bài tập nhóm đề tài chế biến thủy sản - Pdf 10

Bài tập nhóm
đề tài chế biến thủy sản
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
Mục lục
Phân bố dân số theo vùng kinh tế -sinh thái giai đoạn 2001-2008 12
Lao động phân theo vùng kinh tế - sinh thái giai đoạn 2001-2008 13
Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2008 15
Hiện trạng lao động CBTS XK phân theo vùng kinh tế, 2001-2009 17
Chế biến thủy sản là khâu cuối cùng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy
sản trước khi đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ. Nhưng để cho thủy sản có giá
trị sử dụng lâu hơn nữa thì phải cần có một hệ thống bảo quản tốt đó là hệ thống
đông lạnh. Và đó cũng là cơ sở để hình thành ngành chế biến và bảo quản thủy
sản đông lạnh.
Những sản phẩm thủy sản được chế biến và bỏa quản không những phục
vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu, đem về ngoại tệ cho đất
nước. Ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh ở Việt Nam qua 36 năm
hình thành và phát triển nên những bước thăng trầm của ngành này luôn gắn
liền với nhịp sống chung của nền kinh tế đất nước, nhất là công cuộc đổi mới
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
2
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
toàn diện đất nước. Nên nhóm chọn ngành “chế biến và bảo quản thủy đông lạnh
làm chủ đề nghiên cứu”.
Có 6 nội dung chính trong bài và những đóng góp của những thành viên trong
nhóm như sau:
1 Sự hình thành và phát triển của ngành
(Lê Thị Thanh Hồng Ny)
2 Môi trường vĩ mô tác động đến ngành

khi đó nhiều nhà máy xây dựng xong
nhưng không phát huy được công suất,
nguyên liệu khai thác chỉ được huy động
cho chế biến từ 20 - 30%. Công nghệ chế
biến lạc hậu nên có sự thất thoát lớn trong
quá trình chế biến và bảo quản. Theo số
liệu của Viện Nghiên cứu Hải sản năm
1992, nguyên liệu qua chế biến so với tổng
nguyên liệu năm 1976 chỉ đạt 22%, trong
số đó tổng lượng hao phí là 21%; nguyên liệu không qua chế biến là 72%, hao phí là
20%. Đây là giai đoạn phát sinh nên không có nhiều rào cản cho đối thủ cạnh tranh.
1.2. Giai đoạn 1981 - 1994
Cuối năm 1979, Nhà nước cho phép Bộ Thủy sản quản lý thống nhất và khép kín
toàn bộ quá trình từ đánh bắt đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, thay cho
trước đây ngành chỉ đảm nhận khâu khai thác và chế biến, còn việc thu mua và tiêu
thụ do ngành nội thương và ngoại thương đảm nhận. Chủ trương này không những
khắc phục được tình trạng manh mún, rời rạc, mà còn giải phóng mạnh mẽ sức sản
xuất, hoạt động sản xuất gắn bó chặt chẽ với tiêu dùng. Trong 15 năm liên tục, ngành
thủy sản luôn hoàn thành vượt mức toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao với
tốc độ tăng trưởng bình quân 5 - 7%/năm về sản lượng khai thác; 12 - 13% về giá trị
kim ngạch xuất khẩu. Năm 1990 giá trị sản lượng đạt 1.020.000 tấn và thu về 205
triệu USD hàng hóa xuất khẩu. Năm 1994 đạt sản lượng 1.211.000 tấn và 458 triệu
USD kim ngạch xuất khẩu.
Nổi bật nhất trong giai đoạn này là lĩnh vực chế biến phát triển rộng khắp với tốc
độ tăng bình quân 9 nhà máy mỗi năm. Đến cuối năm 1994, số nhà máy chế biến thủy
sản đông lạnh lên đến 178 nhà máy, với tổng công suất cấp đông 780 tấn/ngày, thêm
vào đó còn có hệ thống các nhà máy sản xuất nước đá với tổng công suất 2.000
tấn/ngày đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt về chất trong quá trình giữ gìn độ tươi
của nguyên liệu, giảm tiêu hao, thất thoát sau thu hoạch, góp phần nâng cao giá trị
kinh tế của sản phẩm. Kết quả là tỷ lệ sản phẩm chế biến đông lạnh so với tổng

