phân tích chính sách đất đai của chính phủ - Pdf 10

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN

CHUYÊN ĐỀ
Phân tích chính sách nông nghiệp
“PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH PHỦ”
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Phan Văn Hoà Nguyễn Thị Phương
Lớp: K44 KTNN
Nhóm: N01
I. Đ ặt v ấn đ ề :
Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số
làm nông nghiệp. Là một ngành cực kỳ quan trọng và có tầm ảnh hưởng
rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đóng góp một phần không nhỏ
vào GDP của cả nước. Vì vậy, việc phát triển tốt một nền nông nghiệp
hiện đại sẽ đóng góp vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế đất nước, đẩy
mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đồng thời giúp cải thiện
nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân.
Đất đai là cội nguồn và điều kiện cơ bản cho sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn, đồng thời luôn được coi là vấn đề nhạy cảm và nóng
bỏng trong những năm gần đây. Thực tế cho thấy không thể phát triển
nông nghiệp, nông thôn và giải quyết được vấn đề nông dân nếu không có
một chính sách đất đai phù hợp. Việc phát triển nền nông nghiệp tiên tiến,
bên cạnh những nguồn lực của người nông dân thì những chính sách của
nhà nước đóng vai trò rất lớn. Vì vậy, việc phân tích chính sách đất đai
của chính phủ nhằm tìm ra những mặt hạn chế và những mặt tích cực của
chính sách này như thế nào từ đó đưa ra được các định hướng và các
chính sách mới của nhà nước trong tương lai.
II. Nội dung:
1. Cơ sở ra đời và mục tiêu của chính sách đất đai:

năm. Luật đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ
thể đối với cây hàng năm là 2ha ở miền Bắc và miền trung, 3ha đối với
các tỉnh miền Nam. Với cây lâu năm tối đa là 10ha đối với các xã vùng
đồng bằng và 30ha đối với trung du và miền núi.
Năm 1998, người nông dân được thêm 2 quyền sử dụng nữa là quyền
cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai.
Năm 2001, những sửa đổi bổ sung Luật đất đai năm 1993 cho phép
người sử dụng được tặng đất cho họ hàng, bạn bè và được đền bù nếu bị
thu hồi.
Luật Đất đai năm 2003 ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong
chính sách tài chính đất đai bằng hàng loạt các tư tưởng đổi mới mang
tính tiến bộ, phù hợp với cơ chế thị trường. Các nghị định, văn bản hướng
dẫn thi hành Luật đã từng bước phát huy trong cuộc sống, đặc biệt là các
chính sách tài chính đất đai như: Chính sách thu tiền sử dụng đất (Nghị
định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004); Chính sách thu tiền thuê đất,
thuê mặt nước (Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/10/2005); Chính
sách về giá đất (Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004); Chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004); Chính sách về đấu giá quyền
sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất (Quyết định số
216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005)
3. Những vấn đề về đất đai hiện nay:
- Đất đai sử dụng chư hợp lý dẫn đến lãng phí nguồn lực tương lai:
Nguồn lực đất đai chưa thực sự được huy động hiệu quả nhất để trở
thành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp phát triển tràn lan nhưng tỷ lệ lấp đầy thấp, sử
dụng lãng phí. Tình trạng đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện
dự án đầu tư nhưng chậm sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng vẫn còn
diễn ra khá phổ biến. Ngành lâm nghiệp với diện tích lớn, gần 14 triệu ha,
nhưng có đóng góp rất nhỏ cho nền kinh tế quốc dân khoảng 1% GDP.

