nghiên cứu - trao đổi
20
tạp chí luật học số 10/2010 TS. Trần Hoàng HảI *
ThS. Đinh Thị Chiến **
ranh chp lao ng tp th (TCLTT)
l tranh chp gia tp th lao ng v
ngi s dng lao ng (NSDL), ni dung
tranh chp thng liờn quan n quyn v
li ớch ca tp th lao ng. Do vy, nu
khụng cú th tc gii quyt tranh chp tt s
d dn n cỏc hnh ng t phỏt ca tp th
lao ng. Lut sa i, b sung mt s iu
ca B lut lao ng s 74/2006/QH11 ngy
29/11/2006 ln u tiờn ó phõn bit hai loi
TCLTT l TCLTT v quyn v TCLTT
v li ớch, ng thi quy nh trỡnh t, th
tc khỏc nhau tng ng vi mi loi tranh
chp. Ln sa i, b sung ny ó khc phc
c mt s hn ch v th tc gii quyt
TCLTT trong phỏp lut lao ng trc
ú
(1)
TCLTT v li ớch. Th tc ny c thc
hin bi hi ng ho gii lao ng c s
(HHGLCS) hoc ho gii viờn lao ng
(HGVL). i vi doanh nghip cha cú
HHGLCS thỡ th tc ho gii do
HGVL thc hin, cũn i vi doanh
nghip ó cú HHGLCS thỡ vic la chn
HHGLCS hoc HGVL l do tp th lao
ng v NSDL quyt nh.
(2)
Theo quy
nh ca phỏp lut hin hnh,
(3)
th tc ho
gii c tin hnh nh sau: Trong thi hn
ba ngy k t ngy nhn c n yờu cu,
T
*, ** Ging viờn chớnh Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut TP. H Chớ Minh nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2010 21
Chủ tịch HĐHGLĐCS hoặc HGVLĐ được
phân công phải thông báo bằng văn bản về
việc triệu tập các bên tranh chấp lao động,
người làm chứng (nếu cần) và tổ chức phiên
họp hoà giải vụ tranh chấp lao động. Tại
chưa đảm bảo tính khách quan, trung lập và
mang tính hình thức. Theo quy định của
pháp luật hiện hành,
(4)
HĐHGLĐCS được
thành lập tại các doanh nghiệp có tổ chức
công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công
đoàn lâm thời (BCHCĐLT). Thành phần
của HĐHGLĐCS gồm số đại diện ngang
nhau của bên người lao động và bên
NSDLĐ. Đại diện bên NSDLĐ là người đại
diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền
bằng văn bản của doanh nghiệp; còn đại
diện bên người lao động do ban chấp hành
công đoàn cơ sở (BCHCĐCS) cử trong số
uỷ viên ban chấp hành công đoàn hoặc đoàn
viên công đoàn tại doanh nghiệp. Hai bên
có thể thoả thuận để lựa chọn một hoặc một
số chuyên gia ngoài doanh nghiệp có đủ
điều kiện tham gia vào hội đồng hoà giải.
Mô hình hội đồng hoà giải lao động cơ sở
được thành lập ngay tại các doanh nghiệp
nên đảm bảo được tính nhanh chóng, thuận
tiện và tiết kiệm chi phí cho các bên tranh
chấp,
(5)
khắc phục được tình trạng quá tải
công việc của các cơ quan hoà giải được
thành lập theo cấp hành chính. Tuy nhiên,
mô hình HĐHGLĐCS ở nước ta hiện nay
thêm thành viên bên ngoài là quy định mới
được bổ sung trong lần sửa đổi, bổ sung Bộ
luật lao động năm 2006 nhưng thành phần
chính và giữ vai trò quyết định của
HĐHGLĐCS vẫn là đại diện BCHCĐCS
hoặc BCHCĐLT và đại diện của NSDLĐ.
Thứ hai, quy định lựa chọn cơ quan hoà
giải chưa đầy đủ, có thể gây ra bế tắc trong
việc giải quyết tranh chấp
Quy định cho phép các bên thoả thuận
lựa chọn cơ quan hoà giải tranh chấp lao
động là điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung
năm 2006. Quy định này có lẽ để nhằm khắc
phục tính hình thức của HĐHGLĐCS trong
trường hợp giải quyết TCLĐTT. Tuy nhiên,
điểm hạn chế của quy định này là ở chỗ chưa
lường trước được khả năng các bên không
thoả thuận được việc lựa chọn cơ quan giải
quyết tranh chấp lao động. Trong trường hợp
này thì không rõ tranh chấp lao động sẽ do
cơ quan nào giải quyết.
