w
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ VÀ
KINH
DOANH
Quốc
TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TẾ
Đối
NGOẠI
KHOA
LUẬN
TÓT NGHIÊP
ĐÊ
TẢI:
ÁP
DỤNG
THUÊ THU
NHẬP
DOANH
NGHIỆP
ớ MỘT số
LỤC
LỜI
MỞ
ĐẦU
Ì
CHƯƠNG 1:
MỘT số VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN
VÈ
THUẾ
THU
NHẬP
DOANH
NGHIỆP
4
1.1.
KHÁI QUÁT
VỀ
THUẾ
4
1.1.1.
Khái
niệm
và các đặc trưng
của
thuế
4
1.1.2.
Phân
loại
Khái
niệm
và đặc điểm
của
thuế thu
nhập doanh
nghiệp
15
Ì
.2.2.
Vai
trò
của
thuế thu
nhập doanh
nghiệp
trong
nền
kinh
tế
17
1.2.3.
Nguyên
tắc
thiết
lập thuế thu
nhập doanh
nghiệp
19
CHƯƠNG 2:
GIỚI
23
2.2.
THUẾ
THU
NHẬP
DOANH
NGHIỆP
Ở
SINGAPORE
23
2.2.1.
Người
nộp
thuế
25
2.2.2.
Thu
nhập chịu
thuế
26
2.2.3.
Lãi vốn
26
2.2.4.Thu
nhập
được
miễn
thuế
26
Khía
cạnh
quốc
tế
của
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
31
2.3.
THUẾ
THU NHẬP DOANH
NGHIỆP
Ở
HÀN
QUỐC 32
2.3.1.
Người nộp
thuế
34
2.3.2.
Thu
nhập
chịu
thuế
36
2.3.3.
Lãi vốn
36
thuế
41
2.3.10.
Nhóm công
ty
42
2.3.11.
Khía
cạnh
quốc
tế
của
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
42
2.4.
THUẾ
THU NHẬP DOANH
NGHIỆP
Ở TRUNG QUỐC 44
2.4.
Ì.
Đối
tượng
nộp
thuế
45
2.4.2.
2.4.8.
Ưu
đãi
thuế
48
2.4.9.
Quản
lý
thuế
49
2.4.10.
Nhóm công
ty
51
2.4.11.
Khía
cạnh
quốc
tế
của
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
51
2.5.
BÀI
HỌC
KINH
NGHIỆM
tức
59
2.5.5.
về khía
cạnh quốc
tế
của thuế thu
nhập doanh
nghiệp
60
CHƯƠNG 3:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỆ
GIẢI
PHÁP
GÓP PHẦN
HOÀN
THIỆN
THUẾ THU NHẬP
DOANH
NGHIỆP
CỦA
VIỆT
NAM
62
3.1.
THỰC TRẠNG
CHÍNH SÁCH
THUẾ THU NHẬP
DOANH
NGHIỆP
THUÊ
THU
NHẬP
DOANH
NGHIỆP
Ở
VIỆT
NAM 78
3.2.1.về
chi
phí hợp
lý
được
khấu
trừ
khi
xác định
thu
nhập chịu
thuế
78
3.2.2.về
chính sách ưu
đãi thuế thu
nhập doanh
nghiệp
80
3.2.3.Điều
chỉnh
chính sách
Thuế
là một
trong
những
công
cụ
của
Nhà
nước,
không ngoài
mục
đích là
tạo
hành
lang
pháp lý
với
những
chuẩn
mực
chung
phù
họp
với
nên
kinh tế thế
giới,
là
cơ
sờ để
tham
gia
vào quá trình
hội
nhập
quốc
tế
về
kinh
tế.
Theo
cùng
với
những
cải
cách về
kinh tế,
hệ
thông
thuế
của
Việt
Nam
cũng
có
những
thay đổi
căn
bản.
Công
TNDN đã
phát huy tác
dụng
tích cực
trong
những
năm
qua.