Quy hoạch chồng chéo, ngắn hạn, bị phá vỡ thường xuyên:
Chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp, quy hoạch ngành không
gắn kết, trình tự quy hoạch không đi từ tổng thể đến chi tiết, và nhiều kế
hoạch không phù hợp quy hoạch mà vẫn thực hiện. Quy hoạch ngắn hạn,
kém hiệu quả dẫn tới sự lãng phí về tài nguyên đất. Sự phát triển ồ ạt của
các sân golf, sân bay, cảng biển… không tính đến hiệu quả, mức độ cần
thiết của từng dự án.
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật và chính sách đất đai hiện
nay được ban hành quá nhiều, thay đổi thường xuyên, thiếu tính thống
nhất, chồng chéo làm cho việc quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn; gây
thiệt hại cho nhà đầu tư, khiến nhiều nhà đầu tư không yên tâm đầu tư sản
xuất lâu dài.
4. Tác động tích cực của chính sách đất đai đối với nông nghiệp
nông thôn:
Tác động của chính sách đất đai đối với sự chuyển biến quan hệ
ruộng đất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn:
Một trong những thành tựu nổi bật, khởi sắc của nông nghiệp Việt
Nam trong thập kỷ vừa qua là sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn
đã thực sự được giải phóng. Nông nghiệp và kinh tế nông thôn có nhịp độ
tăng trưởng khá: giai đoạn 1986 – 2004, nông nghiệp tăng trưởng
3,905%, đặc biệt giai đoạn 1996-2000 tăng trưởng cao 4,47% là mức tăng
trưởng lý tưởng để đảm bảo kinh tế phát triển và bảo đảm an ninh lương
thực của đất nước. Nhiều vùng nông thôn bước đầu đã được đổi mới, đời
sống nhân dân được cải thiện. Mức sống về vật chất tăng lên tỷ lệ hộ
nghèo giảm. Sự biến đổi về quan hệ ruộng đất cũng đã tạo ra cơ sở và
động lực cho sự tự chủ của người nông dân và trên cơ sở đó góp phần dân
chủ hóa đời sống kinh tế-xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về đất đai từng bước được hoàn
thiện, tăng cường phân cấp cho địa phương, đáp ứng được ngày càng tốt
hơn yêu cầu quản lý đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt đối

các biện pháp bảo vệ thực vật và thâm canh. Những người không có khả
năng làm nông nghiệp hiệu quả cũng có thể nhượng quyền sử dụng đất
nông nghiệp cho người khác để có tiền chuyển sang làm các nghề phi
nông nghiệp. Nhờ đó, quá trình chuyên môn hóa ngành nghề và “sàng
lọc” để tìm ra người làm nông nghiệp giỏi được thúc đẩy nhanh hơn.
- Chính sách đất nông nghiệp kích hoạt thị trường bất động sản ở nông
thôn, tạo điều kiện phân bổ đất nông nghiệp hiệu quả, hình thành nhiều
ngành nghề mới ở nông thôn.
Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nông thôn được kích
hoạt đã tạo điều kiện cho giao dịch quyền sử dụng đất thuận lợi hơn, chi
phí giao dịch giảm. Do có thể chuyển nhượng dễ dàng quyền sử dụng đất
nông nghiệp nên đất đai cũng được sử dụng hiệu quả hơn theo tín hiệu
của thị trường, nhờ đó thúc đẩy quá trình phân bổ lại đất đai giữa trồng
trọt, thủy sản và chăn nuôi, đồng thời góp phần khôi phục và phát triển
nhiều làng nghề truyền thống.
5. Những hạn chế của chính sách đất đai:
Trước những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế, một số nội dung quản lý nhà nước về đất đai đã bộc
lộ những hạn chế, bất cập. Có thể nêu lên những hạn chế, yếu kém chủ
yếu trong quản lý, sử dụng đất đai là:
- Quy hoạch đất đai còn thiếu, chưa đồng bộ. Quy hoạch đất đai
chưa được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, khoa học với các loại quy
hoạch phát triển khác có liên quan. Nông thôn đang được đô thị hóa và
công nghiệp hóa trong bối cảnh chưa có quy hoạch tổng thể, rõ ràng về sử
dụng đất. Bình quân mỗi năm cả nước mất khoảng 74.000 ha đất nông
nghiệp chuyển thành đất phi nông nghiệp, chủ yếu xây dựng hạ tầng, các
khu, cụm công nghiệp và đô thị, trong đó 82,5% là đất canh tác loại tốt. Ở
các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, nếu chuyển 1 ha đất nông nghiệp
thành khu công nghiệp thì sẽ làm mất một tài sản sinh kế và ảnh hưởng
đến ít nhất 12-25 người dân sống ở nông thôn