Đến nay, theo Cục Quản lý chất lượng nông- lâm sản và thủy sản (Nafiqad), cả
nước có 300 cơ sở chế biến thủy sản và khoảng 220 nhà máy chuyên sản xuất các sản
phẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu, có tổng công suất 200 tấn/ngày. Cũng theo thống
kê của Nafiqad, tính đến thời điểm này, cả nước có 300 doanh nghiệp được phép xuất
khẩu thủy sản sang EU, hơn 440 doanh nghiệp sang Hàn Quốc, hơn 440 doanh
nghiệp sang Trung Quốc, 30 doanh nghiệp sang Liên bang Nga, 60 doanh nghiệp
sang Brazil và gần 450 doanh nghiệp sang Nhật Bản. Tính đến cuối năm 2009, giá trị
kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 4,2 tỷ USD.
Chiến lược biển đến năm 2020 đã đặt ra mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia
mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển
toàn diện các ngành nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển
nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn. Ngành chế biến thủy sản cũng
sẽ phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của mình, tạo động lực thúc đẩy các ngành khác
cùng phát triển. Đây chính là giai đoạn tăng trưởng của ngành nhu cầu sản phẩm
ngày càng được tăng lên. Điều đặc biệt là sang thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại
hóanày, các nhà máy đông lạnh liên tục mở rộng qui mô và thay đổi công nghệ tiên
tiến, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, bên cạnh đó một số nhà máy đông lạnh khác
cũng có những cải tiến công nghệ để phù hợp với yêu cầu thị trường. .Ngày càng có
nhiều cơ sở chế biến thủy sản được đưa vào hoạt dộng,cho tới năm 2003 có khoảng
300 doanh nghiệp với khả năng sản xuất khoảng 200 tấn/năm.Và hiện nay ngành
thủy sản đã đóng một vai trò không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân,khoảng
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
5
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
5%GDP,mang lại giá trị kinh tế rất to lớn về xuất khẩu(năm 2004,xuất khẩu thủy sản
đạt 2.4 tỷ USD,chiếm 9,2% tổng giá trị xuất khẩu,năm 2009 dự đoán xuất khẩu thủy
sản đạt 4-5 tỷ USD). Điều đó cho thấy đây chính là giai đoạn tăng trưởng vượt bậc
của ngành nên nhu cầu sản phẩm ngày càng được tăng lên.
2. Môi trường vĩ mô tác động đến ngành.

luật trong tranh chấp thương mại còn rất hạn chế, điều này ảnh hưởng khá lớn tới năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
+ Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu,
cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vực
chế biến xuất khẩu cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm.
+ Công tác quản lý nguồn lợi, quản lý tàu thuyền trên biển, công tác thống kê nghề
cá còn lạc hậu và chưa đáp ứng được các yêu cầu về hội nhập.
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
6
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
+ Công tác đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật tuy đã được quan tâm
nhưng do hạn chế về kinh phí và kinh nghiệm nên chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số
lượng và chất lượng trong điều kiện của WTO.
+ Năng lực, kinh nghiệm quản lý và trang thiết bị phục vụ cho kiểm tra, kiểm soát
chất lượng, kiểm dịch hàng thủy sản nhập khẩu còn hạn chế - là thách thức lớn đối với
việc bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng cũng như sức khoẻ và môi trường sống của các
loài thủy sản, đồng thời đó cũng là thách thức đối với những cạnh tranh không lành
mạnh sẽ diễn ra đối với thủy sản Việt Nam nói chung và thủy sản đông lạnh nói riêng.
+ Do Việt Nam là nước đang phát triển nên nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang
gặp rất nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, bên cạnh đó kỹ năng và
trình độ quản trị của nhiều doanh nghiệp thủy sản chưa đáp ứng được các chuẩn mực
quốc tế và còn rất thấp so với các đối thủ.
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh thủy sản (hệ thống thủy lợi, các
chợ thủy sản đầu mối, các trung tâm thương mại thủy sản) chưa có hoặc còn yếu, cộng
với khả năng cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là thách thức lớn
trong việc giữ được thị trường trong nước.
+ Vấn đề thương hiệu của thủy sản Việt Nam cũng được coi là một thách thức lớn,
vì hiện nay các mặt hàng thủy sản Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhập
khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau, vừa không quảng bá được

Năm là, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, chú trọng vào xây dựng thương
hiệu và phát triển thị trường cho các sản phẩm chủ lực.
Sáu là, tăng cường công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi để có biện pháp bảo vệ, tái
tạo nguồn lợi, thực hiện quản lý an toàn vệ sinh, môi trường, đảm bảo phát triển nghề
cá bền vững.
Bảy là, tăng cường công tác quản lý, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất
nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
2.2. Yếu tố công nghệ.
Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về công nghệ CBTS tại các viện
nghiên cứu chưa nhiều, chưa theo kịp yêu cầu của sản xuất, kinh doanh. Trong khi tại
các doanh nghiệp việc đầu tư đổi mới trang thiết bị, ứng dụng công nghệ chế biến thuỷ
sản ở trình độ cao đã có bước phát triển vượt bậc. Đặc biệt là ở các doanh nghiệp chế
biến sản phẩm thuỷ sản đông lạnh và đồ hộp. Vai trò của các doanh nghiệp CBTS xuất
khẩu trong giai đoạn này rất lớn trong việc nhập và tiếp thu, ứng dụng công nghệ mới.
Trong CBXK, sản phẩm giá trị gia tăng (làm sẵn, ăn liền) đã chiếm tỷ lệ đáng kể, với
hàng trăm mặt hàng, mẫu mã sản phẩm hấp dẫn. Nhiều sản phẩm bao gói nhỏ, tiêu thụ
tại các siêu thị đang được các thị trường ưa chuộng. Xu thế sản phẩm thuỷ sản xuất
khẩu đang chuyển biến tích cực từ xuất khẩu nguyên liệu, sản phẩm thô, sơ chế là
chính nay chuyển sang sản phẩm có hàm lượng công nghệ chế biến cao hơn mang lại
giá trị kinh tế nhiều hơn. Đang thiếu hẳn các công trình nghiên cứu cải thiện chất
lượng sản phẩm thủy sản truyền thống để phát triển thị trường cho sản phẩm này, tiến
tới xuất khẩu các sản phẩm có tiếng từ lâu trên thị trường trong nước và thế giới
Các công trình nghiên cứu khoa học về công nghệ CBTS tuy có số lượng không
nhiều, nhưng đã tập trung giải quyết một số đòi hỏi cấp bách của sản xuất, nhất là công
nghệ bảo quản thuỷ sản sau thu hoạch. Một số công trình đã nghiên cưú, ứng dụng
công nghệ về xử lý, sơ chế, bảo quản một số đối tượng thuỷ sản như công nghệ bảo
quản mực và một số đối tượng hải sản có giá trị kinh tế cao trên tàu cá, các công nghệ
làm lạnh nước biển để bảo quản cá ngừ đại dương.
Có 2 vấn đề cần nhìn nhận riêng biệt, đó là:

