ĐỀ TÀI
Đánh giá kết quả của một số chương
trình đào tạo, tập huấn nông dân của
trạm khuyến nông huyện Phú Bình -
Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2011
1
MỤC LỤC
Hình 2.1. Sơ đồ các bước thực hiện đánh giá nhu cầu đào tạo 14
Hình 2.1. Sơ đồ các bước thực hiện đánh giá nhu cầu đào tạo 11 76
2
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam một nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời,
với tỷ lệ dân số sống ở nông thôn chiếm trên 70% [15]. Quá trình
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, sản xuất nông nghiệp luôn
giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Tuy nhiên nông nghiệp của
nước ta còn gặp nhiều khó khăn, năng suất và sản lượng cây
trồng vẫn còn thấp do người dân thiếu kiến thức về KHKT. Kể từ
khi Nghị Quyết X của Bộ chính trị ngày 05/ 04/ 1988 ra đời, nông
nghiệp của Việt nam đã có những bước tăng trưởng khá mạnh,
người dân có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất và kinh
doanh. Cùng với việc áp dụng những tiến bộ KHKT vào sản xuất
nông nghiệp, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay cho thấy người
nông dân của nước ta còn nhiều điểm hạn chế: thiếu kiến thức,
thiếu kỹ năng xử lý những rủi ro trong quá trình sản xuất. Vì vậy
việc chuyển giao KT đến cho người dân là rất cần thiết.
Thấy được những vấn đề đó ngày 02/03/1993 Chính phủ đã ban
hành Nghị định 13CP về CTKN, bắt đầu hình thành hệ thống
Khuyến nông - khuyến ngư từ Trung ương đến địa phương. Sau
khi thực hiện đường lối đổi mới nền nông nghiệp nước ta đã đạt
cầu của các học viên và giảm được chi phí đào tạo thì các chương
trình đào tao, tập huấn khuyến nông cần phải được nghiên cứu và
đánh giá.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"
Đánh giá kết quả của một số chương trình đào tạo, tập huấn
nông dân của trạm khuyến nông huyện Phú Bình - Thái
Nguyên giai đoạn 2009 - 2011
", với mục đích có cái nhìn tổng
thể về thực trạng công tác đào tạo, tập huấn khuyến nông cũng
như các kết quả đạt được sau mỗi một khóa đào tạo, tập huấn
cho nông dân trên địa bàn huyện Phú Bình, từ đó đề xuất những
giải pháp nhằm nâng cao công tác đào tạo, tập huấn trong giai
đoạn mới.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được kết quả hoạt động khuyến nông trong công tác đào
tạo, tập huấn khuyến nông cho người dân tại huyện, từ đó đề xuất
4
một số giải pháp nhằm nâng cao công tác đào tạo, tập huấn trong
giai đoạn mới.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo, tập huấn khuyến nông
cho người dân trên địa bàn huyện Phú Bình - Thái Nguyên.
- Đánh giá kết quả một số chương trình đào tạo, tập huấn khuyến
nông trên địa bàn huyện Phú Bình - Thái Nguyên trên các khía
cạnh: khả năng tiếp thu và mức độ áp dụng của người dân, nội
dung và phương pháp tập huấn, tác động của tập huấn đến người
nông dân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào
tạo, tập huấn trong giai đoạn mới.
người lớn được xác định dựa trên sự thừa nhận người lớn tuổi
muốn học, họ có thể kiểm soát được việc đến học hay không. Khi
họ nhận thấy buổi học mang lại lợi ích cho họ, họ có thể quyết
định tiếp túc hay thôi học. Một CBKN giỏi là phải biết xác định nhu
cầu của học viên, hiểu được tâm lý của người lớn tuổi từ đó xây
dựng bài giảng và có những PPKN phù hợp.
Phương pháp đào tạo truyền thống là lấy người thầy làm trung
tâm và coi học viên là cái “thùng rỗng” được giáo viên đổ đầy kiến
thức vào đó. Và học tập là một quá trình một chiều, thụ
động Hiện nay công tác đào tạo, giáo dục đã coi học viên là nhân
vật trung tâm, quá trình học tập dựa trên kinh nghiệm sẵn có của
học viên, từ đó nâng cao kiến thức của học viên và khuyến khích
học viên khám phá những ý tưởng mới, những kiến thức mới.