Tuy
nhiên,
trước sự vận động không
ngừng
của
nền
kinh tế thị
trường
ở
nước
ta
và
với
vị
thế
là một nước đang phát
triển,
thực
hiện
chính sách
mờ
cảa thì
các
tài
liệu
nghiên cứu cho
thấy,
Chính phủ
các
nước
đã xây
dựng
chính sách
thuế
của
quốc
gia
mình gắn
chặt với lợi
ích
quốc
gia,
đặc
biệt
là ban hành
những
chính sách
để
định
hướng
và
khuyến
đảm
bảo
nguồn
thu
ngân sách
bằng
nhiều
chính sách thông thoáng,
rõ
ràng,
minh
bạch,
trong
đó
chính sách
thuế,
đặc
biệt
là thuế
TNDN
luôn được chú
trọng.
Xuất
phát
từ
tình hình
trên,
việc
nghiên
cứu,
tính
khách
quan
nhằm
khắc
phục
những
hạn chế của pháp
luật
thuế
TNDN
hiện
hành,
giúp
cải
thiện
tính
minh
bạch,
thông thoáng của môi trường đầu
tư,
phù
hợp với thực tế
phát
triứn
kinh tế
xã
hội trong
nước và thông
lệ
điứm
của
thuế
TNDN,
vai
trò
cùa
thuế
TNDN
trong
hệ
thống
thuế
cũng
như
trong
nền
kinh tế
xã
hội,
nguyên
tắc
thiết
lập thuế
TNDN.
-
Tìm
hiứu kinh
nghiệm
áp
Việt
Nam
trong
thời
gian
tới.
3.
Đối
tượng và phạm
vi
nghiên cứu
Đối
tượng nghiên cứu cùa
đề
tài là
thuế
TNDN,
bao
gồm
chính sách
thuế
TNDN
và
việc thực hiện
chính sách
thuế
TNDN ở
một số
nước.
Phạm
có
nhiều
đặc
điứm
tương đồng về
kinh tế
xã
hội
với
Việt
Nam. Hàn
Quốc
và
Singapore
là
hai
nước
có
xuất
phát
điứm
thấp
nhưng nhờ
cải
thiện
cơ
sờ hạ
tầng, chất
lượng
nguồn
có
nhiều
điứm
tương đồng
trong
chiến
lược phát
triứn
kinh tế
và
mô
hình phát
triứn
của
Trung
Quốc
cũng
được
Việt
Nam
học
tập
và
tham
khảo.
2
4.
Phương pháp nghiên
cứu
Đe
về
thuế
TNDN.
5. Két cấu của khóa
luận
Khóa
luận
được
chia
làm 3
phần: phần
lời
mờ
đầu, phần nới dung
chính
gồm 3
chương,
và
phần
kết luận, trong
đó:
Chương
Ì:
Mớt số
vấn
đề lý
luận
về
thuế thu
nhập doanh
Việt
Nam
Em
xin
chân thành
cám ơn cô
giáo
-
Thạc
sỹ
Vũ
Thị
Hiền
đã
tận
tình
hướng dẫn,
giúp
đỡ và
chỉ bảo
em
trong
quá
trình
viết
và
hoàn thành khóa
luận tốt
nghiệp
này.
gắng
nhưng
do
thời
gian
và
tầm
hiểu
biết
có
hạn nên bài
viết
không
thể
tránh
khỏi
mớt số
sai
sót,
hạn chế.
Em
rất
mong
các Quý
thầy
cô,
bạn
bè
quan
tâm phê
kinh
tế
và
tài liệu
hiện
nay
ở
Việt
Nam
cũng
như
trên
thế giới,
cho đến nay vẫn chưa
có sự
thống
nhất
tuyệt
đối
khái
niệm
về
thuế.
