Yếu tố đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đầu ra - Pdf 10

Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
PHẦN MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đứng trước tiến trình hội nhập AFTA và WTO, các doanh nghiệp không
ngừng thay đổi để thích ứng với môi trường xung quanh. Nền kinh tế có xu
hướng ngày càng phát triển thì đòi hỏi tính tự chủ của các doanh nghiệp ngày
càng cao, họ phải tự hạch toán, tự chuẩn bị các yếu tố đầu vào để vận hành tốt
quá trình sản xuất. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh
nghiệp nào cũng phải mua các yếu tố đầu vào; đó là yếu tố của quá trình sản xuất
để từ đó doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm được người tiêu dùng chấp
nhận. Nó quyết định rất lớn đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm dẫn đến
ảnh hưởng tới tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Công ty TNHH Minh Hồng, là một Công ty chuyên sản xuất dép nhựa với
chất lượng tốt đã chiếm được sự tín nhiệm cao trên thị trường trong nước. Dép
nhựa Trường Sơn luôn xác định: “Yếu tố đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng đầu ra”. Vì thế để đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như đảm bảo tính
cạnh tranh của doanh nghiệp thì việc chuẩn bị tốt các yếu tố đầu vào mà công tác
hậu cần vật tư là chủ yếu. Việc sản xuất sản phẩm với khối lượng lớn, mẫu mã
đa dạng nên công tác hậu cần vật tư là công tác thực sự khó khăn và đòi hỏi tính
chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tế. Tuy công tác hậu cần vật tư của
Công ty đạt một số thành tựu nhưng không tránh khỏi một số hạn chế. Chính vì
vậy “Nâng cao hiệu quả công tác hậu cần vật tư ở Công ty TNHH Minh Hồng”
là đề tài mà em lựa chọn nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp để nâng cao
hiệu quả hoạt động của công tác hậu cần vật tư của doanh nghiệp trên cơ sở kết
hợp thực trạng hoạt động hậu cần vật tư của Công ty.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi nghiên cứu đề tài này, mục đích trước mắt của người nghiên cứu là hoàn
thành tốt công tác thực tập ở Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. Việc nghiên
cứu đã giúp người học có cái nhìn thực tế về các kiến thức đã thu lượm trên
1
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -

Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty để
2
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
chuyên đề tốt nghiệp hoàn thành tốt hơn. Kính chúc cô và anh, chị trong Công ty
sức khỏe, phú quý và hạnh phúc.
CHƯƠNG I
CÔNG TÁC HẬU CẦN VẬT TƯ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. CÔNG TÁC HẬU CẦN VẬT TƯ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1. Khái niệm về công tác hậu cần vật tư
Thuật ngữ “Hậu cần” trong tiếng anh là logistic xuất hiện cách đây từ rất lâu,
khoảng hai ngàn năm. Thuật ngữ đó xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc với nghĩa
“Chuẩn bị quân lương, quân trang và các vật khác để phục vụ cho quân đội” và
sau đó nó luôn xuất hiện trong các cuộc chiến tranh. Theo từ điển Hán - Việt thì
“Hậu cần” là công tác ở hậu phương nhằm phục vụ cho quân đội mọi mặt của
đời sống.
Như vậy, nếu trong quân đội có hậu cần quân đội thì trong kinh tế có hậu cần
cho sản xuất hay hậu cần vật tư, tức là đảm bảo vật tư kỹ thuật cho sản xuất. Đó
là các nguyên nhiên vật liệu, điện lực, bán thành phẩm, thiết bị máy móc, dụng
cụ, phụ tùng… (được gọi là vật tư). Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không thể thiếu các loại nguyên vật liệu khác nhau. Các tư liệu này được
tạo ra trong quá trình lao động của các doanh nghiệp sản xuất khác.
Từ khi là thành phẩm của doanh nghiệp sản xuất khác cho đến khi chúng được
các lao động sống của các đơn vị làm tư liệu lao động hoặc đối tượng lao động
theo công dụng, tính chất của chúng. Khi đó biểu hiện của chúng là vật tư kỹ
thuật. Vật tư kỹ thuật là một dạng biểu hiện của tư liệu sản xuất, dùng chỉ những