chưa có kho lạnh ngoại quan phục vụ xuất nhập khẩu thủy sản.
Cũng vì thiếu kho lạnh trữ hàng nên hiện nay, đa phần các doanh nghiệp Việt Nam
chưa thể bán hàng trực tiếp mà hầu hết thông qua hệ thống trung gian. Do đó, các hệ
thống đại lý ở EU bán khá nhiều mặt hàng sản xuất của Việt Nam, nhưng người tiêu
dùng chỉ biết đến thông qua nhãn hiệu các nước khác. Đây cũng là lý do mà các
chương trình xúc tiến thương mại Việt Nam trong thời gian qua chưa thực sự hiệu
quả.
Theo ước tính của các nhà chuyên môn, để có một kho lạnh đạt chuẩn (-18 độ C), sản
lượng khoảng 10.000 tấn, cần đầu tư khoảng 1,5-2 triệu USD. Tuy nhiên, kho lạnh
thủy sản trữ lượng lớn vẫn còn khá hiếm. Để đáp ứng nhu cầu phát triển, ngành Thủy
sản đề xuất Nhà nước có chính sách ưu đãi đầu tư, miễn giảm tiền thuê đất từ 3-5 năm
cho doanh nghiệp trong đầu tư xây dựng kho lạnh. Bên cạnh đó, tạo điều kiện và có cơ
chế chính sách để các doanh nghiệp chế biến thủy sản, những tập đoàn kinh tế mạnh
đứng ra đầu tư khai thác kho lạnh./.
Chi tiết về công nghệ làm lạnh thủy sản.
THỊ TRƯỜNG MÁY LẠNH CÔNG NGHIỆP
Theo thống kê thị trường lạnh công nghiệp Việt Nam vào khoảng 30-35 triệu
USD/năm. Trải dài từ Bắc vào Nam, trong đó tập trung chủ yếu ở thị trường Miền Tây
Nam Bộ.
Thị trường Miền Tây chiếm khoảng 20 triệu USD, phần còn lại 10 đến 15 triệu
USD ở Miền Đông Nam Bộ, Miền Trung và Miền Bắc.
Hiện nay khi Việt Nam phát triển mạnh mẽ công nghiệp lọc hóa dầu và các nhà
máy vệ tinh đi kèm, ước tính lạnh công nghiệp cung cấp thêm cho thị trường khoảng
5-7 triệu USD/năm.
Các nhà cung cấp uy tín trong lĩnh vực lạnh công nghiệp ở Việt Nam:
Tập đoàn Johnson Controls-USA, Mycom-Japan, Grasso-Germany.
Và các nhà cung cấp thiết bị phụ trong hệ thống lạnh: Valves Danfoss-Denmark,
Aircooler-Guntner….
Việc xây dựng hệ thống lạnh công nghiệp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao vì vậy
không chỉ là nhà cung cấp thiết bị lạnh đơn thuần mà còn phải đem đến cho khách

+ Xây dựng chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ cho các đơn vị và cá nhân đủ
khả năng tư vấn thiết kế trong ngành lạnh và ĐHKK để từng bước khắc phục tình
trạng lạc hậu và thiếu chuyên nghiệp như hiện nay.
2.3. Môi trường văn hóa và xã hội.
Các thói quen và phong tục tập quán tại việt nam ảnh hưởng rất nhiều đến việc cung
cấp nguồn nhân lực cho các nhà máy chế biến và tiêu thụ các sản phẩm đông lạnh
trong thi trường nội địa.
-yêu tố văn hoá xã hội tác động đến :
2.3.1. Nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản.
Chuyện tuyển công nhân (CN) ở các nhà máy chế biến thủy sản là hầu như thường
xuyên, vì nhiều CN làm một thời gian rồi nghỉ. Tình hình biến động CN thủy sản diễn
ra ngày càng mạnh khi số lượng các nhà máy ngày càng nhiều và nâng công suất hoạt
động. Do đó, các chủ doanh nghiệp này không chỉ lo việc sản xuất, kinh doanh mà còn
mệt với sự đến rồi đi của CN.
Một lãnh đạo Công ty chế biến cá tra xuất khẩu cho biết, lượng CN luôn biến động,
nên phải dùng nhiều “chính sách” thu hút CN. Vị này nói với tôi: “Nếu anh giới thiệu
được người vào làm CN cho Công ty chúng tôi, anh sẽ được hưởng 1,5 triệu đồng/CN.
Giới thiệu bao nhiêu người Công ty cũng nhận”. Một lãnh đạo công ty khác than: “Tôi
rất “đau đầu” với việc làm sao để giữ CN. Nhiều khi phải trực tiếp năn nỉ CN ở lại làm
cho Công ty. Tết, đúng ra phải thoải mái đi thăm ông bà, người thân, nhưng phải lo
lắng không biết sau Tết CN còn được bao nhiêu, có đảm bảo cho nhà máy hoạt động
không?”
CN biến động mạnh nhất vào mùa thu hoạch lúa, nhiều CN bỏ nhà máy về nhà làm
nông dân, thu hoạch lúa mướn có thu nhập cao hơn. Các chế độ chính sách của các
Công ty thường không giống nhau, nên xảy ra tình trạng CN từ Công ty này sang
Công ty khác để có thu nhập cao hơn (có nhiều trường hợp CN xin đi Công ty khác
làm một thời gian thấy thu nhập không bằng Công ty cũ hay Công ty cũ nâng đơn
giá, thì xin quay về Công ty cũ). Nhiều CN không quen được với tác phong công
nghiệp, không thích làm việc theo nội qui hay không chịu được với môi trường, cường
độ làm việc tại nhà máy nên trở về làm việc ruộng, vườn

