Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và sự tham gia của doanh nghiệp - Pdf 10

class="bi x0 y0 w1 h1"
Bộ GIÁO
DỤC VÀ
ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG

• •
NGUYỄN
THÀNH
DIỄN
ĐÀN
HỢP
TÁC
KINH TÉ
CHÂU
Á
-
THÁI BÌNH DƯƠNG
(APEC)


THAM
GIA
CỦA
DOANH
NGHIỆP

HƯỚNG
DẪN KHOA
HỌC:
TS
Bùi Thị

HÀ NÔI
-
2007
LỜI
CẢM ƠN
Luận
văn này được
hoàn
thành với sự hướng
dẫn và
giúp
đỡ
của
Khoa
Sau
Đại
học Trường Đại học Ngoại Thương.
Tôi xin
chân
thành
cảm ơn
Tiến sỹ Bùi Thị
Lý và
các thầy

CHƯƠNG
1:
TỔNG
QUAN
VỀ
DIỄN
ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ
CHÂU
Á -
THÁI BÌNH DƯƠNG
(APEC)
Ì
LI. Lịch sử hình thành, phát triển và
một số
thành tựu của
APEC
Ì
Ì.
Ì. Ì.
Bối
cảnh
ra
đời
của
APEC Ì
1.1.2.
Sự hình thành và phát
triển
của
APEC 3


cấu
tổ
chức
của
APEC 20
Ì
.2.4.

chế
hoạt
động
của
APEC 23
1.3.
Đánh
giá tiến trình
hợp
tác
APEC
và triển
vọng
23
1.3.1.
Những
ưu
điểm
của
tiến
trình

THỰC
TRẠNG
THAM
GIA HỢP TÁC APEC CỦA
CỘNG
ĐỔNG
DOANH
NGHIỆP
TRONG
KHU vực 29
2.1. Bối cnh tham gia hợp tác
APEC
của cộng đồng doanh nghiệp
khu
vực
29
2.2.
Các
hình thức
tham
gia
hợp
tác
APEC của cộng đồng doanh
nghiệp
khu
vực
31
2.2.1.
Diễn

2.2.4.
Các
Đối
thoại
Ngành
trong
APEC
(ôtô,
hoa
chất,
kim
loại
màu)
58
2.3.
Một
sô thành tựu và
hạn chế của
việc
tham
gia
hợp
tác
APEC của cộng
đồng doanh
nghiệp
khu
vực
62
2.3.1.

NHẰM
TẢNG
CƯỜNG
sự
THAM
GIA
HỢP
TÁC
APEC CỦA CỘNG
ĐỔNG
DOANH
NGHIỆP
TRONG
KHU
vực
69
3.1.
Triển
vọng tham
gia
hợp
tác
APEC của cộng đồng doanh nghiệp
khu vực
69
3.1.1.
Triển
vọng tham
gia
hợp tác

APEC của
cộng
đồng
doanh
nghiệp
khu
vực
71
3.2.1.
Giải
pháp
từ
phía
APEC 71
3.2.2.
Giải
pháp
từ
phía
từng
nền
kinh tế
thành viên
APEC 74
3.2.3.
Giải
pháp
từ
phía
cộng

3.3.2.
Tăng
cường
công tác thông
tin
tuyên
truyền
về
APEC
cho
cộng
đồng
doanh
nghiệp
Việt
Nam 78
3.3.3.
Khuyến
khích và
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
để
cộng
đồng
doanh
nghiệp
Việt

Cộng đồng
doanh
nghiệp
Việt
Nam
phải
tự
nhận
thức
được yêu cu
thiết
thực
của
việc
tham
gia
hợp
tác
APEC
nói
riêng,
hội
nhập
khu vực

quốc
tế
nói chung
81
KẾT

IAP
13.
NAFTA
14.
OAA
15.
OECD
16.
PBF
17.
PECC
Hội
đồng

vấn
Kinh
doanh
APEC
Hội
nghị
các
Nhà Lãnh
đạo
Kinh
tế
APEC
Hội
nghị
liên
Bộ

thể
Khu
vực
thương
mại
tự
do
Hoa Kớ - Canada
Hợp
tác
kinh
tế
kỹ
thuật
Đầu tư
trực
tiếp
nước
ngoài
Khu
vực
Mậu
dịch
Tự
do
Châu
Á
-
Thái
Bình Dương