Nhiều
quan
điểm
đưa
ra
mới nhìn
nhận
Mác
đã
chỉ rõ:
"Đe duy
trì
quyền
lực
công
cộng
đó, cần
phải
có
những
sự
đóng góp của
những
người
công dân cùa
Nhà
nước,
đó
là
thuế
má "
(Mác
-
Ăng
ghen
tuyển
tập,
Bryan
Lowes cho
rằng:
"Thuế là một
biện
pháp của Chính phủ đánh trên
thu
nhập
của
cải
và
vốn
nhận
đườc của
các cá
nhân hay
doanh
nghiệp
(thuế
trục
thu),
trên
việc
chi
tiêu về hàng hoa
và
dịch
vụ
(thuế
gián
tính
chất
xác
định,
không hoàn
trả
trực
tiếp
do các
công
dân
đóng
góp
cho
Nhà
nước thông qua con đường
quyền
lực
nhằm
bù
đắp
những
chi
tiêu
của
Nhà
nước".
Nhìn
chung,
thuế
hờp
phạm pháp
về
4
thuế.
Định
nghĩa
cùa Tổ
chức
Hợp tác và Phát
triển
kinh tế
(OECD)
về
thuế
là
"khoản
thanh
toán
bắt
buộc
cho Chính phủ mà không được đền
bù".
Không
được
đền bù ở đây có
nghĩa
là
lợi
ích
sản phẩm xã
hội
và
thu
nhằp
quốc
dân nhằm hình thành các quỹ
tiền
tệ tằp trung
của Nhà nước để
đáp ứng các nhu cầu
chi
tiêu cho
việc thực hiện
các
chức
năng,
nhiệm
vụ của
Nhà
nước".
Trên góc độ
người
nộp
thuế, thuế
được xem là một
biện
pháp đặc
biệt,
theo
của các
công dân,
hoạt
động và đồ
vằt
(như
giao
dịch,
tài
sản)
nhằm huy động tài
chính cho chính
quyền,
nhằm tái phân
phối thu
nhằp
hay
điều
tiết
các
hoạt
động
kinh tế -
xã
hội".
Từ
những
nội
dung
trên,
1.1.1.2. Các đặc trưng của thuế
Bản chất của thuế
được
thể hiện bởi
các
thuộc
tính bên
trong,
vốn có
của thuế.
Những
thuộc
tính đó có tính ổn định tương
đối
qua
từng
giai
đoạn
phát
triển
và
biểu hiện
thành
những
đặc trưng riêng có của
thuế,
qua đó giúp
ta
phân
biệt
E.
Stigliz
cho
rằng:
"Thuế
khác
với
đa số các
khoản
chuyên
giao
tiền
từ người
này
sang người
kia:
trong khi tất
cả
những khoản chuyển
giao
đó
là
tự
nguyện thì
thuế
lỉi
là
bắt
buộc".
Đặc
phối
mang tính
chất
bắt buộc
dưới
hình
thức thuế
là phương
phức
phân
phối
của Nhà
nước,
theo
đó một bộ
phận
thu
nhập
của
người
nộp
thuế
được
chuyển
giao
cho Nhà
nước
mà không kèm
theo
một sự
không gắn
với
lợi
ích cụ
thể
của
người
nộp
thuế,
do
đó,
không
thể
sử
dụng
phương pháp tự
nguyện
trong việc
chuyển
giao.
Đẻ đảm bảo nhu cầu
chi
tiêu công
cộng,
Nhà
nước
tất
yếu
phải
sử
do
Nhà nước
cung cấp.
Để duy trì
hoỉt
động
cung
cấp hàng hoa công
cộng
thì
thu
nhập
về hàng hoa công
cộng
từ
những người thụ hưởng
phải
đủ bù đắp
các
chi
phí bỏ
ra.
Nhưng hàng hoa công
cộng
lỉi
có tính
chất
đặc
biệt
vì nó
trường để bù
6
đắp các
chi
phí.
Chính vì
thế trong việc
cung
cấp
loại
hàng hoa đặc
biệt
này
đã
xuất hiện
những "người
ăn
không",
nghĩa
là không có
ai
tự nguyện
trả tiền
cho
việc
thụ
hưởng
hàng hoa công
cộng.