Trong công tác giảng dạy cho người lớn hoặc CTKN thì điều này
càng phải được coi trọng và phải luôn luôn lấy học viên (nông
dân) làm trung tâm còn tập huấn viên (CBKN) là người thúc đẩy,
người hỗ trợ, khuyến khích họ tham gia giải quyết vấn đề và chia
sẻ kinh nghiệm trong quá trình học tập bằng cách mời họ đưa ra
những ý kiến của mình, mời họ tham ra vào một trò chơi, đặt các
câu hỏi để nâng cao khả năng động não của học viên. Hiệu quả
học tập sẽ cao hơn nếu như nội dung bài giảng phong phú, phù
hợp với nhu cầu của học viên [6].
2.1.1.2. Đặc điểm học tập của người lớn
Người lớn (nông dân) có những đặc điểm sau:
6
Người lớn có rất nhiều kinh nghiệm sống: họ là những người trực
tiếp lao động, các công việc hằng ngày của họ là làm ruộng, chăn
nuôi Trong quá trình lao động đó họ tự giải quyết các vấn đề mà
họ gặp trong thực tế cuộc sống từ đó đúc rút thành những kinh
nghiệm sản xuất. Nếu CBKN biết khai thác các thông tin, học hỏi
thì họ sẽ nhiệt tình tham gia.
Những học viên là người lớn có cơ hội áp dụng ngay những kiến
thức mà họ vừa học được vào công việc, vào thực tiễn cuộc sống.
Trong quá trình học nông dân thường chọn lọc những thông tin
mà họ thấy cần thiết. Rõ ràng ta thấy nhu cầu đi tập huấn xuất
phát từ bản thân học viên, họ tham gia tự nguyện và chúng ta
không thể nào bắt ai đi tập huấn nếu họ thấy không có ích cho
bản thân và gia đình. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với
tập huấn viên khi tập huấn cho đối tượng học viên là người lớn.
Tập huấn viên sẽ phải dựa vào động cơ học tập học tập của học
viên để thiết kế nội dung bài giảng sao cho phù hợp nhất.
Như vậy động cơ học tập của người lớn xuất phát từ chính bản
thân học viên. Nông dân học tập để làm việc, do vậy nếu tập huấn
đáp ứng được những nhu cầu của đó, đúng như người dân mong
đợi thì họ sẽ tham gia một cách nhiệt tình. Khi tổ chức khóa tập
huấn, CBKN cần tìm hiểu động cơ học tập của học viên thông qua
việc đánh giá nhu cầu để biết được học viên mong muốn điều gì
khi tham gia lớp tập huấn đó [6].
2.1.2. Khuyến nông và giáo dục
Khuyến nông là một công việc có tính chất giáo dục. Nông dân rất
cần những tiến bộ KHKT để áp dụng vào sản xuất, nhằm nâng cao
NS cây trồng vật nuôi. Giáo dục trong KN là quá trình giáo dục
không chính thức mà đối tượng là người nông dân. Muốn làm tốt
nhiệm vụ của mình người CBKN cần thường xuyên bổ sung những
kiến thức mới. Và phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:
* Người thầy của nông dân cũng là học trò của nông dân
Giáo dục trong KN không chỉ đơn thuần là việc nhồi nhét kiến thức
vào “cái thùng rỗng không”. Bản thân người nông dân cũng hiểu
biết khá nhiều về môi trường và những phương thức canh tác của
họ. Vì vậy ngoài việc chuyển giao KHKT, người CBKN phải biết học
Trước khi nông dân quyết định áp dụng một cái gì đó, thí dụ trồng
một loại cây ăn quả mới, họ phải được “sờ tận tay, day tận mắt”,
“ trăm nghe không bằng một thấy” là một câu châm ngôn bao
giờ cũng đúng. Quá trình từ nhận thức đến áp dụng của nông
dân có thể chia làm 5 giai đoạn như sau:
- Nhận thức: người nông dân nghe nói về một cách làm mới rất có
hiệu quả nhưng anh ta mới biết quá ít về nó (Thí dụ anh ta nghe
9
nói về một giống lúa lai mới có tên là Syn 6 mà các hộ ở làng bên
đã cấy).
