Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
1 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh ngoại tệ tại
Sở giao dịch I Ngân hàng ĐT& PT
VN.” Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
2
3.2. Các giao dịch trên thị trường ngoại hối. 17
3.2.1.Giao dịch ngoại hối trao ngay( Sport). 17
3.2.2. Giao dịch ngoại hối kỳ hạn ( Forward Transaction) 18
3.2.3. Giao dịch tiền tệ tương lai ( Currency Futures) 19
3.2.4.Giao dịch hoán đổi ngoại hối (Swap) 19
3.2.5. Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Options) 20
Chương 2 21
1. Quá trình hình thành và phát triển. 21
2.Tình hình kinh doanh ngoại tệ của Sở giao dịch I 23
2.1. Các hoạt động chủ yếu liên quan đến ngoại tệ tại SGD I. 23
2.1.1. Hoạt động thanh toán quốc tế. 23
2.1.2 Hoạt động cho vay ngoại tệ. 23
2.1.3. Hoạt động mua bán ngoại tệ. 24
2.2. Cơ sở pháp lý. 24
2.3.Quy trình mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng. 25
2.3.1 Lập kế hoạch nhu cầu ngoại tệ và thông báo. 25
2.3.2. Giao dịch mua ngoại tệ. 26
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
4
2.3.3. Giao dịch bán ngoại tệ. 26
2.3.4. Mua bán ngoại tệ để cân đối nhu cầu ngoại tệ của khách hàng đảm
bảo trạng thái ngoại tệ. 27
2.3.5. Quy định niêm yết tỷ giá mua bán ngoại tệ tại Sở giao dịch I. 27
2.4.Nguồn mua ngoại tệ. 28
2.5. Nguồn bán ngoại tệ. 29
3. Thực trạng kinh doanh ngoại tệ của Sở giao dịch I 30
4. Đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoạitệ tại SGDI NHĐT&PTVN. 37
2.4.1. Hoạt động thanh toán quốc tế. 49
2.4.2. Hoạt động cho vay ngoại tệ. 49
2.5. Xây dựng chính sách khách hàng. 49
2.6. Đầu tư hiện đại hoá cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng . 51
2.7. Chính sách phát triển nguồn nhân lực. 51
2.7.1 Nâng cao trình độ quản lý. 52
2.7.2 Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về chuyên môn. 52
2.8. Thực hiện tốt một số nguyên tắc trong kinh doanh ngoại tệ. 53
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
6
3. Một số kiến nghị 54
3.1.Đối với Chính phủ. 54
3.1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh doanh ngoại tệ. 54
3.1.2. Cơ chế tỷ giá linh hoạt có sự điều chỉnh của Nhà nước. 55
3.1.3. Hình thành và vận hành tốt thị trường ngoại hối 56
3.1.4. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế 57
3.2. Đối với Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (NHĐT&PTVN) 58
3.2.1 Về quy trình mua bán ngoại tệ giữa Hội sở chính và chi nhánh. 58
3.2.2 Triển khai kịp thời, hướng dẫn cụ thể các văn bản của Chính phủ,
của ngành về quản lý ngoại hối và kinh doanh ngoại tệ. 58
3.2.3 Thực hiện kiểm tra, kiểm sát và nâng cao trình độ nghiệp vụ. 59
Kết luận 60
Tài liệu tham khảo. 61
Danh mục các chữ viết tắt 64
to lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức gay gắt từ các đối thủ
nước ngoài. Về lĩnh vực ngân hàng, khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức
Thương mại quốc tế (WTO), thị trường tài chính được mở cửa, ngân hàng nước
ngoài được hoạt động bình đẳng với các tổ chức trong nước thì tiềm năng về
vốn, kinh nghiệm, công nghệ, đặc biệt là chất lượng và chủng loại về các dịch
vụ ngân hàng hiện đại là những lợi thế vượt trội của ngân hàng nước ngoài so
với các ngân hàng trong nước. Nhằm rút ngắn khoảng cách, tiến tới hội nhập với
thế giới, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đẫ từng bước đổi mới, mở rộng và nâng
cao chất lượng cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là phát triển các nghiệp
vụ hiện đại như thẻ tín dụng, kinh doanh ngoại hối, hoán đổi lãi suất.