Do đó, để đảm bảo
bắt
buộc của
thuế
không có
nội
dung
hình
sự,
nghĩa
là
hành động đóng
thuế
cho Nhà nước không
phải
là
hành động
xuất hiện khi
có
biểu
hiện
phạm
pháp,
mà hành động đóng
thuế
là hành động
thực hiện
nghĩa
vụ
công dân.
Đặc
tính
tự
nguyện
và có tính
chất đối
giá. Phạt
tiền
là
hình
thực bắt
buộc
nhưng
chi
áp
dụng
khi
người bị
phạt
có hành
vi
phạm pháp
luật.
b.
Tính không hoàn
trả
trực
tiếp
Tính không hoàn
trả
trực
thuế,
Nhà nước không hề
cung
ứng
trực
tiếp
một
dịch
vụ công
cộng
nào cho
người
nộp
thuế.
Sau
khi
nộp
thuế,
Nhà nước
cũng
không có sự
bồi
hoàn
trực
tiếp
nào cho
người
nộp
thuế.
Người
vụ công
cộng
hon so
với
số
thuế
mà hố
phải
trà và hố
cũng
không
thể
từ
chối
nộp
thuế
với
lý do hố đã
phải thanh
toán cho các
khoản
chi
trái
với
nguyên
tắc
này. Đặc
điểm
này giúp
ta
tổ
chức
chính
trị,
đại diện
cho
quyền
lợi
của
giai
cấp
thống
trị, thi
hành các chính sách do
giai
cấp
thống
trị
đặt ra để
quửn
lý xã
hội.
Vì
vậy,
để bắt
buộc
công dân
"tự
nguyện"
nộp
thuế
thường
xác định trước các yếu
tố
có tính
chất
điều
chỉnh
hành
vi
nộp
thuế
như: đối
tượng
chịu
thuế, đối
tượng nộp
thuế, thuế suất,
thời
hạn nộp
thuế
và
những
chế tài
mang tính
bắt
buộc
khác.
1.1.2.
Phân
loại
thuế
có ý
nghĩa
quan
trọng trong việc
quửn
lý
thu
thuế từ
khâu xây
dựng
chính sách đến
triển
khai thực
hiện.
Nhờ phân
loại
thuế
mà
hiểu
rõ
những
điểm
đặc thù của
từng
loại
thuế
và ửnh hưởng của
chúng
trực
tiếp
đánh vào
thu
nhập
của
tổ
chức,
cá
nhân,
ví dụ như
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp,
thuế thu
nhập
cá nhân,
thuế
chuyển
lợi
nhuận
ra
nước ngoài
Đặc
điểm
của
thuế
trực
thu:
hội
hơn
thuế
gián
thu
vì
phần
đóng
thuế
8
thường
phù hợp
với
khả năng của
từng đối
tượng.
Ngoài
ra,
thuế
trực
thu
còn
cho
phép tính đến
những
yếu
tố
khác như hoàn
cảnh
bản
thu
thường bao gồm các
sắc thuế
có cơ sở đánh
thuế là thu
nhập
nhận
được.
ụ
nước
ta,
thuế
trực
thu
bao gồm:
thuế thu
nhập
cá nhân,
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp,
thuế
nhà
đất
b.
Thuế gián
thu
Thuế
gián
như
thuế
tiêu
thụ
đặc
biệt,
thuế
giá
trị
gia
tăng,
thuế
nhập
khẩu.
Người
sản
xuất
hàng hoa và
dịch
vụ
cộng
thêm
phần
thuế
vào giá bán hàng hóa
dịch
vụ của mình,
khi
hàng hoa và
dịch
gánh
nặng
thuê
trong
những
trường
hợp
nhất
định.
Thuế gián
thu
tránh được
quan
hệ
giữa
người
chịu
thuế
và cơ
quan
thuế
nên dễ
thu
hơn
thuế
trực
thu.
Thuế gián
thu
dễ điều
thuế.
