giao dịch trên thị trường tập
trung giống như bất kỳ một loại chứng khoán niêm yết nào khác. Trái lại,
quỹ đầu tư dạng mở liên tục phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng, số
lượng chứng chỉ quỹ có thể không hạn chế. Quỹ sẵn sàng mua lại chứng
Mức giá phát hành này luôn thấp hơn mức giá hiện hành của chứng
khoán tại thời điểm quyền được phát hành là vì để tránh rủi ro giảm giá
chứng khoán trong đợt phát hành, điều này có thể đe dọa tới thành công
của đợt phát hành ngoài ra mức ra thấp hơn còn làm tăng thêm tính hấp dẫn
của đợt phát hành.
Mỗi cổ phần đang lưu hành thường đi kèm theo một quyền. Số lượng
quyền cần thiết để mua một cổ phần mới sẽ được quy định cụ thể tùy theo
từng đợt phát hành. Nếu cổ đông không muốn thực hiện quyền thì họ có thể
bán chúng trên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thể lên hoặc xuống trong khoảng thời gian chào bán, do giá của cổ phiếu
trên thị trường tăng hoặc giảm.
Chứng quyền: Chứng quyền là loại chứng khoán cho phép người nắm
giữ nó có quyền được mua một số lượng xác định một loại chứng khoán
khác, thường là cổ phiếu thường, với một mức giá xác định và trong một
thời hạn xác định. Quyền này thường được phát hành lại khi tổ chức lại các
công ty hoặc khi công ty nhằm vào mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư
tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có những điều kiện kém
thuận lợi.
Chứng quyền khác với quyền chọn mua là ở đặc điểm cách thức phát
hành và thời hạn của chứng quyền. Nếu như quyền chọn mua chỉ có hiệu
lực trong vài tháng thì chứng quyền có hiệu lực dài hơn thậm chí là vĩnh
viễn. Các chứng quyền do các công ty phát hành chứng khoán cơ sở phát
hành, khi được thực hiện, chúng tạo thành dòng tiền vào cho công ty và
làm tăng số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường. Phần lớn chứng quyền
sau một khoảng thời gian nhất định có thể tách rời các chứng khoán cơ sở
và khi đó chúng có thể được giao dịch riêng biệt trên thị trường.
Với tư cách là người sở hữu chứng quyền, nhà đầu tư không có quyền
cổ đông trong công ty, không có quyền nhận cổ tức và không được quyền
biểu quyết. Các điều khoản của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ
chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai. Một hợp
đồng quyền chọn bất kỳ đều bao gồm bốn đặc điểm cơ bản sau:
Loại quyền (quyền chọn bán hoặc chọn mua)
Tên hàng hóa cơ sở và khối lượng được mua hoặc bán theo quyền
Ngày hết hạn
Giá thực hiện
Người bán quyền, trao quyền cho người mua để đổi lấy một khoản tiền
được gọi là giá quyền hoặc phí quyền. Mức giá mà tại đó công cụ này có
thể được mua hoặc được bán gọi là giá thực hiện quyền. Ngày mà sau đó
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quyền hết giá trị gọi là ngày hết hạn. Một quyền chọn Mỹ có thể được thực
hiện vào bất kỳ thời điểm nào cho đến ngày đáo hạn và bao gồm cả ngày
hết hạn. Một quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày
hết hạn.
Trên đây là một số loại chứng khoán phái sinh cơ bản, các loại chứng
khoán này chỉ phát triển ở những nước có TTCK phát triển, và là những
sản phẩm mới của TTCK cần được phát triển trong thời gian tới.
1.1.2.Công ty chứng khoán.
1.1.2.1.Khái niệm, vai trò của công ty chứng khoán.
Khái niệm: Công ty chứng khoán là tổ chức cung cấp các dịch vụ
chứng khoán. Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 thì công ty chứng
khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
CTCP theo quy định của Luật doanh nghiệp.
UBCKNN cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho CTCK. Giấy
phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
CTCK được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh
sau đây:
Môi giới chứng khoán;
Tự doanh chứng khoán;
Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm thời gian và chi phí giao dịch, do đó
nâng cao được hiệu quả của các khoản đầu tư. Đối với hàng hóa thông
thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và
người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự biến đổi thường xuyên của giá cả
chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho các nhà đầu tư tốn
kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu trước khi ra quyết định đầu tư.
Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu
quả.
Đối với TTCK: thì CTCK có hai vai trò chính:
Thứ nhất là góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng
khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng,
người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được trực
tiếp tham gia vào quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của
thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu
giá. Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra
mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch
đều có sự tham gia định giá của các CTCK.
Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị
trường. Để bảo vệ các khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của
chính mình, nhiều CTCK đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để
thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
Thứ hai là góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản chính.
TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo
ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện các
hoạt động như đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành các CTCK không
những đã huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho
nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính
doanh của nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước. Mô hình tổ chức
kinh doanh của CTCK ở mỗi nước đều có đặc điểm riêng tùy theo đặc điểm
của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của người làm công tác quản
lý nhà nước. Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai mô hình cơ bản hiện nay
là:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ: theo mô hình
này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh
chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia làm hai
loại:
Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty con độc lập, hoạt động tách
rời.
Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình CTCK đa năng là các ngân hàng có thể kết hợp
nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt được rủi ro trong hoạt động
kinh doanh bằng việc đa dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu
điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước trước những biến
động trên thị trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được
lợi thế của mình là tổ chức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất
hiện đại và hiểu biết rõ về khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ
thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ
chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó khả năng
chuyên môn không sâu như các CTCK chuyên doanh. Điều này sẽ làm cho
TTCK kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ và
thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của TTCK như:
Bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư…
Đồng thời do khó tách bạch được hoạt động của ngân hàng và hoạt
là thành viên hợp danh), các thành viên này cùng tham gia vào quá trình ra
quyết định quản lý công ty. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn, các
thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty và chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
vì thế thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới
hạn trong số vốn mà các thành viên hợp danh có thể đóng góp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là loại hình công ty đòi hỏi các thành
viên chỉ phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
trong phạm vi số vốn mà họ đã góp vào công ty. Vì thế điều này tạo ra tâm
lý nhẹ nhàng hơn cho các nhà đầu tư.
Mặt khác, về phương diện huy động vốn, công ty trách nhiệm hữu hạn
không được phát hành cổ phiếu song cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với
công ty hợp danh do được phát hành trái phiếu. Đồng thời, vấn đề tuyển
đội ngũ quản lý cũng năng động hơn, không bị bó hẹp như trong công ty
hợp danh.
Do những ưu điểm đó của công ty trách nhiệm hữu hạn so với công ty
hợp danh mà hiện nay nhiều công ty chứng khoán được tổ chức dưới dạng
công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty cổ phần: Theo luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 thì công
ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số
lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền
tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ những trường
hợp bị cấm theo quy định của pháp luật.
bắt buộc phải là CTCP.
Tóm lại, CTCK cũng là một loại hình công ty nhưng do hoạt động
nghiệp vụ của nó đặc biệt khác so với các công ty sản xuất hay thương mại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nói chung nên về mặt tổ chức của chúng cũng có nhiều sự khác biệt. Các
CTCK ở các nước khác nhau hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức
rất khác nhau tùy thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty hay mức
độ phát triển của thị trường.
1.1.2.3.Các hoạt động chủ yếu của CTCK.
Như đã trình bày ở trên, CTCK được thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu
như sau: Hoạt động môi giới chứng khoán, hoạt động tự doanh chứng
khoán, hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, hoạt động tư vấn đầu tư
chứng khoán. Trong phần này sẽ trình bày cụ thể về từng nghiệp vụ đó của
CTCK.
Nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Khái niệm: Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng
khoán trong đó một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch
thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay tại thị trường
OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế
của việc giao dịch đó.
Chức năng của hoạt động môi giới:
Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư cung cấp cho
khách hàng các báo cáo nghiên cứu và khuyến nghị đầu tư.
Nối liền những người bán và người mua: Đem đến cho khách hàng tất
cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thành
người bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời động
viên kịp thời.
Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (điển hình là sự sợ hãi và tham