Một số ý kiến nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp theo hướng đổi mới - Pdf 10

ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
LỜI MỞ ĐẦU
"Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, chúng tôi sẽ đảo
lộn cả nước Nga". Câu nói bất hủ ấy của V.I. Lênin cho chúng ta hiểu rõ tổ chức
và vai trò của tổ chức. Người còn nói: "Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền,
giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức". Khi giai cấp đã nắm
chính quyền rồi, người còn nói: "Lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức". Thực hiện di huấn của
Lênin, những người cộng sản Việt Nam hết sức coi trọng công tác tổ chức. Khi
Đảng đã có đường lối chính trị đúng đắn thì công tác tổ chức và cán bộ là một
nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của nhiệm vụ cách mạng. Thực
hiện nhiệm vụ của một ngành hay một cơ quan bất kỳ nào trong hệ thống chính
trị của chúng ta cũng đòi hỏi có một hình thức tổ chức thích hợp. Thắng lợi của
cách mạng nước ta là minh chứng cho vai trò của tổ chức.
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệ thống các doanh
nghiệp là vấn đề rất hệ trọng trong đường lối phát triển kinh tế, đồng thời, rất
nhạy cảm về chính trị, liên quan tới sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Vì vậy, quản lý các doanh nghiệp có hiệu quả là một công việc hết sức
quan trọng, mà trong phạm vi nghiên cứu các Doanh nghiệp công tác tổ chức
đóng một vai trò quyết định đối với sự thành bại của Doanh nghiệp. Căn cứ vào
mục tiêu của Doanh nghiệp và sự biến động của môi trường trong mỗi thời kỳ,
các nhà quản trị cấp cao thường đưa ra những quyết định về tổ chức nhằm tạo ra
một cơ cấu tổ chức phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ.
Tổ chức là nguyên nhân của những nguyên nhân. Tổ chức là một vấn đề hết
sức phức tạp và quan trọng đối với việc thực hiện đường lối, chủ trương của
Đảng và Nhà nước nói chung và của các Doanh nghiệp nói riêng, đòi hỏi phải
được đối xử như một ngành khoa học, nghĩa là phải được nghiên cứu và học tập.
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Được sự hướng dẫn tận tình của cô Hồ Bích Vân, trong đề tài này em chú
tâm nghiên cứu một số vấn đề về Cơ cấu tổ chức quản lý trong các doanh

động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý
thức. Nói cách khác, khi người ta cùng nhau hợp tác và thoả thuận một cách
chính thức để phối hợp những nỗ lực của họ nhằm hoàn thành những mục tiêu
chung thì một tổ chức sẽ được hình thành.
1.2 Những đặc điểm chung của tổ chức :
Theo các nhà tâm lý học tổ chức thì có 4 đặc điểm chung đối với tất cả các tổ
chức là:
Thứ nhất, kết hợp các nỗ lực của các thành viên : Như chúng ta thường
thấy, khi các cá nhân cùng nhau tham gia và phối hợp những nỗ lực vật chất hay
trí tuệ của họ thì nhiều công việc phức tạp và vĩ đại có thể được hoàn thành.
3
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Chẳng hạn , việc xây dựng các Kim tự tháp, việc đưa con người lên mặt trăng...là
những công việc vượt xa trí thông minh và khả năng của bất cứ cá nhân nào. Sự
kết hợp nỗ lực nhân lên đóng góp của mỗi cá nhân.
Thứ hai, có mục đích chung : Sự kết hợp các nỗ lực không thể thực hiện
được nếu những người tham gia không nhất trí cùng nhau phấn đấu cho những
quyền lợi chung nào đó. Một mục tiêu chung đem lại cho các thành viên của tổ
chức một tiêu điểm để tập hợp nhau lại.
Thứ ba, phân công lao động : Bằng cách phân chia một cách hệ thống các
nhiệm vụ phức tạp thành những công việc cụ thể, một tổ chức có thể sử dụng
nguồn nhân lực của nó một cách có hiệu quả. Phân công lao động tạo điều kiện
cho các thành viên của tổ chức trở nên tài giỏi hơn do chuyên sâu vào một công
việc cụ thể.
Thứ tư, hệ thống thứ bậc quyền lực : Các nhà lý thuyết về tổ chức định
nghĩa quyền lực là quyền ra quyết định và điều khiển hành động của những
người khác. Nếu không có một hệ thống thứ bậc quyền lực rõ ràng thì sự phối
hợp những cố gắng của các thành viên sẽ rất khó khăn. Một trong những biểu
hiện của hệ thống thứ bậc là hệ thống ra mệnh lệnh và sự phục tùng.
Những đặc điểm trên đây là rất cần thiết để xác định sự hiện diện của một tổ