Vì
thuế
gián
thu
áp
dụng
như
nhau
đối với
cùng một
loại
hàng
hoa,
dịch
vụ nên mọi
đối
tượng sử
dụng
hàng
hoa,
dịch
vụ số lượng như
nhau
thì
chịu
thuế
như
nhau,
mặc dù
loại
theo đối tượng chịu thuế
Căn cứ vào
đối
tượng
chịu
thuế,
có
thể chia
các sắc
thuế
thành ba
loại:
a.
Thuế
thu
nhập
Thuế
thu
nhập
bao gồm các sắc
thuế
có
đối
tượng
chịu
thuế
là
thu
nhập
phần
Do
vậy, thuế
thu
nhập
có
nhiều
hình
thức
khác
nhau
như
thuế thu
nhập
cá
nhân,
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
b.
Thuế tiêu dùng
Thuế
tiêu dùng là các
loại
thuế
có
đối
tượng
chịu
gia
tăng
c.
Thuế
tài
sựn
Thuế
tài sựn là các
loại
thuế
có
đối
tượng
chịu
thuế
là giá
trị
tài sựn.
Tài sựn có
nhiều
hình
thức biểu
hiện:
tài sựn tài chính gồm
tiền
mặt,
tiền
gửi
chứng
khoán ;
cách phân
loại
này có:
- Thuế đánh vào
hoạt
động sàn
xuất, kinh
doanh,
dịch
vụ như
thuế
doanh
thu,
thuế
giá
trị
gia
tăng.
10
-
Thuế
đánh vào hàng hoa như
thuế xuất
khẩu,
thuế
nhập
khâu, thuê
tiêu
thụ
đặc
quan
hệ
với khả
năng nộp
thuế,
phân
loại
theo
phạm
vi
thẩm
quyền
về
thuế
1.1.3.
Các
yếu tố cấu
thành
một
sắc thuế
1.1.3.1.
Tên gọi
Mỗi
sắc
thuế
đều có một tên
gọi
nhằm phân
biệt
giữa
điều
chỉnh
của
sắc thuế đó.
Ví dụ như
"thuế thu
nhập
doanh
nghiệp"
đánh vào
thu
nhập
của pháp nhân là các
doanh
nghiệp,
"thuế
giá
trị
gia
tăng" đánh vào
phần
giá
trị
tăng thêm của hàng
hoa,
dịch
vụ sau mỗi chu
kỳ
luân
chuyển
có
thể là thể
nhân
hoặc
pháp nhân được
luật
pháp
xác định có trách
nhiệm
phải
nộp
thuế
cho Nhà
nước.
Do
tồn tại
cơ chế
chuyển
dịch
gánh
nặng
thuế
nên
người
nộp
thuế
có
thể
không
phải
riêng,
chẳng
hạn
đối
tượng
chịu
thuế
giá
trị
gia
tăng là hàng
hoa,
dịch
vụ sàn
xuất
và tiêu dùng
trong
nước,
đối
tượng
chịu
thuế
tiêu
thụ
đặc
biệt
là hàng hoa và
dịch
vụ tiêu
li
thuế
được xác định
làm căn cứ tính
thuế.
Do
đối
tượng
chịu
thuế
là
thu nhập,
hàng
hoa,
hay tài
sản,
do
đó,
cơ sở tính
thuế
là
thu
nhập chịu
thuế,
giá
trị
của hàng hoa
hoặc
giá
trị
của tài
tương ứng có
thắ trở
thành cơ sờ của
một
loại
thuế
khác.
1.1.3.5. Mức
thuế
Mức
thuế thắ hiện
rõ mức động viên
của
Nhà nước so
với
cơ sở tính
thuế
và được
thắ hiện
dưới
hình
thức thuế suất
hay định
suất thuế.
Thuế
suất
là
linh
hồn của sắc
thuế,
vậy, việc
xác định
thuế suất trong
một
luật
thuế phải
quán
triệt
quan
điắm
vừa
coi trọng
lợi
ích
quốc
gia,
vừa chú ý đến
lợi
ích của
người
nộp
thuế.
1.1.4.