Thứ ba, pháp luật chưa quy định cơ chế
thi hành biên bản hoà giải thành
Pháp luật hiện hành chỉ quy định hai bên
có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi
trong biên bản hoà giải thành.
(8)
Nhưng nếu
một bên không chịu thực hiện các thoả thuận
ghi trong biên bản hoà giải thành thì pháp
(9)
Trong quá trình giải quyết TCLĐTT về
quyền, nếu xét thấy tranh chấp đó phát sinh
từ hành vi vi phạm pháp luật lao động, thoả
ước lao động tập thể, nội quy lao động đã
được đăng kí và các quy chế, thoả thuận hợp
pháp khác tại doanh nghiệp thì chủ tịch
UBND cấp huyện ra quyết định xử phạt vi nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2010 23
phạm hành chính đối với các hành vi vi
phạm theo quy định của pháp luật về xử phạt
hành chính. Cơ quan lao động cấp huyện
phối hợp với Liên đoàn lao động cấp huyện
hoặc tương đương giúp chủ tịch UBND cấp
huyện giám sát việc thực hiện các quy định
của pháp luật của các bên tranh chấp về việc
giải quyết tranh chấp lao động.
Sau khi chủ tịch UBND cấp huyện đã
giải quyết mà hai bên vẫn còn tranh chấp
hoặc hết thời hạn giải quyết mà chủ tịch
UBND cấp huyện không giải quyết thì mỗi
bên có quyền yêu cầu toà án nhân dân giải
quyết hoặc tập thể lao động có quyền tiến
hành các thủ tục để đình công.
(10)
trọng tài hay xét xử). Cách thức giải quyết
tranh chấp lao động tập thể của chủ tịch
UBND cấp huyện theo quy định của pháp
luật hiện hành là xử phạt vi phạm hành
chính đối với các hành vi vi phạm theo quy
định của pháp luật; trong khi đó TCLĐTT
về quyền là các tranh chấp lao động phát
sinh do tập thể lao động cho rằng NSDLĐ
vi phạm pháp luật lao động, thoả ước lao
động tập thể, nội quy lao động đã được
đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp
pháp khác ở doanh nghiệp.
(12)
Như vậy, nếu
chủ tịch UBND cấp huyện tiến hành xử
phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi
phạm, đồng thời yêu cầu NSDLĐ khôi phục
các quyền lợi bị vi phạm của tập thể lao
động thì tranh chấp lao động xem như đã
được giải quyết xong. Tuy nhiên, cách thức
giải quyết này có điểm bất cập ở chỗ: Thứ
nhất, những hành vi vi phạm của NSDLĐ
chưa được quy định là hành vi vi phạm
hành chính thì chủ tịch UBND không thể ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính
cũng như yêu cầu các bên khắc phục;
(13)
Thứ hai, có những trường hợp tập thể cho
giải vụ TCLĐTT khi có ít nhất hai phần ba
số thành viên của hội đồng có mặt (trong đó
phải có các thành viên của sở lao động -
thương binh và xã hội, liên đoàn lao động
tỉnh, đại diện của NSDLĐ địa phương).
HĐTTLĐ đưa ra phương án hoà giải để hai
bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận
phương án hoà giải thì HĐTTLĐ lập biên
bản hoà giải thành. Hai bên có nghĩa vụ chấp
hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà
giải thành.
(14)
Trường hợp hai bên không
chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên
tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lí do
chính đáng thì HĐTTLĐ lập biên bản hoà
giải không thành. Trường hợp HĐTTLĐ hoà
giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết
tranh chấp theo quy định của pháp luật mà
HĐTTLĐ không tiến hành hoà giải thì tập
thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục
để đình công.
Theo chúng tôi, với các quy định pháp
luật nêu trên, thủ tục giải quyết tranh chấp
lao động của HĐTTLĐ thực chất cũng là
thủ tục hoà giải.