hành tổ chức đạt đến mục tiêu sẽ thuận buồm xuôi gió và đạt hiệu quả cao nhất.
Quy luật này được xem là quan trọng nhất.Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu lại
chính là vấn đề nan giải nhất của bất kỳ tổ chức nào. Mục tiêu là cái đích phải
đạt tới của tổ chức, mục tiêu quy định quy mô và cấu trúc của tổ chức. Khi xác
định mục tiêu, người ta thường dùng "cây mục tiêu" để xác định và phân loại
thành mục tiêu trước mắt hay lâu dài, mục tiêu của quốc gia, của ngành hay địa
phương…
Trong các doanh nghiệp phải xác định mục tiêu chiến lược của mình, và để
đạt được mục tiêu chiến lược người ta thường phân chia thành từng giai đoạn
dài, ngắn khác nhau và xác định mục tiêu cụ thể. Nếu mục tiêu của hệ thống là
mục tiêu chiến lược thì cũng có thể coi mục tiêu của các đơn vị cấu thành là mục
tiêu cụ thể. Và trong trường hợp này, mục tiêu chiến lược của hệ thống còn là
mục tiêu cụ thể của hệ thống lớn hơn. Hiệu quả của tổ chức bắt đầu từ việc xác
5
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
định mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể cũng như mục tiêu của hệ thống và
mục tiêu của tổ chức hợp thành.
Xác định mục tiêu là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi người lãnh đạo hệ
thống tổ chức phải tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm lịch sử và dự báo chính
xác tương lai thì mới có thể xác định mục tiêu được đúng đắn. Người lãnh đạo
tổ chức hợp thành phải hiểu sâu sắc mục tiêu của hệ thống để xác định mục tiêu
của tổ chức mình phù hợp với mục tiêu của hệ thống, góp phần bảo đảm đạt
được mục tiêu của hệ thống một cách hiệu quả nhất. Số lượng mục tiêu càng ít
càng tốt và càng ít càng khó đối với người xác định mục tiêu, hoạch định đường
lối. Tổ chức có nhiều mục tiêu thường đạt hiệu quả kém. Khi xác định mục tiêu,
người ta xây dựng "cây mục tiêu" và phải lựa chọn mục tiêu ưu tiên trong số
nhiều mục tiêu và tốt hơn nữa là xếp hạng mục tiêu ưu tiên. Việc lựa chọn mục
tiêu ưu tiên là khắc phục tình trạng đa mục tiêu của tổ chức. Bằng kinh nghiệm
thực tiễn người ta thấy rằng tổ chức cơ sở chỉ nên có không quá ba mục tiêu.
Khi xác định mục tiêu, người ta rất chú ý tới tính khả thi của việc xác định

chúng tạo nên sự thống nhất giữa bộ phận và toàn thể của tổ chức hay của hệ
thống. Quan điểm hệ thống này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac -
Lênin nêu lên thành luận điểm khoa học trong học thuyết duy vật biện chứng về
sự thống nhất vật chất của thế giới và mối quan hệ giữa chúng. Lý thuyết hệ
thống đã tạo ra khả năng cho con người mô tả, phân tích, xử lý các mối quan hệ
đa dạng giữa các đối tượng phức tạp của thực tiễn, của hệ thống tổ chức.
Quan hệ cơ bản nhất xác định hoạt động của hệ thống tổ chức là quan hệ vào
- ra của hệ thống tổ chức. Xem xét quan hệ vào ra là xem xét chức năng hoạt
động của hệ thống tổ chức, đồng thời cũng là xét hệ thống trong trạng thái mở,
trong sự tương tác của môi trường, chứ không phải là một hệ thống khép kín. Về
mặt thực tiễn, quan hệ vào ra là căn cứ chủ yếu để xem xét khả năng hoạt động
và hiệu quả của tổ chức và của hệ thống. Quy luật hệ thống không chỉ cho ta
thấy cấu trúc của tổ chức, mà còn chỉ cho ta cách quản lý hay điều khiển tổ chức
hoặc hệ thống tổ chức. Qúa trình điều khiển là quá trình tác động lên hệ thống để
biến cái vào thành cái ra theo mục tiêu thiết kế của hệ thống.
7
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Trong hệ thống tổ chức cần quy định rõ quyền hạn trách nhiệm và mối quan
hệ của các tổ chức cùng cấp và các cấp trong hệ thống, Trong hệ thống tổ chức
thường bắt đầu từ tổ chức cơ sở, dù nhỏ thì tổ chức cơ sở cũng mang đầy đủ tính
chất của một tổ chức. Khi tính điều khiển được của tổ chức vượt quá khả năng
quản lý thì phải phân cấp và thành lập bộ phận trung gian. Do nhu cầu phát triển
mà các bậc trong tổ chức thay đổi. Sự thay đổi sẽ bớt khó khăn khi ta quy định rõ
chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo
và quản từng cấp. Các tổ chức cùng cấp tạo nên cơ cấu hệ thống ngang, các tổ
chức trong hệ thống ngang cần có chức năng nhiệm vụ rõ ràng thì mới không
trùng lặp gây lãng phí và làm giảm sức mạnh của tổ chức. Ngoài ra, cần quy định
quan hệ giữa các tổ chức đồng cấp với nhau để phát huy sức mạnh tổng thể của
tổ chức, hệ thống này ví như dây truyền sản xuất trong công nghiệp. Trong hệ
thống quản lý, phân công trong hệ thống đồng cấp càng rõ ràng thì hiệu quả quản