- Quan tâm: càng ngày anh ta càng quan tâm hơn đến giống lúa
Syn 6 đó nên bắt đầu tìm kiếm thông tin về nó thông qua hàng
xóm láng giềng hoặc cán bộ khuyến nông.
- Đánh giá: anh ta tính toán xem liệu chân ruộng nhà mình có
thích hợp để cấy giống lúa đó không? Nếu cấy thì một sào phải
mua bao nhiêu kg giống? Khả năng thu được mấy tạ/sào? Chất
lượng giống lúa lai Syn 6 đó có hơn những giống lúa nhà anh ta
thường cấy không? Anh ta sẽ tìm hiểu xem thông tin về giống lúa
đó hoặc bàn với gia đình xem có nên cấy thử không?
- Làm thử: để cho chắc chắn anh ta sẽ cấy thử một sào. Anh ta có
thể nhờ hàng xóm những người đã từng cấy giống lúa này hoặc
CBKN tư vấn về cách chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
- Áp dụng: nếu mọi việc tốt đẹp, giống lúa đó cho NS cao, cơm
dẻo vụ sau anh ta sẽ dành toàn bộ ruộng nhà mình để cấy giống
lúa đó.
Quá trình trên cũng xảy ra tương tự với những nông dân khác
hoặc với cả cộng đồng. Tất nhiên với cộng đồng quá trình này sẽ
phức tạp và mất nhiều thời gian hơn. Người CBKN cần biết cách
tận dụng các giai đoạn của quá trình này để cung cấp thông tin
đầy đủ, đúng thời điểm (đặc biệt là thông tin về thị trường) cho
quyết định. Họ sớm quan tâm đến sáng kiến đó nhưng phải chắc
chắn thành công thì họ mới làm theo. Nhóm này thường bao gồm
những lãnh đạo ở địa phương và những nông dân làm ăn có tính
toán và được kính trọng trong cộng đồng.
- Nhóm nông dân còn lại
Nhóm này chiếm phần đông và thường áp dụng sáng kiến đó một
cách chậm chạp, miễn cưỡng. Có những người do thiếu những
nguồn lực cần thiết nhưng cũng có những người do không biết
cách làm ăn hoặc lười biếng. Có khi họ áp dụng sáng kiến chẳng
qua vì lãnh đạo địa phương thúc ép hoặc hàng xóm láng giềng, họ
hàng khuyên bảo chứ không phải do CBKN và các mô hình trình
diễn của anh ta [3].
2.1.3. Đánh giá đào tạo, tập huấn
2.1.3.1. Khái niệm
Đánh giá là xác định toàn bộ giá trị hoặc một phần đối với
một sự vật nào đó. Đánh giá CTKN là đưa ra những nhận xét về
giá trị các hoạt động KN (Chanoch Jacobsen, 1996) [11].
11
Đánh giá đào tạo tạo, tập huấn là việc phân tích kết quả
đạt được so với mục tiêu đào tạo và mục tiêu học tập đã đề ra.
Những thông tin cần thiết về chất lượng cũng như số lượng
được thu thập một cách hệ thống, để từ đó hoàn thiện chương
trình đào tạo với kết quả cao [6].
2.1.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá đào tạo, tập huấn
Thông thường đánh giá đào tạo, tập huấn là bước cuối cùng
trong chương trình thiết kế đào tạo, tập huấn. Tuy nhiên, chúng ta
nên lồng ghép việc đánh giá vào trong các chương trình đào tạo,
tập huấn nhằm nắm được chất lượng đào tạo, tập huấn khi nhận
được những phản hồi.
- Những mục tiêu đạt được của cả học viên và giảng viên.
công cụ có gía trị để biết về những người tham gia trước khi đào
tạo. Nó cho người cán bộ đào tạo biết trước những thông tin về
những chủ đề cần được thảo luận và làm thế nào để thực hiện nó
dựa vào những đặc điểm của người tham gia.
- Đánh giá nhu cầu đào tạo giúp giảng viên biết trước
những gì mà họ cần làm.
- Quyết định xem đào tạo có phải là một giải pháp tốt hay không.
- Xây dựng chiến lược đào tạo đáp ứng nhu cầu đào tạo.
- Đưa ra những chương trình đào tạo lấy học viên làm trung tâm,
chương trình này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và kiến thức
của học viên.
- Lựa chọn những biện pháp thích hợp cũng như các phương pháp
học phù hợp vơi đặc điểm của học viên.