Phát
triển
Kinh
tế
Diễn
đàn
Kinh
doanh
Thái Bình
Dương
Hội
đồng
Hợp
tác
Kinh
tế
Thái
Bình Dương
18.
RTAs/FTAs
-
Các
thoa thuận
thương
mại
tự
do
song
phương

TFAP
- Kế
hoạch
Hành
động
về
Thuận
lợi
hoa
Thương
mại
23.
TF
-
Lực
lượng
đặc
trách
24.
VCCI
- Phòng Thương
mại

Công
nghiệp
Việt
Nam
25.
WG
- Nhóm Công

phát
triển,
Diễn
đàn hợp tác
Kinh tế
Châu
Á -
Thái Bình Dương (APEC)
-
một
diễn
đàn
đối
thoại
chính sách dựa trên nguyên
tắc
mở, bình đỹng và đồng
thuận
-
đã
qui
tụ
được 21 nền
kinh
tế
thành viên
thuộc
lòng
chảo
Châu

số
hơn 2,6
tỷ dân;
tổng
sản
phẩm
quốc
nội
(GDP) trên 20,7 ngàn
tỷ
USD,
chiếm
xấp xỉ
57%
GDP
toàn
cầu

tổng
giá
trị
giao
dịch
thương mại
đạt
7
ngàn
tỷ
USD,
chiếm

tổ
chức,
hoạt
động

định
hướng
phát
triển
của
APEC
vẫn
còn

hồ,
nhiều
điều cần
phải
được
làm
rõ.
Đạc
biệt
hơn,
hiểu
biết
của
các
doanh
nghiệp

đối với
Việt
Nam
đã được xác định là
"Mở
rộng thị
trường
xuất
khẩu
cho
hàng hoa của
Việt
Nam xâm
nhập
thị
trường các
nước,
đẩy
mạnh
xuất
khẩu,
tạo
điều
kiện
cho
thu
hút đầu tư
trong
và ngoài
nước,

động hợp tác
APEC
của
Việt
Nam
gắn
chặt với
định
hướng
xuất
khẩu,
tham
gia

chọn
lọc
các
hoạt
động
thiết
thực
để
góp
phần giảm bớt
các rào cản cho
hàng
xuất
khẩu của
ta,
giảm

những
năm
gần
đây
cho
thấy
khoảng
70%
tổng
kim
ngạch
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
là sang
thị
trường các thành viên
APEC.
Ngoài
ra,
75% đầu

trực
tiếp
nước ngoài
(FDI)
và hơn
50%

Kỳ,
Nhật Bản,
Trung
Quốc,
ASEAN,
Ôxtrâylia
Do
vậy,

thể
khẳng
định
rằng
sự
tăng trưởng và phát
triển
của
nền
kinh tế Việt
Nam
gắn bó
chặt
chẽ
với
sự
ổn
định
và phát
triển
của khu

thành công
rực rỡ,
được bè bạn
quốc
tế
đánh giá
cao
về
công
tác
tổ
chỳc cả về
mặt
nội
dung
lẫn
hậu
cần.
Đây

một
sự
kiện
quốc
tế

quy
mô và tầm cỡ
lớn
nhất

Cũng riêng
trong
năm
2006
Việt
Nam
đã
thu
được trên
10,2
tỷ
USD
vốn
FDI.
Thông
qua
APEC
2006
Việt
Nam
đã
kết
thúc
đàm
phán
với
Hoa
Kỳ

gia

giới
đã
đến

sẽ đến
Việt
Nam
để tìm
kiếm

hội kinh
doanh
-
đầu
tư.
Họ sẵn sàng cùng hợp tác
làm
ăn
với
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
trên

sở
đôi
bên cùng có
lợi.