Về kinh doanh ngoại hối, từ chỗ nhà nước độc quyền về ngoại thương và
ngoại hối, chúng ta đã hình thành và phát triển một thị trường ngoại hối tương
đối toàn diện, trong đó lấy thị trường ngoại tệ liên ngân hàng làm trung tâm,
từng bước hoàn thiện và mở rộng kinh doanh ngoại tệ. Hoạt động kinh doanh
ngoại tệ sẽ góp phần giúp các NHTM bắt kịp với tốc độ phát triển của nền kinh
tế thế giới, thu hút khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh và bổ sung thu nhập cho
ngân hàng.
Nắm rõ tầm quan trọng và tiềm năng về kinh doanh ngoại tệ, Sở giao dịch
Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam đã dần mở rộng và phát triển trong lĩnh vực kinh
doanh này. Song hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng chỉ tiến hành một
cách đơn giản, các loại hình giao dịch chưa phong phú.
Trước tính cấp thiết của hoạt động kinh doanh ngoại tệ, sau quá trình học
tập nghiên cứu thực tế, em đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh ngoại tệ tại Sở giao dịch I Ngân hàng ĐT& PT VN.
Trong quá trình nghiên cứu, em đã sử dụng phương pháp phân tích, kết
hợp với những số liệu và tình hình thực tế tại Sở giao dịch I NHĐT&PTVN để
góp ý kiến và đưa ra một số giải pháp nhằm đem lại hiệu quả cho hoạt động kinh
doanh ngoại tệ tại Ngân hàng.
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
nhà nhập khẩu Mỹ phải mua các ngoại tệ thích hợp và bán nội tệ.
Giống như thương mại quốc tế, các hoạt động về du lịch quốc tế, đầu tư,
tín dụng và các quan hệ tài chính quốc tế khác làm phát sinh nhu cầu mua bán
các đồng tiền khác nhau trên thị trường. Hoạt động mua bán các đồng tiền khác
nhau được diễn ra trên thị trường và thị trường này gọi là thị trường ngoại hối
(The Foreign Exchage Market- FOREX). Một cách tổng quát: “ bất cứ ở đâu
diễn ra việc mua bán các đồng tiền khác nhau thì ở đó gọi là thị trường ngoại
hối”
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
9
Thị trường ngoại hối là nơi chuyên môn hoá giao dịch về ngoại tệ thông
qua nghiệp vụ mua bán các loại ngoại tệ và chứng từ ngoại tệ nhằm thoả mãn
các nhu cầu của các cá nhân, tổ chức kinh tế.
1.2.Đặc điểm của thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu
hình nhất định, mà là ở bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác
nhau.
Đây là thị trường toàn cầu, bởi lẽ: Thời lượng giao dịch 24/24 giờ (trừ
những ngày nghỉ) và hầu khắp mọi nơi đều diễn ra việc mua bán chuyển đổi các
đồng tiền khác nhau.
Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng
(Interbank) với các thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà môi giới, và các
NHTW. Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm 85% tổng doanh số giao dịch
ngoại hối toàn cầu.
Các nhóm thành viên tham gia thị trường duy trì mối quan hệ với nhau
thông qua điện thoại, telex, fax, mạng vi tính
Do thị trường có tính chất toàn cầu và hoạt động hiệu quả nên các tỷ giá
Ngân hàng và các vấn đề khó khăn trong thanh toán đối với một số đồng tiền đẫ
trở thành những trở ngại đáng kể cho sự phát triển của thị trường ngoại hối.
Giữa những năm 1930 các điều kiện hoạt động dần trở lại bình thường. London
đã trở thành trung tâm giao dịch lớn nhất trong thời kỳ giữa hai cuộc Đại chiến
Thế giới. Bên cạnh đó, những trung tâm khác như: Paris, Zurich, Amsterdam,
New York cũng mạnh mẽ.
Sự tham gia của Chính phủ trên thị trường ngoại hối ngày càng rõ rệt vào
các năm 1930 và càng trở nên thường xuyên hơn sau Đại chiến Thế giới lần thứ
hai và được duy trì cho đến ngày nay.Thời gian sau Đại chiến Thế giới lần thứ
hai được đánh dấu bằng sự ổn định của thị trường và sự kiểm soát chặt chẽ giá
trị đồng tiền, tỷ giá của hầu hết các đồng tiền được neo cố định và chỉ được dao
động trong một biên độ nhỏ.