Đánh giá nhu cầu đào tạo cũng đưa ra những dữ liệu hữu
ích giúp cho việc theo dõi chặt chẽ những thay đổi, tiến bộ của
mỗi học viên cũng như toàn bộ học viên trong và sau khoá học
Đánh giá nhu cầu đào tạo đó là đánh giá:
- Nhu cầu cộng đồng
- Nhu cầu tổ chức
- Nhu cầu học viên
Đánh giá nhu cầu đào tạo được thực hiện qua nhiều bước như
sau:
13
Xác định đối tượng
đào tạo và đối tượng
điều tra
Đánh giá
viết báo cáo
Lập kế
hoạch điều
* Đánh giá phương pháp tập huấn
Hoạt động này nhằm mục đích đánh giá mức độ thành công của
14
buổi tập huấn. Nó cho phép ta xem xét và trả lời câu hỏi liệu cách
tổ chức và điều khiển tập huấn có đáp ứng được mục tiêu đã đề
ra hay không? từ đó cải thiện chất lượng buổi tập huấn lần sau
hoặc điều chỉnh một số khâu trong kế hoạch tập huấn. Cụ thể là:
xem xét kỹ năng, phương pháp, giáo án, giáo cụ và các mục trình
có phù hợp với học viên, với mục tiêu và yêu cầu đề ra hay không.
Nội dung đánh giá phương pháp tập huấn gồm:
- Phương pháp sư phạm: Cách điều khiển buổi tập huấn có cho
phép đạt mục tiêu không? Nó có thể hiện nội dung tập huấn và
phù hợp với học viên hay không?
- Năng lực của cán bộ tập huấn: Anh ta có chuyên môn hay
không? anh ta có trình độ nghiệp vụ sư phạm hay không? có
am hiểu thực tế hay không?
- Sự tham gia của học viên: học viên có tham gia tích cực vào bài
giảng hay không? bài giảng có phù hợp không? có rõ ràng, dễ hiểu
không?
- Giáo cụ được sử dụng trong tập huấn: Gồm những giáo cụ gì?
Có phong phú và sinh động hay không?
- Địa điểm của phòng tập huấn: ở đâu? có phù hợp với số lượng
học viên hay không? Có làm cho học viên cảm thấy thoải mái
không?
- Số ngày, thời lượng và cách bố trí thời gian: thời lượng, nội dung
trong từng ngày có tuân thủ theo lịch trình hay không? nhiều hay
ít? sự phân bổ giữa lý thuyết và thực hành?
* Đánh giá tác động của tập huấn
Khi khoá tập huấn kết thúc, đánh giá tác động của tập huấn được
thực hiện. Đây là loại đánh giá mang tính chất tổng hợp tất cả
đối tượng tập huấn mà áp dụng các công cụ cho phù hợp. Bảng
tổng hợp các công cụ đánh giá tập huấn sau đây là một tham
khảo có thể sử dụng trong các loại hình đánh giá tập huấn:
16
Bảng 2.1: Các công cụ đánh giá tập huấn
Công cụ đánh giá
Công cụ đánh giá
Nhu
cầu
tập
huấn
Kiến
thức
của học
viên
Phương
pháp tập
huấn
Tác
động
của tập
huấn
Điều tra X X X
Theo dõi trên thực địa X X X
Thi viết
Câu hỏi mở X
Câu hỏi động
não
X
Thi thực hành X
trình đó. Tức là phải xem xét xem sau khóa tập huấn đó người
nông dân đã thu được gì, họ áp dụng những kiến thức đó như thế
nào trong sản xuất Việc đánh giá tác động sau mỗi một khóa học
tới các học viên là hết sức cần thiết, thông qua đánh giá các nhà
tổ chức, quản lý biết được hiệu quả của một chương trình, một
khóa học tới các học viên tham gia. Trên cơ sở đó để có những
thay đổi sao cho hợp lý. Từ lâu trên thế giới đã có rất nhiều nhà tổ
chức, nhà nghiên cứu đánh giá tác động của các lớp đào tạo, tập
huấn khuyến nông về một lĩnh vực nhất định. Dưới đây là một số
nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về đánh giá tác động của
các lớp tập huấn cho người nông dân khi áp dụng vào sản xuất.