vậy, hậu cần vật tư ở doanh nghiệp là một công tác tất yếu.
b. Vai trò đối với doanh nghiệp
Các yếu tố đầu vào
4
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
DN
Đầu ra
Hình 1: Quy trình sản xuất của doanh nghiệp
(Nguồn: Giáo trình KHQL tập II, trang 206)
Để tạo ra những hàng hoá có chất liệu tốt đáp ứng các yêu cầu về chất lượng
sản phẩm, về vệ sinh và về xã hội phù hợp với xu thế tiêu dùng hiện đại. Thúc
đẩy sản xuất và tiêu dùng xã hội phát triển, mặt khác thúc đẩy tiến bộ khoa học
công nghệ trong sản xuất với giá cả thích hợp. Thì công tác hậu cần vật tư của
doanh nghiệp phải cung ứng những máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nghệ
nguồn tiên tiến, hiện đại có năng xuất và giá trị sử dụng cao. Điều đó sẽ thúc đẩy
sản xuất phát triển và nó có vai trò đối với doanh nghiệp như sau:
+ Vật tư chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí khoảng 60 - 70%. Khi là
nguyên nhiên vật liệu thì vật tư chuyển toàn bộ gía trị của nó vào sản phẩm. Bởi
vậy công tác hậu cần vật tư ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng tiết kiệm
nguyên vật tư và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và do đó ảnh hưởng tới
giá thành sản phẩm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
+ Công tác hậu cần vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục ổn định,
nhịp nhàng bằng việc cung ứng đầy đủ, kịp thời, đúng quy cách.
+ Trong quá trình dự trữ, bảo quản vật tư kỹ thuật sẽ thúc đẩy doanh nghiệp
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giúp tăng năng suất lao
động, hạ giá thành sản phẩm. Vì thế có thể giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh
bằng mọi giá so với đối thủ cạnh tranh.
+ Công tác cấp phát vật tư trong doanh nghiệp góp phần sử dụng tiết kiệm
vật tư, chống lãng phí và nâng cao trách nhiệm của người sử dụng vật tư.

tốt nhất mong muốn của mình trong khả năng thanh toán. Nhu cầu có khả năng
thanh toán sẽ biểu hiện ra cầu thị trường.
6
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Nhu cầu vật tư là: Những nhu cầu về nguyên nhiên vật liệu, thiết bị, máy
móc… để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định. Vật tư là hàng
hoá cho nên nhu cầu vật tư cũng có những đặc điểm của nhu cầu hàng hoá dịch
vụ nói chung, những điểm khác biệt ở chỗ so với hàng hoá tiêu dùng là ở công
dụng của nó. Hàng hoá tiêu dùng cá nhân mà đặc trưng cơ bản của nó là khi
phân loại thì căn cứ vào thói quen mua hàng của người tiêu dùng. Còn vật tư
được sử dụng để làm ra những sản phẩm khác nhau hoặc tham gia điều hành một
doanh nghiệp hoặc một cơ sở hoạt động nào đó. Do đó sự khác biệt về đặc điểm
của tư liệu sản xuất và đặc điểm của vật tư tiêu dùng dẫn đến sự vận động của
cầu vật tư có sự khác biệt rất lớn so với cầu hàng hoá tiêu dùng. Độ co giãn của
cầu vật tư ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu về các loại vật tư cho sản xuất của
doanh nghiệp. Mặt khác, do vật tư là hàng hoá công nghiệp nên độ co giãn của
cầu ít hơn so với hàng hoá tiêu dùng cá nhân. Trong cơ cấu vật tư thì nhóm
nguyên liệu chính có cầu đàn hồi hơn so với vật liệu phụ. Quá trình đảm bảo vật
tư kỹ thuật là quá trình do sản xuất, công nghệ quyết định chứ không phải do
thói quen và người tiêu dùng quyết định.
Khái niệm nhu cầu vật tư là một khái niệm có nội dung bao hàm rộng lớn. Ở
đây cầu vật tư là cầu vật tư có khả năng thanh toán, nó không chỉ phụ thuộc vào
khả năng tài chính, giá cả, cung hàng hoá và điều kiện tín dụng. Nhu cầu vật tư
kỹ thuật mang tính khái quát, phản ánh nhu cầu sản xuất và loại vật tư nhất định.
a.2. Những đặc trưng cơ bản của vật tư.
•Phân loại vật tư
Ở doanh nghiệp trong quá trình sản xuất sử dụng nhiều loại vật tư khác nhau
các loại vật tư này khác nhau về hình dáng, kích thước, đặc điểm cũng như giá
trị: Vì vây để quản lý và sử dụng vật tư từ một cách có hiệu quả cần thiết phải