Thoả thuận Bretton Woods vào năm 1944 đẫ mang lại sự ổn định như
mong muốn và một trật tự mới trên thị trường ngoại hối dần hình thành. Tỷ giá
các đồng tiền chính đều được neo cố định với USD và giá trị của USD được neo
cố định với vàng với tỷ lệ : 35 USD = 1 ounce.
Hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ vào năm 1971, nguyên nhân chính là do
tồn tại mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán giữa các quốc gia và
càng ngày người nước ngoài nắm giữ USD càng nhiều. Sự nỗ lực nhằm hồi phục
hệ thống này vào năm 1973 không thành đã mở đầu cho thời kỳ chế độ thả nổi
và được duy trì cho đến nay.
Trong những năm 1970, 1980 và đầu những năm 1990 chúng ta đã chứng
kiến sự biến động không ngừng của thị trường ngoại hối và thị trường trở nên
không dự đoán được. Một trong những lý do chính khiến thị trường ngại hối
biến động mạnh là do sự gia tăng đáng kể của các thành viên tham gia thị trường
nhằm mục đích kiếm các cơ hội sinh lời khi tỷ giá biến động, đồng thời các
nguồn lực về kỹ thuật và công nghệ sẵn có của các nhà kinh doanh, các nhà
quản trị tài chính và các công ty bảo hiểm đã được cải tiến một cách cơ bản.
1.4.Chức năng của thị trường ngoại hối
Các NHTM giữ vị trí trung tâm trong các hoạt động thị trường ngoại hối
với tư cách là trung gian cho khách hàng của mình, những người giao dịch trên
thị trường này hoặc một số giao dịch cho bản thân ngân hàng trong trường hợp
trạng thái ngoại hối không có lợi. Các NHTM giao dịch ngoại hối nhằm:
- Cung cấp dịch vụ cho khách hàng mà chủ yếu là mua bán hộ cho nhóm
khách hàng mua bán lẻ.
- Giao dịch kinh doanh cho chính mình, tức mua bán ngoại hối nhằm
kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi.
Trong trường hợp mua bán hộ khách hàng, NHTM chỉ là người mua hộ và
bán hộ cho nên không chịu rủi ro ngoại hối và những hoạt động mua bán hộ
không làm thay đổi cơ cấu bảng tổng kết tài sản của ngân hàng. Thông qua cung
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
12
cấp dịch vụ, NHTM thu một khoản phí. Trong trường hợp NHTM giao dịch
ngoại hối cho chính mình nhằm kiếm lãi, NHTM phải chịu rủi ro khi tỷ giá thay
đổi theo hương không có lợi.
Bên cạnh các nghiệp vụ ngoại hối phục vụ hoạt động thanh toán của
khách hàng, hầu hết các NHTM còn thực hiện các hoạt động ngoại tệ liên hàng.
Tức là các Ngân hàng trực tiếp mua bán với nhau bằng tài khoản riêng của ngân
hàng.
1.5.3. Các nhà môi giới ngoại hối.
Những năm đầu thập kỷ 60, hoạt động trung gian của những nhà môi giới
chỉ là những trường hợp ngoại lệ. Còn hiện nay, tại các nước đang phát triển,
hoạt động này được các thành viên tham dự đánh giá là chiếm tới 50% tổng
doanh số thương mại ngoại hối. Nguyên nhân của sự phát triển mạnh mẽ này là
do sự dao động tỷ giá lớn từ những năm đầu thập kỷ 70 và đặc biệt từ thời kỳ
chuyển sang cơ chế thả nổi về tỷ giá vào năm 1973 cũng như sự phát triển mạnh
mẽ của thị trường ngoại hối.
Nhìn chung, các NHTW không thờ ơ trước sự biến động của tỷ giá đối
với đồng tiền mà mình phát hành. Mặc dù hầu hết các đồng tiền của các nước
phát triển được thả nổi từ năm 1973 nhưng trên thực tế, các NHTW vẫn can
thiệp bằng cách mua vào hay bán ra ngoại tệ trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh
hưởng lên tỷ giá theo hướng mà NHTW cho là có lợi nhất cho nền kinh tế.
2.Hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM
2.1.Vai trò của NHTM
Ngân hàng Thương mại ngay từ khi mới ra đời và trải qua các giai đoạn
phát triển của mình đã ngày càng khẳng định vị trí là một tổ chức trung gian tài
chính quan trọng bậc nhất, là thành viên chủ yếu tham gia vào hoạt động của thị
trường tiền tệ và thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế.