vụ,
nhân
lực,
năng
lực
cạnh
tranh,
kỹ năng làm
ăn
kinh
doanh
trên
thương
trường
quốc
tế
để
vừa
hợp
tác vừa cạnh
tranh
một cách
tự
tin
và bình đẳng
với
các
doanh
nghiệp
quốc

cỳu

chế
hợp tác

tham
gia
của cộng
đồng
doanh
nghiệp
khu
vực
vào
diễn
đàn
hợp tác
lớn
nhất
khu vực
Châu
Á -
Thái
Bình Dương
này
qua
đó đề
xuất
một số
giải

tế
Châu
Á -
Thái Bình
Dương (APEC) và sự tham
gia
của doanh
nghiệp"
được
thực hiện
nhằm giúp
nâng cao
nhận
thức
chung

hiểu
biết
về
Diễn
đàn
này,
đặc
biệt
là các
khuynh
hướng
phát
triển
hiện

giải
pháp tăng
cường
sự tham
gia
hợp
tác
APEC
của cộng
đống
kinh
doanh
trong
khu
vực,
đặc
biệt

các
doanh
nghiệp
Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu:
Cho
đến nay
đã

khá
nhiều

nước
về
APEC
bao gốm:
"Diễn
đàn
Hợp
tác
Kinh
tế
Châu
Á -
Thái Bình
Dương" do
Vụ Hợp
tác
Kinh tế
Đa
phương,
Bộ
Ngoại
giao

Vụ
Chính sách Thương
mại
Đa
biên,
Bộ Thương mại biên
soạn

vấn
đề
doanh nghiệp
cần
quan
tâm
"
do
Ưỷ
ban
Quốc
gia
về
Hợp
tác
Kinh
tế
Quốc
tế
biên
soạn
năm
2006
và "Đánh
giá
tiến trình
APEC và
tác
động
đối

do Ban Thư ký
APEC
biên
soạn
năm
2006,
"Networking
Asia
-
Paci/ỉc:
A
Pathway
to
Common
P?'osperity"
do
Hội
đống

vấn
Kinh
doanh
(ABAC) biên
soạn
năm
2005,
"Driving
Forward
a
Prosperous


"APEC
Perspective
2006" do Ban Thư

APEC
biên
soạn
năm
2006.
Tuy
nhiên,
chưa có một nghiên cứu nào
tập
trung
vào chủ
đề
sự
tham gia
hợp
tác của
cộng
đổng
doanh
nghiệp
trong
APEC
và qua
đó đề
xuất

Trên

sở nghiên cứu các
hoạt
động
của
APEC,
tình hình
tham
gia
APEC
của
doanh
nghiệp
các nền
kinh tế
thành
viên,
luận
văn
đề
xuất, kiến
nghị
một
sồ
giải
pháp,

chế và
chính sách thúc đẩy

thương
mại,
đầu
tư,
khoa
học
kỹ
thuật,
xây
dựng
năng
lực
4. Nhỉệm vụ
nghiên cứu:
-
Làm
rõ về
APEC,
sự thành
lập
và phát
triển,
mục
tiêu


cấu
tổ
chức,
các

thức
tham
gia
hợp
tác,
những
vướng
mắc

bất cập,
hiệu
quả của
hợp
tác
trong
thời
gian
qua cũng
như
triển
vọng
hợp
tác
trong
thời
gian
tới,
bao
gồm
đánh giá

diễn
đàn
APEC
với
tư cách là một
tổng
thể,
từ
phía
từng
nền
kinh
tế
thành
viên
APEC,
cũng
như
từ
phía
cộng
đổng
doanh
nghiệp
trong
APEC
nói
chung,
cộng
đồng

Á -
Thái Bình Dương (APEC)

sự
tham
gia
của các doanh
nghiệp
Phàm
vi
nghiên
cứu:
-
Về
không
gian:
các
hoạt
động của
Diễn
đàn
Hợp
tác
Kinh tế
Châu
Á -
Thái Bình Dương
(APEC);
các
hình

ra đời
năm 1989
cho đến
hết
năm
2006.
6. Phương pháp nghiên cứu:
-
Thu
thập
và xử

các thông
tin
tại
bàn
(Desk
research)
-
Phân
tích,
so
sánh và dự báo
kinh tế
- Phương pháp
luận
của Chủ
nghĩa
Mác - Lênin về duy
vật biện