•Những đặc trưng cơ bản của nhu cầu vật tư
+ Nhu cầu vật tư ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Nhu cầu vật tư được hình thành trong lĩnh vực sản xuất vật chất.
+ Tính thay thế của vật tư
+ Tính bổ sung cho nhau
+ Tính đa dạng và nhiều vế của nhu cầu vật tư
8
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
b. Kết cấu nhu cầu vật tư và các nhân tố hình thành
b.1. Kết cấu nhu cầu vật tư
Trong doanh nghiệp, nhu cầu vật tư được biểu hiện toàn bộ nhu cầu vật tư
của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch để đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ sản
xuất kinh doanh. Kết cấu của nhu cầu vật tư được thể hiện bằng mối liên hệ giữa
mỗi loại nhu cầu với toàn bộ nhu cầu vật tư trong doanh nghiệp và được thể hiện
qua sơ đồ sau:
Tổng nhu cầu vật tư
Nhu cầu vật tư cho văn phòng
Nhu cầu vật tư cho sản xuất
Nhu cầu vật tư cho hoạt động khác
Nhu cầu vật tư cho văn Px phụ choPhPPPpchính
Nhu cầu vật tư cho văn Px chính
Nhu cầu vật tư cho sản phẩm A
Nhu cầu vật tư cho sản phẩm B
Nhu cầu vật tư cho sản phẩm C
Nhu cầu vật tư cho bổ sung dự trữ
9
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Hình 2: Kết cấu nhu cầu vật tư ở doanh nghiệp

SXSP
: Nhu cầu vật tư cho sản xuất sản phẩm.
N
DD
: Nhu cầu vật tư cho sản phẩm dở dang.
N
DT
: Nhu cầu dự trữ vật tư.
N
NCKH
: Nhu cầu vật tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
N
MMTB
: Nhu cầu máy móc thiết bị.
• Phản ánh tổng nguồn vật tư của doanh nghiệp (phương thức đảm
bảo vật tư cho doanh nghiệp) trong kỳ kế hoạch.

ij
P= O
ĐK
+ M + E + N
ĐH
Trong đó:
O
ĐK
: Tồn kho đầu năm.
M: Nguồn vật tư doanh nghiệp tự sản xuất.
E: Nguồn doanh nghiệp tiết kiệm.
11
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -

Q
Spi
: Số lượng sản phẩm loại i sản xuất trong kỳ kế hoạch.
m
Spi
: Mức tiêu dùng cho sản xuất một đơn vị sản phẩm i.
n: Số loại sản phẩm trong kỳ kế hoạch.
• Phương pháp tính theo sản phẩm tương tự.
ĐKAD: Người ta sử dụng phương pháp này trong trường hợp kỳ kế
hoạch doanh nghiệp dự định sản xuất các sản phẩm mới nhưng chưa có mức tiêu
dùng vật tư.
Nếu trong kỳ báo cáo doanh nghiệp đã sản xuất một sản phẩm có kết cấu
công nghệ tương tự như: Sản phẩm mới thì có thể dùng mức của sản phẩm này
để tiến hành xác định nhu cầu vật tư.
N
SXSP
= Q
SP
x m
TT
x K
Trong đó:
12
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Q
Sp
: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch.
m
TT

i
= N
VT
x H
i
13
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
• Phương pháp tính theo thành phần vật tư.
ĐKAD: Để sản xuất một loại sản phẩm người ta sử dụng nhiều loại vật tư
khác nhau. Để xác định nghiên cứu tiêu dùng vật tư cho từng loại thì căn cứ vào
tỷ lệ cấu thành của vật tư đó trong sản phẩm để xác định.
Công thức:
Bước một: Xác định tổng trọng lượng tinh của sản phẩm sản xuất.
14
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
N
SXSP
= ∑
n
i=1
Q
SPi
x H
SPi
Trong đó:
Q
Sp
: Số lượng sản phẩm loại i sản xuất trong kỳ kế hoạch.