sản phẩm tiêu thụ nội địa của Cholimex chỉ chiếm 10%.
Tương tự Cholimex, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng ít đầu tư mở rộng thị
trường nội địa, với lý do giá bán thường thấp hơn giá xuất khẩu, trong khi chi phí vận
chuyển, bảo quản, quảng bá cao. Mặt khác, các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất
khẩu cũng cho biết, thế mạnh của họ là hàng đông lạnh, mà người tiêu dùng Việt Nam
vẫn có thói quen mua các sản phẩm thủy sản tươi sống tại các chợ lẻ. Với loại sản
phẩm tươi sống, các đầu nậu, tư thương có lợi thế hơn các doanh nghiệp xuất khẩu do
tổ chức được hệ thống bán lẻ chặt chẽ.
Dù vậy, CIEM cho rằng, trong tương lai, thói quen tiêu dùng thủy sản của người Việt
Nam sẽ thay đổi. Tập quán tiêu dùng thủy hải sản thô của người dân sẽ giảm, thay vào
đó, tiêu dùng thủy sản đông lạnh, thủy sản đã qua chế biến, làm sẵn, ăn liền sẽ tăng
lên. Vì vậy, CIEM khuyến nghị, các doanh nghiệp chế biến thủy sản sớm đa dạng sản
phẩm thủy sản ở thị truờng nội địa, có chiến lược để đón đầu tăng trưởng tại thị trường
nội địa, để biến thị trường nội địa thành chỗ dựa vững chắc khi xuất khẩu gặp khó
khăn.
2.4. Môi trường nhân khẩu học.
Dân số, cơ cấu dân số và tác động của dân số đến nền kinh tế.
2.4.1. Dân số và cơ cấu dân số
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
11
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
Theo niên giám thống kê, năm 2008 toàn quốc có 86,2 triệu người, tăng 9,56% so
với năm 2001, tập trung sinh sống không đồng đều ở 63 tỉnh thành phố và trên 6 vùng
kinh tế sinh thái ở Việt Nam. Bình quân giai đoạn 2001-2008 dân số toàn quốc tăng
trưởng bình quân 1,15%/năm, trong đó dân số nam và nữ đều có tốc độ tăng bình quân
1,15%/năm, dân số thành thị tăng 2,77%, dân số nông thôn tăng 0,57%/năm, trong đó:
- Cơ cấu dân số phân theo giới, suốt giai đoạn 2001-2008 dân số nam luôn duy trì
ổn định ở mức chiếm từ 49,1 - 49,2%, nữ duy trì trong khoảng từ chiếm 50,9 - 50,8%,
như vậy có thể kết luận rằng hiện tại dân số ở Việt Nam chưa có sự mất cân bằng về

. Như vậy, vùng TDMNBB
và vùng Tây Nguyên có mật độ dân số thấp nhất, còn lại các vùng khác có mật độ dân
số tương đối cao.
2.4.2. Đánh giá tác động của dân số đến nền kinh tế.
Như trên đã nêu, dân số Việt Nam tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL và
các vùng ven biển khác như BTB&DHMT và Đông Nam Bộ. Trừ vùng ĐBSH, đây
cũng chính là các vùng có nghề cá và CBTS phát triển. Bên cạnh những tác động khác,
mật độ dân số cao sẽ góp phần tích cực vào việc cung cấp lao động cho nghề cá và cho
công nghiệp CBTS của vùng.
Phân bố dân số theo vùng kinh tế -sinh thái giai đoạn 2001-2008
Đơn vị tính: 1.000 người
T
T
Hạng mục 2001 2005 2006 2007 2008
TĐTB
Q
(%/nă
m)
Toàn quốc
77.6
35
83.1
06
84.1
37
85.1
72
86.2
11
1,15

Hạng mục 2001 2005 2006 2007 2008
TĐTB
Q
(%/nă
m)
Tỷ trọng,
%
23,3 23,0 23,0 22,9 22,8
2 TDMNBB
10.2
05
10.8
39
10.9
71
11.0
99
11.2
08
1,04
Tỷ trọng,
%
13,1 13,0 13,0 13,0 13,0
3
BTB&DH
MT
18.3
08
19.3
67

10.4
86
11.7
79
12.0
97
12.4
56
12.8
29
2,23
Tỷ trọng,
%
13,5 14,2 14,4 14,6 14,9
6 ĐBSCL
16.3
45
17.2
56
17.4
00
17.5
34
17.6
95
0,86
Tỷ trọng,
%
21,1 20,8 20,7 20,6 20,5
Nguồn: Niên giám thống kê -Tổng cục thống kê, năm 2008