chức ngừng hoạt động là tổ chức bị phá sản hay giải thể. Hoạt động là điều kiện
tồn tại của tổ chức, tổ chức cũng như cơ thể sống, sự vận động là lẽ sống của nó.
Vận động của hệ thống tổ chức không chỉ liên tục mà còn vận động toàn thể từ
những tổ chức hợp thành đến hệ thống. Tổ chức được thiết kế để thực hiện mục
tiêu, quá trình thực hiện mục tiêu là quá trình vận động của tổ chức, nếu tổ chức
không vận động thì không có cách gì để thực hiện mục tiêu. Nói quy luật động
không ngừng là mới chỉ nói một vế, còn vế thứ hai là vận động theo quy trình
của tổ chức, quy trình được quy định cụ thể trong điều lệ hoạt động của tổ chức.
Tuy vận động không ngừng nhưng bộ máy tổ chức không phải là động cơ vĩnh
cửu, mà nó cũng cần năng lượng để hoạt động. Nguồn năng lượng đó chính là
các quyết định của cơ quan quản lý, sản phẩm của bộ máy lãnh đạo và quản lý là
các quyết định, việc tổ chức và thực hiện các quyết định là nhiệm vụ chính của
nó. Đó chính là năng lượng mà lãnh đạo cấp cho bộ máy tổ chức. Do đó, cần ban
hành và thực hiện chế độ chuẩn bị và thông qua các quyết định. Tuân thủ quy
luật khách quan này, khi thiết kế tổ chức, ngoài thiết kế hệ thống, còn phải xác
định cơ chế vận hành của bộ máy tổ chức, bảo đảm cho tổ chức vận động không
ngừng và đúng theo quy trình đã xác định. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành
9
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
cần có điều chỉnh, bằng các quyết định của cấp trên hay của lãnh đạo tổ chức,
bảo đảm cho tổ chức vận động không ngừng và đúng quy trình, đồng thời bảo
đảm cho tổ chức tự điều chỉnh.
2.5 Quy luật tự điều chỉnh của tổ chức
Quá trình vận động thực hiên mục tiêu, mỗi tổ chức tiến hành trong môi
trường riêng của mình. Môi trường ấy luôn thay đổi, nên bản thân tổ chức phải
tự điều chỉnh để tạo ra những cân bằng mới phù hợp với sự biến động của môi
trường, nhằm đạt mục tiêu một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy, tổ chức nào biết tự
điêu chỉnh là tổ chức linh hoạt và có sức sống. Để cho tổ chức tự điều chỉnh
được, khi thiết kế đã phải lưu ý tạo hành lang cho tổ chức tự điều chỉnh ngay
trong quá trình thực hiện mục tiêu. Những cơ chế quản lý, chế độ, chính sách của

Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Tổ
chức là một khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính
sách của Đảng. Đảng ta không những đã thể hiện bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng
tạo trong việc đề ra đường lối cách mạng, mà còn cả trong tổ chức thực hiện, nên
đã nhân sức mạnh của dân tộc ta lên gấp nhiều lần, chiến thắng các kẻ thù hùng
mạnh và tàn bạo nhất thời đại.
Muốn cho tư tưởng, đường lối, chính sách được thực hiện, phải có tổ chức,
phải tổ chức con người lại với những phương tiện nhất định, chỉ đạo mọi người
hành động theo đúng những mục tiêu, phương hướng do tư tưởng đó xác định.
Chính trên ý nghĩa ấy, chúng ta nói: Khi Đảng đã có đường lối, nhiệm vụ chính
trị đúng đắn thì công tác tổ chức, cán bộ và công tác quản lý bảo đảm thực hiện
thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị. Đường lối nhiệm vụ chính trị và công tác
tổ chức, quản lý có mối liên hệ hữu cơ, không thể tách rời nhau.
Bên cạnh những thành công, thắng lợi vĩ đại đó, chúng ta cũng còn nhiều yếu
kém: Đất nước còn nghèo nàn, kém phát triển; chưa cần kiệm trong sản xuất,
tiêu dùng và dồn công sức cho đầu tư phát triển; quản lý nhà nước về kinh tế, xã
hội còn bộc lộ nhiều non yếu; hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm; tổ chức
bộ máy còn cồng kềnh…
1. Khái niệm cơ cấu tổ chức
11
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn
nhau, được chuyên môn hoá, có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm nhất
định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm thực hiện những
hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục tiêu đã xác định.
Cơ cấu tổ chức là một hệ thống các mối liên hệ hoạt động chính thức bao
gồm nhiều công việc riêng lẻ, cũng như những công việc tập thể. Sự phân chia
công việc thành những phần việc cụ thể nhằm xác định ai sẽ làm công việc gì và
sự kết hợp nhiều công việc cụ thể nhằm chỉ rõ cho mọi người thấy họ cũng phải
cùng nhau làm việc như thế nào. Cơ cấu của tổ chức giúp cho nhân viên cùng

Một vị trí công tác hay một bộ phận được định nghĩa càng rõ ràng theo các
kết quả mong đợi, các hoạt động cần tiến hành, các quyền hạn được giao và các
mối liên hệ thông tin với các vị trí công tác hay bộ phận khác, thì những người
chịu trách nhiệm càng có thể đóng góp xứng đáng hơn cho việc hoàn thành mục
tiêu của tổ chức.
Đây là nguyên tắc cơ bản chi phối quá trình chuyên môn hoá và hợp nhóm
các hoạt động để hình thành nên các bộ phận và phân hệ của cơ cấu. Việc coi
nhẹ nguyên tắc này dễ dẫn đến nguy cơ về sự lẫn lộn không biết ai sẽ phải làm
việc gì. Đây là nguyên tắc đơn giản về mặt nhận thức nhưng thường rất phức tạp
khi vận dụng. Để xác định một vị trí công tác hay một bộ phận cùng tất cả những
yếu tố liên quan đến nó, trong hầu hết các trường hợp đều cần đến tính nhẫn nại,
trí thông minh của những nhà tổ chức, và tính rõ ràng của các kế hoạch.
3.2 Nguyên tắc giao quyền theo kết quả mong muốn
Việc giao quyền là để trang bị cho người quản lý một công cụ thực hiện mục
tiêu, và do đó quyền được giao cho từng người cần phải tương xứng với nhiệm
vụ, đảm bảo cho họ khả năng thực hiện các kết quả mong muốn.
3.3 Nguyên tắc bậc thang
Tuyến quyền hạn từ người quản lý cao nhất trong tổ chức đến mỗi vị trí bên
dưới càng rõ ràng, thì các vị trí chịu trách nhiệm ra quyết định sẽ càng rõ ràng và
các quá trình thông tin trong tổ chức sẽ càng có hiệu quả.
13
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Việc nhận thức đầy đủ nguyên tắc bậc thang là rất cần thiết cho việc phân
định quyền hạn một cách đúng đắn, bởi vì cấp dưới phải biết ai giao quyền cho
họ và những vấn đề vượt quá phạm vi quyền hạn của họ phải trình cho ai.
3.4 Nguyên tắc tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm
Do quyền hạn là một quyền cụ thể để tiến hành những công việc được giao
và trách nhiệm là nghĩa vụ phải hoàn thành chúng, về mặt logic điều đó dẫn đến
yêu cầu quyền hạn phải tương xứng với trách nhiệm. Trách nhiệm về các hành
động không thể lớn hơn trách nhiệm nằm trong quyền hạn được giao phó, cũng