= N
BC
x K
1
x K
2
15
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
Trong đó:
N
BC
: Tổng nhu cầu tiêu dùng vật tư trong kỳ báo cáo.
K
1
: Nhịp độ thay đổi của kế hoạch sản xuất.
K
2
: Hệ số tiết kiệm vật tư kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo.
d.2. Phương pháp xác định nhu cầu vật tư tiêu dùng cho sản phẩm dở dang
(N
DD
).
Sản phẩm dở dang là sản phẩm tại thời điểm nghiên cứu chưa hoàn thành
các công đoạn sản xuất. Để xác định nhu cầu vật tư cho nhu cầu này người ta sử
dụng một số phương pháp sau:
• Phương pháp dựa vào mức chênh lệch.
ĐKAD: Sử dụng trong trường hợp người ta xác định được số lượng sản
phẩm dở dang ở đầu và cuối năm kế hoạch, đồng thời xác định được mức tiêu
dùng vật tư bình quân để sản xuất sản phẩm dở dang.

GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
T
K
: Thời gian (số ngày) trong năm để sản xuất sản phẩm dở dang.
M: Mức tiêu dùng vật tư bình quân để sản xuất sản phẩm.
P: Số lượng vật tư tồn kho đầu năm để sản xuất sản phẩm dở dang.
d.3. Nhu cầu vật tư dự trữ (N
DT
)
Ngoài nhu cầu vật tư để sản xuất sản phẩm và sản xuất sản phẩm dở dang
nêu trên. Do đặc điểm của sản xuất mà làm cho các doanh nghiệp thường là hình
thành thêm một bộ phận nhu cầu tiêu dùng vật tư khác, bộ phận này được sử
dụng nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được diễn ra bình
thường và liên tục dưới sự tác động của các nguyên nhân chủ quan mà chúng ta
có thể dự đoán được.
N
DT
= m

x T
Trong đó:
m

: Mức tiêu dùng vai trò bình quân một ngày đêm cho sản xuất sản
phẩm.
T: Thời gian dự trữ ở doanh nghiệp.
Mặt khác, T = T
TX
+ T

cần cho các dự án công trình mới.
• N
MMTB
thay thế cho các máy móc thiết bị đã hết thời gian khấu hao.
17
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
• N
MMTH
để mở rộng năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Thứ nhất: N
MMTH
để mở rộng năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
N
MNTB
= - A
Trong đó:
Q
SP
: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch.
M: Mức hao phí giờ máy để sản xuất một đơn vị sản phẩm.
G
K
: Số giờ để sản xuất các sản phẩm phụ.
T: Số ngày mày làm việc trong năm kế hoạch.
C: Số ca làm việc trong một ngày.
G: Số ca làm việc trong một ngày.
K
SD
: Hệ số sử dụng máy móc thiết bị có tính đến thời gian ngừng để