Báo cáo đánh giá những phản hồi từ lớp học FFS: trường hợp
nghiên cứu của chương trình IPM ở Kenya cho kết quả: Sau khi
kết thúc khóa học thì kiến thức, kỹ năng làm việc cũng như lợi
nhuận của những nông dân tham gia lớp học đã tăng lên, khi áp
dụng vào thực tế sản xuất NS đã có sự thay đổi đáng kể, giảm
thiểu được rủi ro. (K.S. Godrick & W.K. Richard, 2003) [13].
Việc áp dụng phương pháp IPM đã giúp giảm đáng kể lượng thuốc
BVTV được sử dụng ở nhiều nơi. Ví dụ, chương trình IPM áp dụng
cho các cánh đồng trồng bông ở bang Texas, Mỹ, đã giúp giảm
71% lượng thuốc BVTV được sử dụng, trong khi đó sản lượng
bông chỉ giảm ít. Nhờ đó, lợi nhuận ròng của nông dân trồng bông
ở đây đạt 81,5 USD/ mẫu Anh, trong khi những nông dân trồng
bông theo phương pháp truyền thống bị lỗ 105 USD/ mẫu Anh. Đa
số nông dân áp dụng phương pháp IPM ở đây đã theo dõi phát
hiện dịch hại, thay đổi ngày gieo hạt và áp dụng các tỷ lệ gieo hạt
khác nhau. Phương pháp IPM cũng mang lại nhiều kết quả cho
nông dân các nước đang phát triển. Các lớp tập huấn cho nông
dân tại các nước châu Á như Inđônêxia, Philipin, Việt Nam đã dẫn
đến sự giảm rõ rệt lượng thuốc BVTV được sử dụng đối với cây
thống KN cả nước đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.
Về cơ chế chính sách đã có nhiều chính sách được đổi mới như
quy định rõ chính sách cho từng nội dung, từng đối tượng nông
dân và người làm CTKN. Tuy nhiên chưa có những chính sách phụ
cấp phù hợp cho KN viên. Năm 2011 kinh phí cho hoạt động KN là
222 tỷ đồng tăng 12% so với năm 2010. Có 86 dự án KN Trung
ương giai đoạn 2011-2013 được duyệt với tổng kinh phí 446 tỷ
đồng, trong đó TTKN Quốc gia chủ trì triển khai 29 dự án với tổng
19
kinh phí là 110,335 tỷ đồng (chiếm 59%).
Một số hoạt động KN nổi bật năm 2011: Công tác thông tin
tuyên truyền tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều nội dung và hình
thức phong phú, hiệu quả như trang web, ấn phẩm KN, tuyên
truyền trên các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa
phương, tổ chức các hội thi, hội chợ, diễn đàn, hội thảo chuyên
đề nhằm đẩy mạnh việc phổ biến chủ trương chính sách, kiến
thức và kinh nghiệm sản xuất, thông tin thị trường cho bà con
nông dân cả nước. Trang Web KN Việt Nam: đã cập nhật và đăng
tải 3.480 tin bài, ảnh về các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, hoạt động KN và các mô hình, điển hình sản xuất nông
nghiệp giỏi ở các địa phương trên khắp cả nước. Số lượng người
truy cập trong năm 2011 đạt gần 5 triệu lượt người/năm, trong đó
nông dân trực tiếp sản xuất chiếm trên 60% [16].
Các tài liệu, ấn phẩm KN: đã biên tập và phát hành 8 số Bản tin
KN Việt Nam với số lượng 40.000 bản; biên soạn, in và phát hành
22 ấn phẩm KN các loại khác (sách kỹ thuật, tờ rơi, tờ gấp, băng
đĩa hình kỹ thuật…) với số lượng 9.000 bản phục vụ hoạt động
chuyển giao tiến bộ KT cho nông dân. Phối hợp tổ chức tuyên
truyền, phổ biến 10.500 tin bài, ảnh, 1.400 chuyên mục chuyên
trang trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài phát
tăng), giảm 50 -100% thuốc trừ cỏ và trừ sâu, giảm phân bón hoá
học. SRI làm tăng năng suất lúa 13-29 %, tăng thu nhập từ 8-
32%, làm lợi cho nông dân từ 1,8 – 3,5 triệu đồng/ha/vụ”. Đến
cuối vụ đông xuân 2009, Việt Nam đã có trên 264.000 nông dân
áp dụng toàn phần và từng phần SRI trên 85.422 ha tại 21 tỉnh
miền Bắc. Đặc biệt là trong 6 tỉnh có chương trình hỗ trợ của
Oxfam Hoa kỳ, Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD),
Cục bảo vệ thực vật và Đại học Thái Nguyên số diện tích áp dụng
SRI đã lên tới 43%. Việt Nam có tổng diện tích lúa là trên 8 triệu
ha, nếu 50% diện tích này áp dụng SRI thì chi phí sẽ giảm rất
nhiều, trong khi sản lượng thóc lại tăng lên từ 3 đến 4 triệu tấn
thóc, làm lợi trực tiếp cho người dân ước tới từ 7 đến 14 ngàn tỉ
đồng, môi trường sống của họ được cải thiện hơn và đóng góp
làm giảm thiểu biến đổi khí hậu [17].