sản xuất và phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, phân công lại
lao động trong nông thôn. Mức hạn điền quá nhỏ và tính chung cho tất cả
các loại cây trồng, vật nuôi là không hợp lý. Điều này đã gây khó khăn
cho việc tích tụ ruộng đất, thu hút lao động nông nghiệp, không phù hợp
với yêu cầu để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn.
- Thời hạn giao đất 20 năm là quá ngắn, với thời hạn này sẽ không
kích thích người dân đầu tư lâu dài vào đất đai, cải tạo đất và thâm canh.
Hiện nay, có hàng vạn trang trại và hàng triệu hộ nông dân băn khoăn bởi
20 năm sẽ không đủ thời gian vật chất để phát triển các trang trại sản xuất
hàng hóa có hiệu quả. Do vậy, khi quyền này bị bó hẹp trong thời gian
quá ngắn, sẽ cản trở người dân dùng đất đai để tiếp cận tới vốn tín dụng,
góp vốn với các doanh nghiệp, thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp
phù hợp với nhu cầu thị trường.
- Cách phân loại đất hiện nay theo Luật Đất đai gây ra những bất
cập cho Nhà nước khi thực hiện đăng ký, thống kê, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, vừa khó khăn trong quản lý, vừa làm cho người sử
dụng đất không xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trong sử dụng
đất.
- Giá bồi thường đất nông nghiệp không sát và thường thấp hơn so
với giá thị trường. Mặc dù Luật Đất đai quy định người dân có quyền
chuyển nhượng và trao đổi, nhưng lại không có quyền quyết định giá đất
khi Nhà nước chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Đây là một
trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bất ổn xã hội đã và đang
diễn ra
6. Giải pháp khắc phục hạn chế của chính sách đất đai:
- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp hợp lý theo lợi thế của từng vùng
từng lãnh thổ để khai thác cơ chế thị trường, đảm bảo tăng trưởng ổn định
bền vững, bảo vệ an ninh lương thực quốc gia, để nhà nước hôc trợ phát
triển cơ sở hạ tầng.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ, tăng cường giám sát việc thực hiện

phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, khu công nghiệp và đô thị. Cần
thận trọng hơn trong việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị và
khu công nghiệp.
+ Hai là, đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng
đất cho các hộ và trang trại;
+ Ba là, tiếp tục hoàn thiện các văn bản dưới luật quy định cụ thể về
chuyển nhượng, mua, bán đất đai, góp vốn bằng đất vào kinh doanh các
hoạt động này cần được bảo vệ bởi một hành lang pháp lý phù hợp;
+ Bốn là, chấp nhận một nhóm nông dân không có đất để trở thành
những người làm công hay tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp
hay làm dịch vụ.
+ Năm là, việc dồn điền, đổi thửa để giảm sự manh mún về đất đai
phải được dựa theo nguyên tắc thị trường, nghĩa là phải từ giá trị thu
được trên đơn vị diện tích của từng loại đất để trao đổi, không nên dựa
vào sự phân hạng đất theo chỉ số nông hóa thổ nhưỡng để làm hệ số quy
đổi.
- Cần nới rộng hạn điền một cách phù hợp và phải tính đến yếu tố
hiệu quả. Hạn điền quá nhỏ sẽ dẫn đến làm cho sản xuất manh mún, quá
lớn sẽ dẫn đến tình trạng đầu cơ về ruộng đất, bất ổn về mặt xã hội. Bởi
vậy, hạn điền của ta cần được nghiên cứu lại một cách khoa học và thực
tiễn cho từng vùng, từng nhóm cây trồng, vật nuôi cụ thể để có thời hạn
giao đất hợp lý.
- Việc đổi mới chính sách đất đai phải phù hợp với thời kỳ chuyển
đổi nền kinh tế, nghĩa là phải thực hiện điều tiết các quan hệ cung-cầu của
nền kinh tế thị trường và thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động
sản. Sự phù hợp này phải được thể hiện trên các mặt: lợi ích kinh tế của
người dân, của doanh nghiệp và quản lý hiệu quả của Nhà nước. Chính
sách, pháp luật về đất đai phải mang tính chiến lược thể hiện tầm vóc của
một chính sách lớn; không nên tùy tiện thay đổi thường xuyên và nhiều
ban ngành quản lý ra quyết định, quy định chồng chéo như hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status