Chức năng
của
thuế trong
nền
kinh
tế
1.1.4.1.
nguồn
lực
tài
chính mà quỹ
tiền
tệ tập trung
vào Nhà nước được hình
thành,
qua đó làm cơ sở
vật chất
cho sự
tồn
tại
và
hoạt
động của Nhà
nước.
Chức năng này
tạo ra những
tiền
đề đắ Nhà nước
tiến
hành phân
phối
và phân
phối
lại
sản
phẩm
xã
nguồn
thu
chủ yếu
trong
ngân sách
Nhà
nước.
Theo
nghiên cứu
năm
2008
của
ủy
ban
châu
Âu
về
xu
hướng
thuế
ở 27
nước
thuộc
Liên
minh
châu Âu,
thuế
chiếm
trung
bình
2006
của
OECD,
doanh
thu thuế
ờ Mỹ
và
Nhật
Bản
lần
lượt
chiếm
28%
và
27,9%.
Hình 1:
Tỷ
lệ
%
thu
nhập
từ
thuế
so
với
GDP
của
các
nước
trong
đóng góp
an
sinh
xã
hội)
Nguồn:
ủy
Ban
châu
Ẩu
(2008), "Taxatìon trends
in the
European Union
"
13
Như
vậy, thuế
chính là
nguồn
thu
chù yếu cho ngân sách Nhà
nước.
Chức năng huy động
nguồn
lực tài
chính
tạo ra
những
tiền
đề khách
điều chỉnh
vĩ
mô,
điều tiết
nền
kinh
tê
Chức năng
điều
tiết
kinh tế của thuế
dù có cơ sờ hay phát
sinh từ
chức
năng huy động và
tập trung
nguồn
lực
nhưng
chỉ
được
nhận
thức
và sỷ
dụng
rộng
rãi tà
những
năm đầu
thế
đối
tượng nộp
thuế,
xây
dựng
chính xác các mức
thuế
phải
nộp có tính đến khả năng của
người
nộp
thuế,
sỷ
dụng
linh
hoạt
các ưu
đãi và
miễn
giảm
thuế.
Trên cơ sờ
đó,
Nhà nước kích thích các
hoạt
động
kinh
tế
đi vào quỹ đạo
chung,
tăng,
thuế xuất
nhập
khẩu
hay
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
Thuế
gián
thu
làm
tăng giá bán của hàng
hoa,
do đó làm
giảm
sức mua
của
người
tiêu
dùng,
làm
tăng giá thành của sản phẩm và làm
giảm
lợi
nhuận
của nhà sản
xuất.
Thuế
hội.
1.1.4.3. Thuế góp phần
điều
hoa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
trong phân
phoi
Trong
cơ chế
thị
trường,
các quy
luật
khách
quan
được phát huy một
cách
tối
đa,
dẫn
tới
tình
trạng
phân cực
đối lập
nhau
giữa
một bên là
thiểu
số
người
Việc
điều
hoa
thu
nhập
có
thể thực hiện
nhờ các
loại
thuế
tiêu
thụ
đặc
biệt,
thuế
nhập
khẩu,
thuế thu
nhập
cá
nhân,
thuế
tài
sản
nhằm
điều
hoa và
phân
phối
lại
phối thu
nhập quốc
dân
trong
một
thời
hạn
nhất
định,
không phân
biệt
nguồn
gốc hình thành
từ
lao
động,
tài sản hay đủu
tư
Trên
thực
tế,
thu
nhập
thường được định
nghĩa
gắn
với
các yếu
tố
cụ
nghĩa
thu
nhập. Điều
này hoàn toàn đúng
đối
với
những quốc gia
áp
dụng
hệ
thống
thuế
phân
theo
loại
hình thu
nhập,
nhưng
cũng
xuất hiện
ờ các
quốc
gia
áp
dụng
hệ
thống
thuế thu
nhập
theo
nhận được.
Nhiều
quốc
gia
phân định
giữa
thu
nhập
(đôi
khi
còn được
gọi
là
thu
nhập
thông
thường)
và
lãi
vốn.