9
44.17
4
44.91
6
2,2
Tổng tỷ trọng
%
100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
1 ĐBSH 9.301 10.544 10.758 10.954 11.120 2,3
Tỷ trọng, % 24,7 24,8 24,8 24,8 24,8
2 TDMNBB 5.499 6.312 6.458 6.603 6.719 2,5
Tỷ trọng, % 14,6 14,8 14,9 14,9 15,0
3 BTB&DHMT 6.650 6.846 6.813 6.812 6.806 0,3
Tỷ trọng , % 17,7 16,1 15,7 15,4 15,2
4 Tây Nguyên 2.607 3.201 3.308 3.405 3.487 3,7
Tỷ trọng, % 6,9 7,5 7,6 7,7 7,8
5 Đông Nam Bộ 5.635 6.794 7.038 7.306 7.564 3,7
Tỷ trọng, % 15,0 16,0 16,2 16,5 16,8
6 ĐBSCL 7.918 8.830 8.963 9.094 9.219 1,9
Tỷ trọng, % 21,1 20,8 20,7 20,6 20,5
Nguồn: Niên giám thống kê-Tổng cục Thống kê, năm 2008
- Cơ cấu lao động phân theo vùng kinh tế: từ hình 1 cho thấy, năm 2008 lao động
khu vực ĐBSH chiếm 24,8% lao động toàn quốc, vùng TDMNBB chiếm 15%, vùng
BTB&DHMT chiếm 15,2%, vùng Tây Nguyên chiếm 7,8%, vùng Đông Nam Bộ
chiếm 16,8%, và vùng ĐBSCL chiếm 20,5% lao động toàn quốc.
- Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế: từ hình 2 cho thấy năm 2008, lao động
nông, lâm nghiệp có khoảng 21,9 triệu người chiếm 48,8% lao động toàn quốc; lao
động thuỷ sản có khoảng 1,68 triệu người tăng 71,4% so với năm 2001 và chiếm 3,7%
tổng số lao động toàn quốc, trong đó vùng ĐBSCL chiếm khoảng trên 60% còn lại là


ng
thôn
Chu
ng
Thà
nh thị

ng
thôn
Toàn quốc 2,38 4,65
1,5
3
5,10 2,34
6,1
0
1 ĐBSH 2,29 5,35
1,2
9
6,85 2,13
8,2
3
2 TDMNBB 1,13 4,17
0,6
1
2,55 2,47
2,5
6
3 BTB&DHMT 2,24 4,77
1,5

6%, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ khoảng 2,13%, các vùng còn lại tỷ lệ này trên
5%. Khu vực thành thị thì vùng ĐBSCL có tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất 3,59%; thấp
nhất là vùng Đông Nam Bộ 1,03%; còn lại các vùng kinh tế khác tỷ lệ này là trên 3%;
đối với khu vực nông thôn vùng có tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất là vùng ĐBSH
khoảng 8,23%; vùng ĐBSCL khoảng 7,11%; thấp nhất là vùng Trung du và miền núi
phía Bắc khoảng 2,56%; còn lại các vùng khác tỷ lệ này là trên 5%.
2.4.3.3. Chất lượng lao động.
Theo các chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam được đánh giá là rất
dồi dào nhưng lại yếu về chất lượng. Lao động ở Việt Nam được đánh giá là khéo léo,
thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹ thuật và công nghệ hiện đại được
chuyển giao từ bên ngoài vào, nhưng lại thiếu tính chuyên nghiệp. Tính từ năm 2001
đến 2008 có khoảng trên 10 triệu người được đào tạo trong tổng số ngần 45 triệu
người trong độ tuổi lao động - tức khoảng 25% “lao động qua đào tạo”.
Riêng đối với khu vực nông thôn, có thể nói trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật
của lao động hiện nay thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Trên 85% số lao
động ở nông thôn chưa từng qua trường lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật nào, khoảng
18,9% số lao động nông thôn có trình độ văn hóa tiểu học. Về thể lực của lao động
nông thôn ở độ tuổi 20 -24, thống kê năm 2008 cho thấy, chỉ có 75% số lao động có
thể lực bình thường, 23,6% gầy, 1,4% thừa cân.
Theo đánh giá của các nhà kinh tế năm 2008 yếu tố lao động của Việt Nam
tham gia vào tăng trưởng nền kinh tế chiếm khoảng 20%, yếu tố vốn chiếm khoảng
57,7%, và các yếu tố khác chiếm 22,3%.
Dưạ vào những số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy nền kinh tế Việt Nam hiện
nay đang sở hữu nguồn lao động rất dồi dào, đây là một lợi thế rất lớn trong việc phát
triển kinh tế cũng như nguồn cung ứng nguồn lao động cho các nhà máy chế biến thủy
sản đông lạnh.
Thực trạng nguồn lao động trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản nói
chung và thủy sản đông lạnh nói riêng.
Chế biến thủy sản (CBTS) là một nghề mà người lao động phải làm việc trong
điều kiện công việc mang tính mùa vụ cao, nhiều thời điểm công nhân phải làm tăng

30
175.6
80
301.1
50
12,7
1 Vùng ĐBSH 9.590 4.130 4.400
-9,8
2
Vùng
BTB&DHMT
12.57
0
25.62
0
28.96
0
11,0
3 Vùng ĐNB
54.02
0
62.66
0
65.80
0
2,5
4 Vùng ĐBSCL
39.75
0
83.26