(15)
Đây là bước hoà giải
thứ hai đối với TCLĐTT về lợi ích. Thủ
nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 10/2010 25
II. KIN NGH, HON THIN PHP
LUT TH TC GII QUYT TCLTT
1. Nõng cao cht lng ca bc ho
gii c s bng cỏch quy nh thm quyn
ho gii TCLTT cho ban ho gii lao
ng (BHGL) thay cho HHGLCS v
cỏ nhõn HGVL nh hin nay
Nh ó phõn tớch trong phn trờn, mụ
hỡnh HHGLCS nc ta hin nay cha
ỏp ng iu kin ca mt c quan ho gii
tranh chp lao ng xột c trờn phng din
lớ lun v thc tin. Do vy, theo chỳng tụi,
nờn b t chc ny v giao vic ho gii cho
HGVL. Tuy nhiờn, m bo tớnh khỏch
quan, thn trng trong vic gii quyt TCLTT,
nờn giao nhim v ho gii cho mt ban ho
gii lao ng (BHGL), thay vỡ HGVL nh
phỏp lut hin hnh v theo D tho BLL
ln th ba.
(19)
BHGL bao gm ba HGVL
do c quan lao ng ch nh trong tng v
tranh chp lao ng c th. Trc õy, khi cú
tranh chp xy ra, c quan lao ng c mt
ho gii viờn lao ng gii quyt thỡ bõy gi
s c ra ba HGVL cú kinh nghim trong s
UBND cp huyn.
3. Quy nh li thm quyn ca HTTL
cho ỳng bn cht ca mt c quan ti
phỏn trng ti trong lnh vc lao ng
Khi TCLTT c a ra gii quyt
theo th tc trng ti, trng ti lao ng phi
cú quyn ra phỏn quyt nu ho gii khụng
thnh. Tớnh bt buc ca phỏn quyt trng ti
ph thuc vo s t nguyn hay khụng ca c
hai bờn tranh chp khi a tranh chp ra gii
quyt ti HTTL (s c trỡnh by c th
trong phn hon thin th tc trng ti).
4. B quyn ỡnh cụng ca TTL i
vi TCLTT v quyn
V mt lớ lun, TCLTT v quyn l
loi tranh chp cú c s phỏp lớ phõn nh
ỳng, sai, HTTL hoc to ỏn nhõn dõn cú
th a ra c phỏn quyt da vo nhng
c s phỏp lớ ú. Cho nờn khụng nht thit
TTL phi s dng n cụng c ỡnh cụng - nghiªn cøu - trao ®æi
26
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2010
loại công cụ có thể gây thiệt hại rất lớn cho
NSDLĐ và có thể ảnh hưởng đến trật tự, trị
an xã hội, sự phát triển kinh tế đất nước.
bao gồm ba HGVLĐ, trong đó chỉ định một
HGVLĐ là trưởng ban. Sau khi được phân
công, trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh
chấp, BHGLĐ phải trực tiếp tìm hiểu vụ việc
để đưa ra phương án hoà giải. Trưởng
BHGLĐ sẽ phân công các thành viên tìm
hiểu vụ việc như tổ chức gặp gỡ đương sự
hoặc trực tiếp xuống doanh nghiệp để tìm
hiểu vụ việc. Sau đó, tổ chức họp BHGLĐ
để đưa ra một hoặc nhiều phương án hoà
giải. Phương án hoà giải được đưa ra trên cơ
sở biểu quyết theo đa số. Trong thời hạn 5
ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải
quyết tranh chấp, BHGLĐ phải đưa vụ việc
ra hoà giải. Tại buổi hoà giải, nếu các bên
thoả thuận được về vấn đề tranh chấp hoặc
chấp nhận phương án hoà giải do BHGLĐ
đưa ra thì BHGLĐ sẽ lập biên bản hoà giải
thành. Các bên có trách nhiệm thực hiện các
thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành.
Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc
không hoà giải được (do một bên không có
mặt sau khi đã triệu tập hai lần) thì BHGLĐ
sẽ lập biên bản hoà giải không thành. Tiếp
theo, đối với TCLĐTT về quyền, các bên có
quyền yêu cầu HĐTTLĐ hoặc toà án giải
quyết; còn đối với TCLĐTT về lợi ích thì
tập thể lao động có quyền yêu cầu HĐTTLĐ
giải quyết hoặc tiến hành các thủ tục để đình
quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết
tại HĐTTLĐ hoặc toà án nhân dân. Nếu thoả
thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp
không thành thì tranh chấp chỉ có thể được
đưa ra giải quyết tại toà án theo yêu cầu của
một hoặc hai bên tranh chấp. Thủ tục giải
quyết tranh chấp tại toà án được thực hiện
theo quy định của luật tố tụng dân sự. Trong
trường hợp các bên thoả thuận đưa tranh chấp
ra giải quyết tại HĐTTLĐ thì thủ tục cũng
được tiến hành như tranh chấp về lợi ích
nhưng trong trường hợp hoà giải không thành
thì phán quyết của HĐTTLĐ là bắt buộc và
mang tính chung thẩm.