T
ĐK
: Tồn kho đầu kỳ về thiết bị dùng cho lắp rắp máy sản phẩm.
Thứ ba: Nhu cầu máy móc thiết bị dùng để thay thế những máy móc
thiết bị đã hết thời gian khấu hao.
18
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
 Do quá thời hạn sử dụng máy móc thiết bị hư hỏng không sửa chữa
được nữa.
 Do tiến bộ khoa học kỹ thuật xất hiện những máy móc thiết bị hiện
đại hơn, tối tân hơn và cho năng suất cao hơn.
Do vậy muốn tính được lượng máy móc thiết bị dùng để thay thế phải dựa
trên yêu cầu về mở rộng năng lực sản xuất của doanh nghiệp số lượng thực tế
máy móc thiết bị hư hỏng loại ra. Mặt khác, cần phải có biên bản của hội đồng
giám định về kỹ thuật và có yêu cầu tăng năng suất máy của doanh nghiệp, mức
độ lạc hậu và hiệu quả của việc sử dụng máy móc thiết bị.
2. Xây dựng kế hoạch hậu cần vật tư cho doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh rất nhiều loại
sản phẩm khác nhau và xu thế chung là ngày càng đa dạng hoá những sản phẩm
của mình. Để sản xuất ra những sản phẩm đa dạng về chủng loại, mẫu mã, cỡ
loại thì đòi hỏi phải có nhiều chi tiết, bộ phận, máy móc và nguyên vật liệu khác
nhau. Mặt khác, lượng nguyên vật liệu sử dụng ở những thời điểm khác nhau và
luôn thay đổi. Vì thế, cán bộ quản lý vật tư cần theo dõi sát sao danh mục vật tư
để có biện pháp cụ thể cho việc đảm bảo qúa trình sản xuất diễn ra liên tục,
thường xuyên và không bị gián đoạn nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng. Xây
dựng kế hoạch hậu cần vật tư là biện pháp quan trọng để duy trì lượng dự trữ vật
tư ở mức thấp nhất, vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất vừa tránh ứ đọng vốn.
Cơ sở để xây dựng kế hoạch hậu cần vật tư là dựa vào việc tính toán yêu cầu vật
tư của doanh nghiệp. Xây dựng kế hoạch yêu cầu vật tư phải chính xác, cụ thể

đh
: Lượng hàng ước nhập vào kể từ thời điểm lập kế hoạch đến hết
năm báo cáo.
X : Lượng hàng ước xuất cùng trong thời gian.
Căn cứ để xác định O
tt
:
 Dựa vào thẻ kho
 Dựa vào cân đo, đong đếm…
Căn cứ để xác định N
đh
 Dựa vào lượng vật tư dự kiến sẽ mua trong năm báo cáo
 Dựa vào lượng vật tư thực tế mua tại thời điểm báo cáo đến năm lập
kế hoạch.
Căn cứ để xác định X: Dựa trên cơ sở nhu cầu vật tư sẽ tiêu dùng.
b. Nguồn động viên tiềm lực nội bộ.
Nguồn động viên tiềm lực nội bộ được hình thành từ những nguồn chủ yếu
sau:
Một là: Doanh nghiệp tự tổ chức sản xuất, chế biến thu gom hàng hoá để bổ
sung nguồn hàng. Để có được nguồn này cần phải dựa vào yêu cầu sản xuất và
20
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
khả năng hiện có của doanh nghiệp trong việc chế tạo hàng hoá vật tư bổ sung
cho sản xuất.
Hai là: Thu hồi và sử dụng lại phế liệu, phế phẩm tạo ra nguồn vật tư tiêu
dùng cho doanh nghiệp. Để có được nguồn này phải căn cứ và xem xét số luợng,
chất lượng, chủng loại phế liệu thu được và khả năng sửa chữa, chế biến của
doanh nghiệp.
Ba là: Nguồn do doanh nghiệp tự gia công. Tiềm tàng nội bộ của doanh