17
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
vùng nhập cư cao nhất. Các khu công nghiệp tập trung và các thành phố lớn luôn có
sức hút mạnh mẽ nhiều người chuyển đến làm ăn sinh sống.
2.5. THỂ CHẾ, CHÍNH SÁCH CHO CHẾ BIẾN, THƯƠNG MẠI
THỦY SẢN
2.5.1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CB&TM thủy sản
2.5.1.1. Hệ thống văn bản
Hiện tại, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước điều chỉnh hoạt động
trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu sản phẩm thủy sản là 133 văn bản, bao gồm: 10
văn bản luật, 01 pháp lệnh, 5 nghị quyết của Chính phủ, 50 Nghị định của Chính phủ,
39 quyết định của Thú tướng Chính phủ, 4 thông tư liên tịch giữa các Bộ và 12 quyết
định, chỉ thị của bộ trưởng các bộ (trước khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật năm 2008 có hiệu lực) (xem phụ lục1).
2.5.1.2. Đánh giá khái quát về hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật chi phối lĩnh vực chế biến và thương mại thủy sản
 Thương mại thủy sản
Thương mại là một lĩnh vực lớn liên quan đến rất nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau
nên có số lượng văn bản pháp luật khá nhiều. Theo Luật Thương mại (2005) và một số
văn bản dưới Luật khác chỉ tập trung quy định cho đối tượng là "thương nhân", trong
khi các "tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại", gồm cả nông
dân và các hợp tác xã, cũng như hoạt động mua bán sản phẩm do họ sản xuất, chế biến
và tiêu thụ lại chỉ được đề cập một cách rất hạn chế, không làm rõ quyền lợi và trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân này dưới dạng đặc biệt của "thương nhân". Do vậy,
các hoạt động mua, bán hàng hoá nông sản của nông dân không được quy định trong
phạm vi, đối tượng áp dụng của văn bản; hoặc có đề cập đến, nhưng chỉ đề cập chung
chung như một loại "tổ chức,cá nhân khác". còn trong các điều khoản cụ thể của văn
bản cũng lại chỉ đề cập đến "thương nhân". Đây cũng là một trong những nguyên nhân
tạo ra kẽ hở về pháp luật, để nhiều thương nhân xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua

thật phù hợp với điều kiện phát triển của hệ thống CBNĐ còn đang trong tình trạng
khá lạc hậu và thiếu kiểm soát hiện nay. Đây chính là khâu còn đang bị "bỏ ngỏ"như
đã nêu trên. Hậu quả là một số loại sản phẩm kém chất lượng vẫn được đưa ra thị
trường tiêu thụ dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp
với nhau, làm giảm khả năng phát triển chung của ngành.
 Đầu tư, tín dụng và thuế
Nhìn chung, Nhà nước đang khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nói
chung và trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến thuỷ sản nói riêng. Tuy nhiên, xét trên
góc độ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì sự khuyến khích này chưa đáp
ứng được nhu cầu đầu tư cũng như chưa định hướng được một cách đúng đắn quá
trình đầu tư trong lĩnh vực này.
- Về ưu đãi đầu tư
Theo quy định của Luật Đầu tư (Điều 27, Điều 28) và Nghị định số 108/2006/NĐ-
CP về hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư (Phụ lục I, II), xác định các đối tượng, lĩnh vực
được hưởng ưu đãi còn dàn trải, chưa xác định đầu tư ở vùng nông thôn vào lĩnh vực
nông, lâm, thuỷ sản có được ưu đãi đặc biệt hơn các ngành nên chưa đủ sức hấp dẫn
các nhà đầu tư. Do đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có độ rủi ro cao và lợi
nhuận thấp, nhà đầu tư sẽ chọn đầu tư vào các lĩnh vực khác thuộc danh mục lĩnh vực
ưu đãi đầu tư nhưng có lợi nhuận cao hơn.
- Về chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư
+ Điều 33, Luật Đầu tư quy định nhà đầu tư có dự án thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn
ưu đãi đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế, nhưng thuế VAT vẫn còn cao đối với một số
ngành sản xuất chế biến nông sản và một số sản phẩm phụ khác. Thuế thu nhập doanh
nghiệp bình quân trước đây là 28%, nay mặc dù đã giảm xuống 25% nhưng vẫn là quá
cao đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản sử dụng nhiều
lao động, nhiều rủi ro và tỷ suất lợi nhuận thấp.
+ Một số quy định của luật pháp còn thiếu nhất quán, phân biệt đối xử giữa các loại
hình doanh nghiệp cũng là nguyên nhân làm giảm đầu tư vào lĩnh vực thủy sản nói
chung và chế biến thủy sản nói riêng.
- Về chính sách tín dụng và các chính sách khác: Tín dụng phục vụ cho công nghiệp