Lãi vốn
thường
chịu
thuế theo
các quy định riêng, mức
thuế suất
riêng và
thậm
chí
trong
loại
15
hình
thu
nhập bao gồm
tất
cả các khoản
thu
nhập hoặc lãi vốn có
trong
cơ sở
tính
thuế theo
quy
định
của
pháp
luật.
Phần lòn các quốc gia xác
định
thu
nhập
theo
các
giai
đoạn
khác
nhau,
theo
đó số thu nhập ban đầu (ví dụ như
cùng
bao gồm
việc
điều chỉnh
tổng thu
nhập (ví dụ như ờ Mỹ), thu nhập kê
khai
(ví dụ như ở
Canada),
thu
nhập chịu
thuế
(ví dụ như ở Anh) và
thu
nhập
ròng.
Do có sự
khác
biệt
giữa
hệ
thống
thuế
cùa các quốc
gia, việc
so
sánh
trực
tiếp
ý nghĩa các
nhập của
các cá
nhân
và
pháp nhân
đều là
đối
tượng
đánh
thuế thu
nhập,
mà là
thuế
thu
nhập điều chỉnh hay
thu
trên
phần
thu
nhập chịu
thuế,
tức là khoản
thu
nhập
sau khi
đã được miễn
trừ chi
phí hợp lý. Thuế
thu
nhập thường được
nhập hoặc
theo
một mức
thống
nhất.
Hình
thức
phụ
thu
cũng có
thổ
được áp dụng.
Phần
lớn
các quốc
gia
đánh
thuế thu
nhập đối
với thu
nhập
toàn
cầu
của
các chủ
thổ
thường trú và
thu
nhập
phát
phi
thường trú
theo
nguyên
tắc
lãnh
thổ.
16
Thuế
TNDN
là
thuế
trực
thu,
đánh trên
thu
nhập chịu
thuế
của
tổ
chức
hoạt
động
sản
xuất, kinh
doanh
trong
kỳ tính
thuế.
1.2.1.2.
về
thuế
TNDN,
người ta nhận
thấy thuế
TNDN có
những
đục trưng riêng để phân
biệt
với
các sắc
thuế
và
các công cụ tài chính
khác như
sau:
Thứ
nhất, thuế
TNDN
là một
loại
thuế
trực
thu
trong
đó
đối
tượng
nộp
thuế
tiêu
thụ
đục
biệt
là một số
tiền
cộng
thêm vào giá bán của hàng
hoa,
dịch
vụ
trong
đó,
người
bán
hàng
hoục người cung
cấp
dịch
vụ
là
người tập
hợp
thuế
và
nộp
tiền
thuế
cho
cơ
phải
nộp
thuế
TNDN.
Thứ ba,
thuế
TNDN
là
thuế
khấu
trừ
trước
thuế
thu nhập
cá
nhân.
Thu nhập
mà
các cá nhân
nhận
được
từ
hoạt
động đầu tư như
lợi
tức
cổ
phần,
lãi
tiền
thuế thu
nhập
cá nhân.
1.2.2.
Vai
trò của
thuế thu
nhập doanh
nghiệp
trong
nền
kinh
tế
Thứ
nhất, thuế
TNDN đảm bảo
nguồn thu
ổn
định cho ngân sách
Nhà nước
(NSNN).
LY-OttTS
17
Thuế
là
nguồn
thu
chủ yếu của ngân sách
Nhà
nước nhằm
kinh tế
phát
triển,
đầu
tư
gia
tăng,
thu
nhập
của các
cơ
sở sản
xuất kinh
doanh,
dịch
vụ
cũng
tăng lên
làm
cho
khả năng huy đỹng
nguồn
tài
chính cho
Nhà
nước thông qua
thuế
TNDN
ngày càng ổn định và
vững
Nhật
Bản
16,8% 4,7%
Liên
minh
châu
Au
8,8% 3,4%
Các nước
OECD
10,8% 3,9%
Nguồn: www.oecd.org
Thứ
hai, thuế
TNDN
là công cụ
quan
trọng của
Nhà nước
trong việc
quản
lý
vĩ
mô
nền
kinh
tế,
điều
tiết
các
kinh tế,
chuyển
dịch
cơ
cấu vùng
kinh tế
nhằm
đảm
bảo
cơ
cấu
kinh tế
hợp
lý, thực
hiện
chiến
lược phát
triển
kinh
tế-xã
hỹi của đất
nước
trong từng
thời
kỳ.