Báo cáo tổng kết nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ
môi trường thông qua áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI
của tác giả (
Hoàng Văn Phụ, 2010
) nói về sự thay đổi nhận thức
rõ rệt trong canh tác lúa như: gieo 0,3 - 0,5 kg/sào so với trước
21
kia là 1 - 3 kg/sào. Tiết kiệm được từ 45.000 đến 60.000 đồng;
89,5% số hộ cấy ở tuổi mạ từ 2,5 - 3 lá; 100% số hộ tham gia tập
huấn đã cấy từ 1 - 2 dảnh thay cho 3 - 4 dảnh như trước đây.
93,8% đã giảm mật độ cấy từ 40 khóm/m
2
xuống mất độ từ 16 -
25 khóm/m
2
; 100% số hộ không sử dụng thuốc trừ cỏ mà thay
3.3.1.1. Vị trí địa lý
3.3.1.2. Điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm địa hình
- Đặc điểm khí hậu
- Đặc điểm về thuỷ văn và nguồn nước
- Đặc điểm về đất
3.3.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân số và lao động
- Dân tộc
- Văn hoá, giáo dục, y tế
- Cơ sở hạ tầng
23
3.3.1.4. Nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
huyện Phú Bình - Thái Nguyên
- Những khó khăn và thách thức
- Những tiềm năng và lợi thế
3.3.2. Tìm hiểu thực trạng hoạt động đào tạo , tập huấn
KN tại huyện Phú Bình - Thái Nguyên
- Số lượng các lớp đào tạo, tập huấn khuyến nông trên địa bàn
huyện Phú Bình giai đoạn 2009 - 2011.
- Số lượt nông dân tham gia vào các lớp đào tạo, tập huấn khuyến
nông trên địa bàn huyện Phú Bình giai đoạn 2009 - 2011.
- Các nội dung đào tạo, tập huấn do Trạm Khuyến nông huyện tổ
chức từ năm 2009 - 2011.
3.3.3. Đánh giá kết quả hoạt động đào tạo , tập huấn KN
đến nông dân tại huyện Phú Bình - Thái Nguyên
* Đánh giá khả năng tiếp thu và mức độ áp dụng kiến thức được
đào tạo, tập huấn của nông dân vào thực tế sản xuất:
- Đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức được đào tạo, tập huấn
của nông dân vào thực tế sản xuất.
+ Chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
+ Số lượng mẫu: Mẫu được chọn để điều tra là 80 người đã tham
gia tập huấn ở các xã Điềm Thụy, Hương Sơn, Tân Hòa.
Bảng 3.1: Chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu
STT Chỉ tiêu Phương pháp nghiên cứu
1
Đặc điểm về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của
huyện.
Sử dụng số liệu thứ cấp của
phòng thống kê.
2
Thực trạng công tác đào
tạo, tập huấn của huyện
Sử dụng số liệu thứ cấp của
trạm khuyến nông huyện
3
- Khả năng tiếp thu và mức
độ áp dụng kiến thức của
người dân sau khi tham gia
các lớp đào tạo, tập huấn.
- Nội dung và phương pháp
tập huấn
- Tác động của tập huấn
đến nông dân
- Điều tra trực tiếp những
nông dân đã tham gia tập
huấn tại 3 xã: Điềm Thụy,
Hương Sơn, Tân Hòa (n=
80). Sử dụng phiếu điều tra,