Chương 2: Thực trạng tham gia hợp tác APEC của cộng đồng doanh
nghiệp trong
khu vực
Chương 3: Triển vọng tham gia hợp tác APEC và một số
giải
pháp
nhằm tăng cường sự tham gia hợp tác APEC của cộng đồng doanh nghiệp
trong
khu vực
Ì
CHƯƠNG Ì
TỔNG
QUAN
VE
DIỄN
ĐÀN
HỢP
TÁC
KINH
TẾ CHÂU
Á
- THÁI BÌNH DƯƠNG
(APEC)
LI. LỊCH SỬ
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
VÀ MỘT số
THÀNH
Tựu
CỦA
APEC

xuất kinh
doanh
đã
bị
chiến tranh
phá huy
cộng
với
sự
hình thành và phát
triện
của chủ nghĩa
hai
cực
gồm
phe
Đồng
minh
(trong
đó Hoa Kỳ
đứng
đầu)

phe

hội
Chủ
nghĩa
(trong
đó Liên

quyết
vấn
đề
này,
các
quốc
gia
dự
định thành
lập
Tổ
chức
Thương
mại
Quốc
tế (ITO) với
tư cách

một
tổ
chức
chuyên
môn
thuộc
Liên hợp
quốc
nhằm thúc đẩy thương mại
quốc
tế,
song

số
vấn
đề ràng
buộc

cắt
giảm
thuế
quan.
Sau
khi
GATT
chính
thức

hiệu lực
từ
01/01/1948,
nhiều
vòng
đàm
phán
đa
phương được
tổ chức
với
nỗ
lực
mở
rộng

sự
hình thành và phát
triện
của
APEC
phải
kệ đến là
Vòng
đàm
phán
thứ
8 (Vòng
Uruguay)
-
vòng
đàm
phán
dài
nhất
(từ
tháng 9/1986
đến
tháng
4/1994),
phức
tạp nhất,

quy

lớn

đàm
phán,
đặc
biệt
là Vòng
Uruguay
2
thường
xuyên gặp
phải nhiều
bế
tắc
vì không
dung
hoa được các mâu
thuẫn
về
quyền
lợi
giữa
các
quốc
gia.
Vào
đầu những
năm
1980,
tình
trạng
suy

rào
cản
thương mại mới để bảo vệ ngành
sản
xuọt

thị
trường
nội
địa
ngày càng thường xuyên
hơn.
Hệ
quả
tọt
yếu là
tiến
trình toàn
cầu
hoa
kinh tế,
tự
do hoa thương mại bị đe dọa nghiêm
trọng.
Thay
vào
đó,
trào lưu khu vực hoa
phát
triển

động
thái trên
của ÉC,
Hoa Kỳ
từ
quan
điểm
ủng hộ hệ
thống
thương
mại
đa phương đã
chuyển dần sang
việc
thúc
đẩy
các
thoa thuận
thương mại
song
phương và khu
vực,
cụ
thể
là xúc
tiến
thành
lập
khu vực
thương

kết
nạp
thêm vào
CUPTA
để
tạo
nên
NAFTA
ngày
nay
[3].
Bên
cạnh đó, từ
cuối
những
năm
1970,

trong
suốt
những
năm 1980 ở
Châu
Á, đặc
biệt


các nền
kinh tế
Đông Á


dụ,
trong
giai
đoạn
1980
- 1992,
xuọt
khẩu của
Châu Á tăng
nhanh
nhọt thế
giới
với tốc
độ bình quân 10% năm so
với
4%
của
Châu Âu và Mỹ La
tinh
và 6%
của
các nước công
nghiệp
phát
triển
vốn
chiếm
2/3 thương mại
thế

thương
mại.
XK
của Nhật
Bản
sang
các
quốc
gia
Châu Á - Thái Bình Dương
chiếm
33% tổng
kim ngạch
XK
của Nhật
Bản
và,
ngược
lại,
9,8%
tổng
kim ngạch
XK
của
các
quốc
gia
Châu Á -
Thái
Bình Dương

chủ yếu
từ
Hoa
Kỳ, Nhật
Bản và các
nền
kinh tế
mới
công
nghiệp
hoa
(NIEs),
tăng
mạnh
vào
các
nền
kinh
tế
thuộc
khu vực
Châu
Á.
Rõ ràng