Thứ ba,
thuế
TNDN
thể hiện vai
trò đặc trưng của
thuế
có
thu
nhập
thấp thì
nỹp
thuế ít
hom.
Đối
tượng
18
nộp thuế
gặp khó khăn
có
thể
được
hưởng
miễn
giảm
thuế
hay được
chuyển
lỗ
sang
những
năm
sau.
Trong
điều
kiện
đó, thuế thu
nhập
sẽ là một
biện
pháp
tốt
để
rút
ngắn
khoảng
cách giàu nghèo
giữa
các thành viên
trong
xã
hội.
Thố
tư,
thuế
TNDN là
công
cụ
đánh
giá
hiệu
quả
hoạt
động
của
người
hiệu
quả sản
xuất kinh
doanh
của
đơn vị đó do
doanh
nghiệp
làm ăn có
lãi mới phát
sinh
số
thuế phải
nộp
và
hiệu
quả của
doanh
nghiệp
càng
lớn
thì số
thuế
TNDN
phải
nộp càng
cao.
Và
nếu số
thuế
cụ
đánh giá
hiệu
quả sản
xuất
kinh
doanh
của
đơn
vị
khá chính xác.
1.2.3.
Nguyên
tắc
thiết
lập
thuế
thu
nhập
doanh
nghiệp
Thuế
TNDN
phải
bao
quát được
mọi
khoản
thu
nhập
đánh
thuế.
Tuy
nhiên,
khi
thiết
kế
thuế
TNDN,
tuy
vào
mục
đích
điều
tiết
hoặc
các
mục
đích khác
trong
quàn
lý
của
Nhà
nước
trong
từng
thời
kỳ
nhất
tiết
của thuế
TNDN.
19
Thu
nhập
chịu
thuế
cần
phải
được xác định một cách
thống
nhất.
Để
xác định chính
xác
thu
nhập
chịu
thuế
và đảm
bảo công
bằng
giữa
các
đối
tượng
nộp
thuế
TNDN
bằng
tiền
mặt
và
cả
phần
lãi vốn
đầu tư,
dù
lãi
đó
đang
ở
dệng
tiềm
ẩn (có
thể
nhận
được
trong
tương
lai
-
theo
định
nghĩa
thu
nhập
hoàn
chỉnh
nhập
giống
nhau
thì mỗi chủ
thể tệo ra thu
nhập
lệi
có
chi
phí khách
quan
khác
nhau
(như
chi
phí tiên lương,
chi
phí
quản
lý, chi
phí khác
phục
rủi
ro )
hoặc
khó có thê
xác định được chính xác số
thu
nhập
sẽ
được
xác định
trong
các trường họp cụ
thể:
-
Xác
định
nghĩa
vụ nộp
thuế thu
nhập
trên nguyên
tắc
cơ
sở thường
trú
và
nguồn
phát
sinh thu
nhập.
Theo
đó,
sẽ xác định được
doanh
nghiệp
là
đối
tượng nộp
thuế
tệi
nước
đó
trên
mọi
khoản
thu
nhập,
bất
kể
thu
nhập
này phát
sinh
ở
trong
nước hay
ở
nước ngoài.
Theo
nguyên
tắc
nguồn
phát
sinh thu
nhập,
một
doanh
nghiệp
các
hoệt
động của
doanh
nghiệp phải
là
thu
nhập
bằng
tiền
hoặc
tính
ra
được
bằng
tiền
và
được
ghi
nhận
trong
kỳ
tính
thuế.
20