Với tư cách là một tổ chức tín dụng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, làm phương tiện thanh toán,
thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và các loại hình nghiệp vụ khác. NHTM có một
vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là với một nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước đang rất cần vốn để phục vụ cho nhu cầu
phát triển như Việt Nam hiện nay, NHTM không chỉ thực hiện vai trò trung gian
cung ứng vốn mà còn thực hiện nhiều loại hình dịch vụ để đáp ứng cho nhu cầu
phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, kinh doanh ngoại tệ cũng là một trong
những nghiệp vụ quan trọng giúp NHTM thực hiện tốt vai trò của mình.
2.2.Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của NHTM.
Kinh doanh ngoại hối, theo nghĩa hẹp chỉ đơn thuần là việc mua bán các
đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Theo nghĩa rộng, kinh doanh ngoại hối
bao gồm việc mua bán ngoại tệ, các chứng từ có mua bán ngoại tệ đảm bảo số
dư tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền
kinh tế và tìm cách thu lời thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất các đồng tiền
phòng, thêm vào đó là đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên sâu.
NHTM giữ vị trí trung tâm trong các hoạt động thanh toán quốc tế mà các
hoạt động kinh doanh ngoại tệ luôn có mối quan hệ gắn bó với các nghiệp vụ
này bởi cùng xuất phát từ sự ra đời và phát triển của thương mại quốc tế. Bởi thế
việc tiến hành kinh doanh ngoại tệ tại NHTM một mặt bổ trợ cho hoạt động
thương mại quốc tế, mặt khác nhờ đó mà phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại
hối của ngân hàng.
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
15
Hệ thống ngân hàng được hoạt động trên phạm vi quốc tế và mối quan hệ
này ngày càng được mở rộng, cũng như hoạt động kinh doanh ngoại tệ luôn
được tiến hành trên thị trường quốc tế.
Những lợi thế này giúp Ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động kinh
doanh ngoại tệ thường xuyên, liên tục và chính xác như đòi hỏi đặt ra của thị
trường ngoại hối mà không một tổ chức nào có thể sánh được.
3.Tỷ giá và các giao dịch ngoại hối.
3.1. Tỷ giá.
3.1.1.Khái niệm tỷ giá.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình.
Thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải
thanh toán với nhau. Thanh toán giứa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các
đồng tiền khác nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia. Hai đồng tiền được
trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này được gọi là tỷ giá. Vậy tỷ
giá chính là tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền với nhau, hay nói cách khác tỷ giá
là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác.
VD : 1USD = 15.885VND
d/ Tỷ giá mở cửa và tỷ giá đóng cửa
Tỷ giá mở cửa là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng đầu tiên giao dịch trong
ngày. Tỷ giá đóng cửa là tỷ giá áp dụng cho giao dịch cuối ngày làm việc. Tỷ
giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày.
Cần chú ý là tỷ giá đóng cửa ngày hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở
cửa ngày hôm sau.
e/ Tỷ giá chính thức (Official Exchange Rate):
Là tỷ giá được xác định trên cơ sở quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị
trường và được NHTW công bố hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại
chúng.
f/ Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi:
Tỷ giá cố định là tỷ giá do NHTW công bố cố định không thay đổi. Tỷ giá
thả nổi là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại
hối, NHTW không bắt buộc phải can thiệp.
g/ Tỷ giá chợ đen:
Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung
cầu trên thị trường quyết định.
3.1.3.Các phương pháp yết giá
Khác với yết giá hàng hoá thông thường, yết một tỷ giá bao giờ cũng có
hai đồng tiền tham gia, trong đó: một đồng tiền đóng vai trò là đồng yết giá, còn
đồng tiền kia đóng vai trò là đồng tiền định giá.
VD: 1USD = 139,32JPY
Trong đó:
- USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá và là 1 đơn vị
- JPY đóng vai trò là đồng tiền định giá và là một số đơn vị tiền tệ nhất
định. Số đơn vị tiền tệ này thay đổi theo quan hệ cung cầu giữa USD và JPY
trên thị trường ngoại hối.
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
là khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được.