vào năng lực tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính và các điều kiện công vụ cần thiết.
 Quản lý nhà nước về VSATTP
Mặc dù các có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về lĩnh vực này, nhưng
việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các Bộ; cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ
quản lý nhà nước về đảm bảo chất lượng,VSATTP giữa Bộ NN&PTNT với các Bộ
chức năng trong thời gian qua vẫn tồn tại sự bất cập, hạn chế và đã kéo dài nhiều năm.
Cụ thể là việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo ATVSTP cho cơ sở sản xuất,
chế biến thực phẩm bị chồng chéo giữa Bộ Y tế và Bộ NN& PTNT, đã gây khó khăn
cho doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật; làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước. Các Bộ có liên quan và các cơ quan thuộc Bộ NN&PTNT đã từng bước rà
soát, loại bỏ các vấn đề chồng chéo nói trên để tiến tới hoàn thiện hệ thống quản lý nhà
nước về đảm bảo VSATTP cho lĩnh vực thủy sản nói riêng và thực phẩm nói chung.
Luật An toàn Thực phẩm năm 2010 số 55/2010/QH12 ra đời và có hiệu lực từ ngày
1/7/2011, thay thế Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH11,
đã làm rõ được trách nhiệm của các Bộ có liên quan, khắc phục các vấn đề chồng chéo
trong thời gian qua.
 Quản lý thương mại thủy sản
Hiện nay, việc quản lý thương mại hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu được giao cho
khá nhiều Bộ, cụ thể là:
+ Việc ban hành các chính sách thương mại, xúc tiến thương mại; quản lý cạnh tranh,
hạn ngạch xuất/ nhập khẩu, quản lý thị trường do Bộ Công thương chủ trì, Bộ NNPTNT
phối hợp thực hiện trong phạm vi quản lý của mình.
+ Việc quản lý và xử lý các vấn đề về rào cản thương mại (TBT), rào cản kỹ thuật
(SPS) liên quan đến nông lâm thủy sản do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, Bộ
NNPTNT phối hợp thực hiện trong phạm vi quản lý của mình.
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
20
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
+ Quản lý thị trường hàng nông, lâm, thuỷ sản, Bộ NN&PTNT được giao nhiều

- Tại địa phương
+ Trong số 29 tỉnh ven biển có 24 sở Thủy sản, 01 sở Nông-Lâm, 04 sở NN&PTNT
có quản lý thủy sản. Các tỉnh có Sở Thủy sản là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà
Rịa-Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên
Giang. Đà Nẵng có Sở Nông-Lâm quản lý nhà nước về thủy sản. Các tỉnh có Sở Nông
nghiệp và PTNT có quản lý nhà nước về thủy sản là Thành phố Hồ Chí Minh, Long
An, Ninh Bình và Thái Bình.
+ Các tỉnh còn lại (không có bờ biển), có 01 tỉnh có sở Thủy sản (An Giang) và 34
tỉnh có sở NN& PTNT quản lý nhà nước về thủy sản.
Trong giai đoạn này, nhìn chung việc quản lý nhà nước về thủy sản mặc dù còn có
những hạn chế nhất định, song cũng đã có những đóng góp rất đáng kể cho việc phát
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
21
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
triển ngành này trên thực tế, đưa ngành thuỷ sản từ một ngành sản xuất nhỏ, lẻ trở
thành một ngành có giá trị xuất khẩu lớn như hiện nay.
 Giai đoạn từ 2007 đến 2009
Sau khi hợp nhất Bộ Thủy sản với Bộ NN& PTNT năm 2007, theo Nghị định số
01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ NN& PTNT, có 04 đơn vị có liên quan trực tiếp đến việc quản lý nhà
nước về thủy sản: Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Cục Nuôi trồng thủy sản,
Cục Quản lý chất lượng sản phẩm nông lâm sản và thủy sản và Cục Chế biến, Thương
mại nông lâm thủy sản và nghề muối. Trong giai đoạn này, cơ cấu tổ chức quản lý từ
TW đến địa phương đang trong giai đoạn tổ chức lại, nên các hoạt động quản lý ngành
có phần bị xáo trộn do thay đổi tổ chức và điều động cán bộ giữa các tổ chức có liên
quan.
 Giai đoạn từ 2009 đến nay

3.1.1. Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.
Nhóm thực hiện: Lục Đại Doanh Nhân Lớp 09QT
22
2
Khoa kinh tế  Bài tập nhóm kinh tế ngành
Đất nước ta trải dài nằm trong vùng nhiệt đới với đất đai màu mở và nông sản
thủy sản trở nên phong phú đa dạng lẫn về số lượng và chất lượng. Vì thế các công
ty chế biến nổi lên ngày càng nhiều và ngành “chế biến và bảo quản thủy sản đông
lạnh” vì thế không thể tránh khỏi có các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng. Các đối thủ
cạnh tranh có thể là các ngành sau đây: (đây chỉ là ví dụ, trên thực tế có thể các
công ty trong lĩnh vực hoàn toàn không một chút tương đồng vói ngành nhưng họ
có thể làm những gì mà mình muốn.)
Sản xuất và đóng hộp dầu, mỡ động, thực vật.
Chế biến và bảo quản rau quả khác.
Chế biến và đóng hộp rau quả.
Chế biến và bảo quản rau quả.
Chế biến và bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt khác.
Chế biến và đóng hộp thịt.
Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt.
….
Các công ty của các ngành trên được xem như một mối đe dọa bởi các công ty này
sẽ đem vào nganh một nguồn năng lực sản xuất mới và muốn chiếm đoạt thị phần của
các công ty hiện tại. Chính vì đối thủ cạnh tranh tiềm tàng có thể gia nhập ngành “chế
biến và bảo quản thủy sản thủy đông lạnh” để chiếm thị phẩn ảnh hưởng trực tiếp các
công ty hiện tại trong ngành và làm cho các công ty hiện tại trở nên cảnh giác hơn,
thực tế trong việc cạnh tranh với các hình thức mới từ các đối thủ, như hệ thống phân
phối, các hinh thức marketing mới…
Và tất nhiên là các công ty trong chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh sẽ tìm
cách cố gắng ngăn cản các công ty khác có ý định gia nhập ngành. Tuy nhiên hiện nay
ngay trong chính các doanh nghiệp trong ngành nói riêng và các doanh nghiệp thủy