các
quốc
gia trong
khu vực
Châu

phát
triển
năng
động,

nền
kinh tế
hướng
ngoại,

kinh tế

ngoại
thương tăng trượng
với tốc
độ
cao
lại
tương
đối
ổn định
về
chính
trị
nhưng
thực
sự chưa có được một hình
thức
liên
kết kinh tế

thúc
đẩy hợp tác
kinh
tế
đủ
mạnh
để làm
đối trọng với hai khối kinh tế
còn
lại
là CƯFTA
(sau
này là
NAFTA)
và ÉC.
Tóm
lại,
xu
thế
toàn cầu hoa và khu vực hoa phát
triển
manh
mẽ, sự tăng
trượng
và phát
triển
kinh tế "thần
kỳ" của
các nền
kinh tế

tổ
chức
đóng
vai
trò điều
phối, phối
hợp các chính sách
kinh tế
- thương
mại
-
đầu
tư,
thúc đẩy và
khuyến
khích
tự
do hoa và
thuận
lợi
hoa thương mại và đầu
tư,
hợp tác
kinh tế
kỹ
thuật,
khoa
học công
nghệ, từ
đó thúc đẩy tăng trượng

Dương sớm được đưa
ra từ
những
năm 1960
bợi
một
số học
giả
người
Nhật,
trong
đó có
Kojima

Kurimoto
với
đề
xuất
thành
lập
Khu vực Mậu
dịch
Tự do Thái
Bình Dương (PAFTA) gồm 5
quốc
gia
công
nghiệp
phát
triển:

trên
thế
giới,
Nhật
Bản luôn thường
trực
ý
định
tăng cường ảnh hưởng
lên khu vực
Châu
A
- Thái Bình Dương để
biến
khu vực này thành sân
sau
và hệ
thống
đệm
giảm
sóc
khủng
hoảng
kinh tế
cho
mình.
Tuy
nhiên,
ý
tưởng

đã
nhận
thấy
sự
cần
thiết
phải tạo lập
mỵt thể chế hợp tác kinh tế có hiệu quả trong khu vực,
ý
tưởng
này
dẫn
đến
sự
hình
thành
Hỵi
đổng Hợp
tác
Kinh
tế
Thái
Bình Dương (PECC)
năm
1980
-

thể coi là
bước
đệm

diễn
đàn hợp
tác

tính
kỹ
thuật về
các
vấn
đề
kinh tế khu vực.
Trong
khi
Hoa Kỳ
tỏ ra thờ
ơ
với
đề
xuất
này
bởi
còn
đang
tập trung
vào Vòng
Urugoay
và CUFTA
thì Thủ tướng Ôxtrâylia
Bob
Hawke

vấn
Kinh
tế cấp
Bỵ
trưởng

Châu
Á -
Thái Bình Dương nhằm
phối
hợp hành đỵng của các chính phủ đẩy
mạnh
phát
triển
kinh tế
và hỗ
trợ
hệ
thống
thương
mại
đa phương và
ngay
lập tức
ý
tưởng
này đã được mỵt
loạt
quốc
gia

điều
chỉnh
chiến
lược,
cải
thiện
quan
hệ

thúc đẩy hợp tác
để
giải
quyết
các
xung
đỵt với
Liên

trên
phạm
vi
toàn
cầu, trong
đó có
việc
làm
ấm
lên
quan
hệ giữa

thành
lập
mỵt
tổ
chức
hợp tác mang tính
chất
thuần
tuy kinh tế
như
APEC
và đây
cũng

mỵt
trong
các

do
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho sự ra đời của
APEC.
5
Tháng
11/1989,
các Bộ

nhóm họp

thủ
đô
Canberra
(Ôxtrâylia),
thành
lập
ra
APEC
Tháng
11/1991,
APEC
kết
nạp thêm
Trung
Quốc,
Hổng
Rông,
Đài
Loan.
Tháng
11/1994,
APEC
kết nạp
thêm
Chile,
Mêhicô và
Papua
Niu


thành viên chính
thức
của
APEC
vào tháng
11/1998,
nâng
tổng
số
thành viên
lên 21 nền kinh
tế.
Trong
thời
kỳ
lo
năm
từ
năm
1997
đến
hết
năm
2007
APEC
tạm đóng cầa không
kết
nạp
thành viên

triển
của
mình,
cho
đến
nay
Diễn
đàn Hợp
tác
Kinh
tế
Châu
Á -
Thái Bình Dương
(APEC)
-
một
diễn
đàn
đối thoại
chính sách dựa
trên
nguyên
tắc
mở, bình đẳng và đồng
thuận
đã phát
triển
mạnh
mẽ