cấp dưới.
Đây là một nguyên tắc rất khó vận dụng trong thực tế. Sẽ dễ dàng hơn nếu
những nhà quản lý nhận thức được quy luật lợi thế tương đối của quản lý tương
đồng với quy luật lợi thế so sánh về kinh tế trong mối quan hệ giữa các quốc gia.
Của cải của một nước sẽ được tăng thêm nếu họ xuất khẩu những sản phẩm sản
xuất có hiệu quả thấp và nhập khẩu những sản phẩm sản xuất kém hiệu quả nhất,
ngay cả khi họ có thể sản xuất những hàng nhập khẩu rẻ hơn nhiều so với các
nước khác. Tương tự người quản lý tăng thêm sự đóng góp của mình cho tổ chức
nếu họ chỉ tập trung vào những công việc góp ích nhiều nhất cho các mục tiêu
của tổ chức và giao cho cấp dưới những nhiệm vụ còn lại, ngay cả khi họ có khả
năng làm tốt các nhiệm vụ đó hơn nhiều so với cấp dưới.
3.8 Nguyên tắc quản lý sự thay đổi
Đảm bảo tính linh hoạt của tổ chức cần đưa vào trong cơ cấu các biện pháp
và kỹ thuật dự đoán và phản ứng trước những sự thay đổi. Tổ chức nào được xây
dựng cứng nhắc, với các thủ tục quá phức tạp hay với các tuyến phân chia bộ
phận quá vững chắc, đều có nguy cơ không có khả năng đáp ứng được trước
thách thức của những thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ và sinh
thái.
3.9 Nguyên tắc cân bằng
Đây là nguyên tắc cho mọi lĩnh vực khoa học cũng như cho mọi chức năng
của nhà quản lý. Việc vận dụng các nguyên tắc hay biện pháp phải cân đối, căn
cứ vào toàn bộ kết quả của cơ cấu trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức.
Chẳng hạn, tính phi hiệu do tầm quản lý quá rộng phải đối trọng với tính phi
hiệu quả của các kênh thông tin quá dài. Những thiệt hại do có quá nhiều nguồn
15
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
mệnh lệnh phải đối trọng với những lợi ích của việc sử dụng các chuyên và tính
thống nhất trong việc giao quyền hạn chức năng cho các bộ phận tham mưu và
phục vụ. Việc hạn chế chuyên môn hoá theo chức năng trong khi phân chia bộ
phận phải đối trọng với những ưu điểm của việc lập ra các bộ phận chịu trách

5.1.1 Chuyên môn hoá chiều dọc
Đối với các tổ chức lớn, người ta tách biệt rõ ràng về khía cạnh quyền hạn
và nhiệm vụ của các cấp bậc từ trên xuống dưới. Việc tách biệt này chính là
chuyên môn hoá chiều dọc. Hơn thế nữa phân khoa lao động có thứ bậc là để
phân bổ quyền hạn chính thức và thiết lập bộ phận để ra các quyết định quan
trọng.
Sự phân bổ quyền hạn chính thức là căn cứ để xác định trách nhiệm đặc
trưng cho các nhà quản lý. Những nhà quản lý chóp bu hoặc các chuyên viên
điều hành cấp cao lập kế hoạch chiến lược tổng thể cho tổ chức và lên kế hoạch
dài hạn. Họ cũng là người đưa ra quyết định cuối cùng cho các tranh chấp bên
trong tổ chức và cố gắng súc tiến, cải tiến tổ chức và làm các công việc khác
tương tự. Các nhà quản lý cấp trung gian hướng dẫn hoạt động hàng ngày của tổ
chức, hình thành chính sách và cụ thể hoá các quyết định quản lý cấp cao thành
các công việc cụ thể. Các nhà quản lý cấp thấp giám sát hoạt động của nhân viên
cấp dưới để đảm bảo thực hiện chiến lược đã được đưa ra bởi bộ phận quản lý
chóp bu và bảo đảm sự ăn khớp với các chính sách của bộ phận quản lý trung
gian.
Trong hệ thống quản lý, các cá nhân tuân theo các chỉ dẫn của người giám
sát trên lĩnh vực trách nhiệm đã được vạch rõ trong sơ đồ tổ chức. Lý thuyết
quản lý truyền thống cho rằng mỗi cá nhân chỉ có một thủ trưởng, mỗi đơn vị có
một người lãnh đạo. Đây là tính trực tuyến của cơ cấu, điều này có nghĩa là
thống nhất mệnh lệnh. Thống nhất mệnh lệnh là cần thiết để tránh sự rối loạn, để
17
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
gắn trách nhiệm với những người cụ thể, và để cung cấp những kênh thông tin rõ
ràng trong tổ chức. Nếu không như vậy, khi có sự cố xảy ra, các nhà quản lý sẽ
cố gắng trốn tránh trách nhiệm và đổ lỗi cho người khác.
Số lượng các cá nhân mà một nhà quản lý có thể giám sát trực tiếp rõ ràng
là có giới hạn. Do vậy, chuyên môn hoá chiều dọc cần phải lưu ý khía cạnh này.
Các tổ chức có xu hướng mở rộng quy mô kiểm soát, đơn giản vì họ muốn giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status