mức giá thấp hơn trước. Với mức giá thấp này sẽ không mang lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp và đồng nghĩa với việc chịu lỗ hoặc bổ sung một lượng vốn để tiếp tục sản xuất
cho chu trình tiếp theo, và liệu như thế thì doanh nghiệp mới gia nhập ngành có thể
tiếp tục đứng vững.
3.1.2. Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành.
Các doanh nghiệp trong một ngành luôn là đối thủ của nhau luôn cạnh tranh với
nhau, ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh cũng không ngoại lệ. Khi một
trong các doanh nghiệp trong ngành thay đổi các chiến lược hay tung các sản phẩm
mới… thì đều làm cho tranh đua trở nên mạnh hơn bởi mỗi doanh nghiệp luôn muốn
khẳng định vị thế của mình trên thị trường.
3.1.2.1. Cấu trúc cạnh tranh của ngành.
+ Về mặt lượng:
Theo Cục Quản Lý Chất Lượng Nông Lâm và Thủy sản thông tin cập nhập đến
22/08/2011, kèm theo công văn số 1541/QLCL-CL1 ngày 22/08/2011 thì Việt Nam
có 510 doanh nghiệp chế biến thủy sản và được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
(các thủy sản đông lạnh). Các doanh nghiệp phân bố ở hầu hết các tinh ven biển
dọc theo bờ biển từ Quảng Ninh tới Kiên Giang (danh sách chi tiết), phần lớn tập
trung ở lượng lớn ở nam trung bội và đặt biệt là Nam bộ trong đó thành phố Hồ
Chí Minh là nhiều nhất, cho thấy rằng thị trường cạnh tranh khu vực trên sôi động
hơn.
+ Về mặt định tính:
Vì ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh là một ngành phân tán nên
không có công ty nào giữ vị trí thống trị trong ngành này, chưa có công ty nào có đủ
sức mạnh có thể tác động đến thị trường trong ngành.
Các sản phẩm thủy sản đông lạnh hầu như không có sự khác biệt giữa các doanh
nghiệp trong ngành, nên để cạnh tranh các đối thủ tìm đến các chiến lược marketing,
chiến lược giá, hệ thống phân phối… Các rào cản gia nhập ngành thấp bởi là ngành
phân tán, tạo thuận lợi cho các đối thủ tiềm năng gia nhập mong vớt lợi nhuận khi
những lúc ngành phát triển thuận lợi. Lúc này sẽ dư thừa năng lực sản xuất trong
ngành sản lượng tăng nhanh trên thị trên, để chứng tỏ năng lực vượt trội các doanh

sống sẽ được tiêu thụ nhiều tại các nhà hàng, các khu du lịch và đô thị lớn trên toàn
quốc.
- Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thủy sản nội địa : Tập quán tiêu dùng thủy sản
thô của người dân Việt Nam sẽ giảm, tỷ lệ tiêu dùng thủy sản đã qua chế biến, làm
sẵn, nhưng vẫn giữ độ tươi xạnh sẽ tăng lên trong thời gian tới vì người dân không có
thời gian để chế biến khi quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh
chóng, lúc này thủy sản đông lạnh sẽ đáp ứng nhu cầu đó.
 Theo như dự báo trên nhu cầu sản phẩm thủy sản đông lạnh tăng và kèm theo
đó là chất lượng sản phẩm cũng phải nâng lên thì việc các doanh nghiệp thủy sản
đông lạnh ganh đua mạnh hơn. Các doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ chế biến,
công nghệ làm lành sản phẩm an toàn hơn, quy mô sản xuất chế biến mở rộng… để
chiếm ươu thế trên thị trường sắp tới trước khi các doanh nghiệp khác cướp mất vị thế
này. Một khi các doanh khác nhận ra điều kiện này lúc này có sự chạy đua trong
ngành làm cho sự cạnh tranh cao hơn.
3.1.2.3. Các rào cản rời ngành.
Bất kể ngành nào đến giai đoạn suy thoái các doanh nghiệp cạnh tranh với mức độ
rất cao không phải tất các doanh nghiệp trong ngành đều sống sót một số doanh nghiệp
có năng lực ở lại còn một số đứng trước nguy cơ phải rời ngành. Tuy nhiên đối với
việc rời khỏi ngành cũng có những rào cản của nó, các nhân tố rào cản rời ngành đối
với ngành chế biến và bảo quản thủy sản đông lạnh có thể là:
- Doanh nghiệp gắn bó lâu năm với ngành này phai rởi bỏ thật không dễ dàng,
nhân tố tâm lý gắn bó với ngành.
- Thủy sản đông lạnh là một trong các ngành xuất khẩu mang về ngoại tệ cao, và
ngành cũng góp phần đảm bảo lượng thực trong nước, bởi khi ngành có chiều hướng
suy thoái gặp khó khăn thì lúc này chính phủ can thiệp giúp ngành vượt qua khó khăn.
Do đó đây xem là rào chắn từ phía chính phủ.
- Các doanh nghiệp thủy sản đông lạnh trong cuộc chiến thời kỳ suy thoái tin
tưởng sau thời kỳ khó khăn trước mắt thì ngành sẽ tươi sáng hơn có tương hơn trong
kỳ sau đó là niềm tin làm cho họ tiếp tục cố gắng bám trụ trong ngành.
- Một khi rời ngành thì họ phải tính đến việc gia nhập một ngành mới không phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status