Thị trường trao ngay được biết đến như là thị trường rất sôi động, giao
dịch với khối lượng tiền cực lớn và với tốc độ giao dịch nhanh như tia chớp
nhằm tận dụng cơ hội chênh lệch tỷ giá dù là cực nhỏ.
Quy trình giao dịch giao ngay của NHTM đối với khách hàng:
- Nếu khách hàng mua ngoại tệ bằng đồng nội tệ, NH phải căn cứ vào tỷ
giá trao ngay tại thời điểm giao dịch để phục vụ.
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
18
- Nếu khách hàng cùng một lúc vừa có nhu cầu mua ngoại tệ này đồng
thời lại có nhu cầu mua ngoại tệ khác thì NH sẽ căn cứ vào tỷ giá của hai đồng
ngoại tệ để thực hiện tính toán sao cho có lợi nhất cho khách hàng.
3.2.2. Giao dịch ngoại hối kỳ hạn ( Forward Transaction)
Giao dịch ngoại hối kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua
bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh
toán sẽ được thực hiện trong tương lai.
Tỷ giá trong giao dịch kỳ hạn gọi là tỷ giá kỳ hạn. Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá
được thoả thuận ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một
ngày xác định xa hơn ngày giá trị trao ngay.
Ta có thể so sánh:
- Với mức lãi suất 2.5% năm, thì 100 USD ngày hôm nay sẽ có giá trị sau
một năm là 110 USD. Do đó ta có thể viết:
102.5 USD = 100 USD + 2.5 USD
Tức điểm gia tăng của tiền là 2.5 USD hay 2.5%
- Tương tự, nếu giá trao ngay của 1USD là 15.150 VND và giao kỳ hạn 1
năm là 16.200 VND, ta có thể viết:
16.200 VND = 15.150 VND + 1.050 VND
Ngày thanh toán được ấn định vào các ngày cụ thể của tháng. Số lượng giao
dịch cho mỗi hợp đồng được quy định cho mỗi đồng tiền. Nếu khối lượng giao
dịch nhiều thì phải ký nhiều hợp đồng và tổng khối lượng giao dịch chỉ có thể là
bội số của khối lượng quy định cho mỗi hợp đồng.
Tỷ giá giao dịch Futures thường cao hơn tỷ giá trong các giao dịch kỳ hạn
do chi phí cao hơn.
Sau khi ký hợp đồng, người mua phải ký quỹ một khoản tiền theo quy
định cho mỗi hợp đồng nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng. Trong giao dịch kỳ
hạn thường không có yêu cầu về tiền bảo đảm.
Trong giao dịch kỳ hạn, hợp đồng mua bán được kết thúc bằng việc giao
nhận thật vào ngày thoả thuận trước. Còn trong giao dịch Futures, khách hàng có
thể kết thúc hợp đồng bất kỳ lúc nào bằng cách ký một hợp đồng mua (nếu hợp
đồng trước là hợp đồng bán) hoặc hợp đồng bán (nếu hợp đồng trước là hợp
đồng mua) với cùng số tiền và cùng ngày thanh toán.
3.2.4.Giao dịch hoán đổi ngoại hối (Swap)
Giao dịch hoán đổi ngoại hối là việc đồng thời mua vào và bán ra một
đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác
nhau.
Một hợp đồng hoán đổi có các đặc điểm sau:
- Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng
thời tại ngày hôm nay
- Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này (đồng tiền yết giá) là bằng
nhau trong cả hai vế (vế mua và vế bán) của hợp đồng hoán đổi.
- Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và ngày giá trị của hợp đồng bán ra
là khác nhau.
Trong giao dịch ngoại hối giao ngay hoặc có kỳ hạn, một ngân hàng mới
chỉ hoạt động một chiều để phục vụ khách hàng của mình, nghĩa là ngân hàng
tiến hành mua hoặc bán ngoại hối với một đối tượng khách hàng tại thời điểm
Chuyên đề thực tâp
quyền chọn sẽ được hưởng khoản chi phí mua quyền. Còn nếu tỷ giá trên thị
trường cao hơn tỷ giá trên hợp đồng thì người mua sẽ thực hiện quyền mua
ngoại tệ của mình và người bán quyền có nghĩa vụ cung cấp đủ số lượng ngoại
tệ đã ghi trong hợp đồng. Hợp đồng này làm cho rủi ro tỷ giá được san sẻ cho cả
hai bên mua và bán quyền.
b) Quyền chọn bán
Là hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền (nhưng không
bắt buộc) được bán một số lương ngoại tệ nhất định. Hợp đồng này cũng có
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
21
nguyên lý như hợp đồng quyền mua. Người mua sẽ thực hiện quyền của mình
khi tỷ giá trên thị trường thấp hơn tỷ giá trong hợp đồng và không thực hiện hợp
đồng trong trường hợp còn lại.