Đối với TCLĐTT vừa về quyền, vừa về
lợi ích thì bước trọng tài là bắt buộc. Nếu các
bên thoả thuận được với nhau về vấn đề tranh
chấp hoặc đồng ý với phương án hoà giải do
HĐTTLĐ đưa ra thì HĐTTLĐ ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các bên. Nếu
không hoà giải được, HĐTTLĐ sẽ ra quyết
định giải quyết tranh chấp, trong đó nói rõ nội
dung tranh chấp nào là về quyền, nội dung
tranh chấp nào là về lợi ích. Trong thời hạn
ba ngày làm việc, nếu các bên không đồng ý
với quyết định của HĐTTLĐ thì có quyền
yêu cầu toà án giải quyết đối với nội dung về
quyền; tập thể lao động có quyền tiến hành
các thủ tục đình công đối với các nội dung về
lợi ích. Nếu quá 3 ngày làm việc mà các bên
nghiªn cøu - trao ®æi
28
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2010của Chính phủ số 133/2007/NĐ-CP.
(5). Đây là một yêu cầu của cơ quan giải quyết tranh
chấp lao động. Xem: International Labour Office,
Conciliation and Arbitration Procedures in Labour
Disputes: A Comparative Study (International Labour
Office: Geneva, 1980), tr. 43.
(6).Xem thêm: International Labour Office, Conciliation
and Arbitration Procedures in Labour Disputes: A
Comparative Study (International Labour Office:
Geneva, 1980), tr. 43 - 44; Nguyễn Xuân Thu, “Tranh
chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động”
trong Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên), Giáo trình Luật
lao động Việt Nam, Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2009, tr.
447; Nguyễn Văn Bình, “Hoà giải các tranh chấp lao
động trong giai đoạn tiền tố tụng – một số vấn đề đặt
ra và hướng hoàn thiện”, Tạp chí nhà nước và pháp
luật, số 3/2006, tr. 41.
(7).Xem: Điều 159 Bộ luật lao động.
(8).Xem: Khoản 2 Điều 165a Bộ luật lao động.
(9).Xem: Điều 170a, 170b Bộ luật lao động; Điều 9, 10
Nghị định của Chính phủ số 133/2006/NĐ-CP.
(10). Khoản 2 Điều 170 Bộ luật lao động; Thủ tục
p.151; И.Я. Киселев. Сравнительное и международное
трудовое право. М., изд. Дело, 1999, с. 266 - 267, 279.
(18). Trọng tài tự nguyện do hai bên lựa chọn nên
phán quyết của tổ chức này mang tính bắt buộc. Đối
với trọng tài bắt buộc – do chỉ được một trong hai bên
hoặc cơ quan nhà nước yêu cầu thành lập nên việc thi
hành phán quyết của trọng tài chỉ mang tính tự
nguyện. Xem: И.Я. Киселев. Сравнительное и
международное трудовое право. М., изд. Дело,
1999, c. 277; International labour office, Conciliation
and arbitration procedure in labour disputes, Geneve,
1080, p. 151 - 155.
(19). Dự thảo Bộ luật lao động lần thứ ba cũng bỏ
thẩm quyền hoà giải TCLĐTT của HĐHGLĐCS
nhưng giao cho cá nhân HGVLĐ hoà giải.
(20). Theo quy định của pháp luật hiện hành, bất kì cá
nhân nào có đủ điều kiện cũng có thể trở thành
HGVLĐ. Đối với những nơi tập trung nhiều doanh
nghiệp như các thành phố lớn, các khu công nghiệp
thì có thể bổ nhiệm nhiều HGVLĐ hơn.
(21). Pháp luật lao động Liên bang Nga cũng quy
định như vậy: Theo khoản 2 Điều 416 Bộ luật lao
động của nước này, NSDLĐ, đại diện tập thể lao
động phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định
của pháp luật về vi phạm hành chính trong trường
hợp không thực hiện trách nhiệm theo thỏa thuận đã
đạt được trong quá trình hoà giải hoặc không thực
hiện phán quyết của trọng tài lao động. Với hành vi
đó, theo Điều 5.33 Bộ luật về vi phạm hành chính
Liên bang Nga quy định mức phạt từ 2.000 đến 4.000