trọng khi nguồn vật tư chính đảm bảo không kịp thời hoặc thiếu hụt. Vì thế,
doanh nghiệp phải nắm bắt được nhu cầu phát sinh để xác định mức độ thoải
mãn của đơn hàng để phục vụ nhu cầu chính của doanh nghiệp và công tác hậu
cần vật tư phải luôn mang tính chủ động để cung ứng vật tư cho sản xuất. Doanh
nghiệp luôn nghiên cứu khả năng phát triển của nguồn hàng, để khi cần sẵn thay
thế khi có sự thay đổi nguồn vật tư chính.
Đối với nguồn hàng trôi nổi: Đặc trưng lớn nhất là đáp ứng nhu cầu sản
xuất và là nguồn hàng không ổn định về số lượng, chất lượng, giá cả, phương
thức mua bán. Vì vậy, đòi hỏi người mua bán phải am hiểu về mặt hàng và có
cách nhìn đúng đắn về giá cả thị trường. Mặt khác, nó là nguồn hàng bổ xung
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
• Theo nơi sản xuất ra hàng hoá “vật tư “.
+ Nguồn vật tư nhập khẩu: Trong quá trình doanh nghiệp cân đối giữa
yêu cầu sản xuất với khả năng nguồn vật tư mà doanh nghiệp đáp ứng cho sản
xuất. Thì trong tính toán của doanh nghiệp có thể một số máy móc, thiết bị, hoặc
một số vật tư bị thiếu hụt nhưng do sản xuất trong nước chưa đáp ứng về yêu cầu
kỹ thuật, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất. Do vậy, trong trường hợp
này doanh nghiệp có thể đặt mua ở nước ngoài bằng ngoại tệ vay hoặc doanh
nghiệp tự có. Khi xác định mua nguồn vật tư nhập khẩu, doanh nghiệp cần tính
toán tỷ mỷ, cụ thể từng chỉ tiêu để tránh ứ đọng vốn gây lãng phí nguồn ngoại tệ.
Nếu doanh nghiệp chưa hiểu rõ về nguồn hàng cung ứng do doanh nghiệp nước
ngoài sản xuất hoặc chưa hiểu rõ thông lệ quốc tế thì có thể mua qua các nhà
trung gian thương mại. Còn ngược lại doanh nghiệp có thể đặt mua hàng trực
tiếp từ nước ngoài. Đặc điểm chung của nguồn này: Nguồn hàng có chất lượng
22
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
cao, cơ chế điều tiết phức tạp như chịu sự điều chỉnh ít nhất hai hệ thống luật
pháp, chế tài xử lý các vụ việc vi phạm cũng phức tạp.
+ Nguồn sản xuất trong nước: Căn cứ vào khả năng tiêu thụ sản phẩm và

tác tổ chức hạch toán và kiểm tra mức độ bảo đảm vật tư cho sản xuất để dự kiến
lượng tài chính phục vụ cho công tác hậu cần trong doanh nghiệp.
Kế hoạch hậu cần vật tư của doanh nghiệp lập ra trên cơ sở các chỉ tiêu tiêu
thụ sản phẩm trong quý, ngoài ra còn dựa trên nhiều các tài liệu khác có liên
quan. Kế hoạch được xây dựng trên hai đơn vị: Giá trị và hiện vật chi tiết cho
từng loại. Bảng kế hoạch xây dựng chi tiết trên các bảng biểu, và ghi đầy đủ các
cột, cách tính từng cột, đơn vị tính…
Trên cơ sở xây dựng kế hoạch hậu cần quý, Phòng kinh doanh lập các đơn
đặt hàng mua vật tư cho từng chủng loại. Đó là bảng kê khai các chủng loại, quy
cách vật tư cần thiết cho doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh, bảng này cần phải
ghi rõ lượng vật tư cần mua, thời hạn nhận. Đối với từng doanh nghiệp cụ thể
mà lập đơn đặt hàng theo năm hay theo quý phụ thuộc vào nhu cầu vật tư ổn
định hay không ổn định. Đơn hàng này phải phù hợp với thực tế làm việc ở
doanh nghiệp.
a.2. Lập kế hoạch hậu cần tháng
Tuỳ từng loại vật tư mà doanh nghiệp lập kế hoạch hậu cần quý hoặc tháng.
Đối với những vật tư chính hay mất cân đối thì phòng kinh doanh cần kiểm tra
theo dõi để lập kế hoạch hậu cần vật tư tháng. Kế hoạch được lập trước tháng kế
hoạch khoảng 7 – 10 ngày và lập sau khi doanh nghiệp đã biết được khả năng
thoả mãn đơn hàng của các đơn vị kinh doanh. Kế hoạch vật tư tháng chi tiết
hơn kế hoạch hậu cần vật tư quý là ở trên bảng kế hoạch phải chi tiết cột phản
ánh vật tư thừa thiếu đồng thời có những biện pháp giải quyết vấn đề đó.
Tuy nhiên, do biến động môi trường kinh doanh mà ảnh hưởng đến khả
năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thì vấn đề điều chỉnh kế hoạch hậu cần
vật tư là thực sự cần thiết. Những nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến sự điều
chỉnh kế hoạch sản xuất là:
24
GV hướng dẫn: Ths. Ngô Thị Mỹ Hạnh -
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - SV thực hiện: Nguyễn Thị Hường
• Sự thay đổi nhu cầu thị trường dẫn đến điều chỉnh kế hoạch sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status