Nghiệp vụ Option là nghiệp vụ rất phổ biến và hữu dụng trên thị trường
ngoại hối thế giới. Đây là công cụ phòng ngừa rủi ro và đầu cơ kiếm lời được ưa
chuộng, là sự tổng hợp của nhiều nghiệp vụ nên khắc phục được nhiều nhược
điểm của các công cụ khác. Tuy nhiên, để có thể sử dụng có hiệu quả công cụ
này đòi hỏi thị trường phải phát triển hoàn chỉnh, các chủ thể tham gia phải có
khả năng và điều kiện để phân tích dự đoán sự biến động của thị trường.
nhánh với trên 200 cán bộ công nhân viên. Đến nay, một mô hình Tổng công ty
đã được hình thành theo 4 khối: NHTM Nhà nước với 67 chi nhánh trực thuộc
tại tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước, 3 công ty độc lập (Công ty chứng
khoán, Công ty cho thuê tài chính và Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản), 3
đơn vị liên doanh (Ngân hàng liên doanh VID - Public, Ngân hàng liên doanh
Lào- Việt, Công ty liên doanh bảo hiểm Việt- úc) và 2 đơn vị sự nghiệp (Trung
tâm công nghệ thông tin và Trung tâm đào tạo). Cùng với sự phát triển về hệ
thống, số CBCNV đã lên tới 6.750 người, trong đó 75% có trình độ đại học và
trên đại học.
Sự lớn mạnh về quy mô hoạt động dược phản ánh không chỉ ở các chỉ tiêu
tổng tài sản, dư nợ tín dụng, vốn huy động,mà còn thể hiện ở sự gia tăng, đa
dạng hoá các sản phẩm dịch vụ mới của ngân hàng. Đến nay, NHĐT & PT đã
thực sự hoạt động như một NHTM, tăng trưởng vượt bậc về quy mô hoạt động.
Trong giai đoạn từ 1990 đến 2004, tổng tài sản tăng 22 lần.
Trong 2 năm xây dựng và triển khai Đề án cơ cấu lại Ngân hàng được
Chính phủ phê duyệt (2001- 2002), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đã hoàn
thành kế hoạch kinh doanh, tăng trưởng 25%/ năm, tổng tài sản đạt 71.000 tỷ
VND.
Ngân hàng đã hoàn thành tách bạch tín dụng chỉ định, giảm tỷ trọng tín
dụng chỉ định, tín dụng trung dài hạn, từng bước lành mạnh hoá tài chính. Ngân
hàng được cấp bổ sung vốn điều lệ lên 3.650 tỷ VND năm 2003 và 4.570 tỷ năm
2004.
Sở giao dịch I là đơn vị thành viên lớn nhất trong hệ thống Ngân hàng
ĐT&PT. Sở giao dịch được thành lập theo quyết định số 76/QĐ- TCCB ngày
28/03/1991 của Tổng Giám đốc NHĐT & PT Việt Nam, là đơn vị trực thuộc và
là đại diện pháp nhân của NHĐT & PT Việt Nam, thực hiện hạch toán nội bộ, có
con dấu riêng và trực tiếp giao dịch với khách hàng.
Sở giao dịch được thành lập trên cơ sở ý tưởng là một đơn vị kinh doanh
trực tiếp thuộc Hội sở chính, tương tự như mô hình kinh doanh của ngân hàng
các nước với nhiệm vụ chính là cấp phát vốn và cho vay đầu tư, chuẩn bị đầu tư
lượng khách hàng có hoạt động xuất nhập khẩu đến với ngân hàng mình càng
nhiều. Khi đó sẽ tạo điều kiện để hoạt động kinh doanh ngoại tệ phát triển.
Do đó, trong lĩnh vực liên quan đến thanh toán quốc tế thì việc mua bán
ngoại tệ và hoạt động thanh toán quốc tế có liên quan trực tiếp, tác động lẫn
nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
2.1.2 Hoạt động cho vay ngoại tệ
.
Nếu hoạt động kinh doanh ngoại tệ có hiệu quả, ngân hàng sẽ có trạng
thái ngoại tệ dư thừa. Lúc này ngân hàng sẽ tiến hành cho vay ngoại tệ. Hoạt
động cho vay ngoại tệ sẽ giúp cho khách hàng có số ngoại tệ đáp ứng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Hiện nay, Sở giao dịch tiến hành cho vay ngoại tệ với tất cả các loại
khách hàng có nhu cầu ngoại tệ phục vụ cho hoạt động kinh doanh theo quy
định của pháp luật. Đặc biệt, Sở giao dịch I tiến hành cho vay ngoại tệ với khách
hàng là các công ty, tổng công ty lớn có hoạt động xuất nhập khẩu. Ngoài ra, Sở
Chuyên đề thực tâp
Lê Thị Minh Huyền
24
giao dịch I tiến hành cho vay ngoại tệ khi các doanh nghiệp cần trong hoạt động
đầu tư xây dựng.
2.1.3. Hoạt động mua bán ngoại tệ.
Hoạt động mua bán ngoại tệ do phòng kế hoạch nguồn vốn phụ trách, bộ
phận mua bán ngoại tệ hàng ngày giao dịch mua bán ngoại tệ với khách hàng để
đảm bảo trạng thái ngoại tệ và có đủ số ngoại tệ đáp ứng nhu cầu phục vụ khách
hàng. Hoạt động mua bán ngoại tệ ngoài việc kinh doanh phục vụ khách hàng
còn kinh doanh kiếm lợi do chênh lệch tỷ giá. Ngoài ra, hoạt động mua bán
ngoại tệ còn cung cấp cho phòng tín dụng có đủ số ngoại tệ phục vụ nhu cầu vay
của khách hàng, đảm bảo cho hoạt động thanh toán quốc tế hoạt động có hiệu
quả hơn.
25
bằng ngoại tệ, trường hợp khách hàng đề nghị vay bằng VND mua ngoại tệ để
thanh toán phải được sự đồng ý của tổng giám đốc NHĐT&PTVN.
Hoạt động mua bán ngoại tệ của Sở giao dịch I phải tuân theo các quy định
về dự trữ ngoại tệ, tỷ giá cũng như đảm bảo trạng thái ngoại tệ cuối mỗi ngày
làm việc. Hàng ngày nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ phải
xem xét tình hình diễn biến của thị trường về tỷ giá, nhu cầu ngoại tệ của khách
hàng để thực hiện kinh doanh có hiệu quả.
- Tỷ giá mua bán ngoại tệ giữa NHĐT&PTVN với các chi nhánh thực hiện
theo nguyên tắc: Tỷ giá mua bán nằm trong giới hạn quy định của Nhà nước, tỷ
giá phù hợp theo giá cả thị trường và theo nguyên tắc thoả thuận đảm bảo quyền
lợi giữa người mua và người bán.
Dựa trên những cơ sở pháp lý trên Sở giao dịch đã đưa ra quy trình giao
dịch mua bán ngoại tệ.
2.3.Quy trình mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng.
2.3.1 Lập kế hoạch nhu cầu ngoại tệ và thông báo.
Hàng tháng, phòng tín dụng, bộ phận thanh toán quốc tế và các phòng
nghiệp vụ có phát sinh nhu cầu mua bán ngoại tệ lập nhu cầu mua bán ngoại tệ
trong thanh toán gửi bộ phận mua bán ngoại tệ, phòng kế toán lập giấy đề nghị
mua ngoại tệ trong tháng gửi bộ phận mua bán ngoại tệ thuộc phòng kế hoạch
nguồn vốn.
Sau khi đã tổng hợp nhu cầu mua bán ngoại tệ của các phòng thì bộ phận
mua bán ngoại tệ sẽ thực hiện:
- Căn cứ vào khả năng cân đối ngoại tệ, số dư ngoại tệ, tình hình thị trường
liên ngân hàng, khả năng mua được ngoại tệ của khách hàng ( của khách hàng,
NHĐT&PTTW và các tổ chức tín dụng khác ), từ đó có chính sách khách hàng
và lập cân đối ngoại tệ hàng tháng, trình lãnh đạo Sở giao dịch phê duyệt.
- Hàng ngày, căn cứ trạng thái ngoại tệ hiện có, lập kế hoạch mua vào hoặc