đã
qui tụ
được 21 nền
kinh tế
thành viên
thuộc
lòng
chảo
Châu
Á -
Thái Bình
Dương. Các thành viên
APEC
bao
gồm
các nền
kinh tế
lớn,
phát
triển

trình
độ
cao
nhất
nhì thế
giới
như Hoa
Kỳ


Loan,
và các
nền kinh tế
đang phát
triển
mạnh
mẽ
như
Trung
Quốc
Việt
Nam, Nga
Về cấp
bậc,
APEC
đã nâng cấp
diễn
đàn
từ
chỗ
chỉ
đơn
thuần

diễn
đàn
của cấp
bộ trưởng
Ngoại
giao

giáo
dục,
bộ trưởng năng
lượng,
bộ trưởng
giao
thông
vận
tải,
bộ trưởng phát
triển
nguồn
nhân
lực,
bộ trưởng
y
tế,
bộ trưởng
doanh
nghiệp
vừa

nhỏ,
bộ trưởng tài
nguyên
biển
Ngoài
ra
APEC
cũng

hẹp
trong
phạm
vi
kinh
tế,
thương
mại,
đầu


kỹ
thuật,
cụ
thể

(i)
Tự
do hoa thương mại và đầu
tư,
(li)
Thuận
lợi
hoa thương
mại
và đầu


(iii)
Hợp

phong phú,
dưới nhiều
hình
thức
khác
nhau:
từ
các
đối
thoại
chính
sách
đến
các cam
kết
đơn
phương,
từ
trao
đổi kinh
nghiệm đến
thiết lập,
quản lý

thực
thi
các chương trình hành
động,
từ
các

tai,
bệnh dịch,
chống khủng bố,
an
ninh
năng
lượng ),
niềm
tin
tôn
giáo,
hợp tác bảo
tồn
tài
nguyên,
phát
triển
nguồn
nhân
lực,
khoa
học công
nghệ
công
nghiệp, thanh
niên,
phụ
nữ,
giáo
dục

tổ
chức


chế
chặt
chẽ và có tính ràng
buộc
cao

các
thoa thuận trong
khuôn
khổ
APEC
đều
đạt
được
trên

sở
đồng
thuận, tự
nguyện,
không ràng
buộc,
không
chịu
sự giám
sát của

trợ
các
hoạt
động
mang
tính
chất
hành chính
thuần tuy
của
APEC
nay đã
chuyển sang
hỗ
trợ
một cách có
hiệu
quả
các
hoạt
động
mang
tính
nội
dung
trong
APEC
với
tính
chất

Tập
thể
(CÁP)
cũng
như cơ
chế Sáng
kiến
Người
tìm
đường
(Pathíinder
Initiative).
Với
những
nét đặc thù và cực kỳ đa
dạng
về
trình
độ
phát
triển
kinh
tế, thể
chế
chính
trị, xã hội, bản sắc văn hoa, các
thành viên
APEC
trải
rộng

nhất
trên
thế
giới
ngày
nay.
Những Cột mốc Quan trọng của APEC
1989 Canberra, Oxtrâylỉa
APEC
khởi
đầu với 12
thành viên
trong
một
nhóm
đối
thoại
không
chính
thức cấp
Bộ
trưởng.
1993
Blake
Island,
Hoa Kỳ
Các nhà lãnh đạo
kinh tế
APEC
nhóm họp

khu vực Châu
Á -
Thái Bình Dương
vào
năm 2010
đối với
các nền
kinh
tế
thành viên phát
triển
và vào
năm
2020
đối
với
các
nền
kinh tế
thành
viên đang
phát
triển."
1995 Osaka, Nhật
Bản
APEC thông qua Kế hoạch Hành động Osaka (OAA), giúp tạo ra
một
khuôn khổ nhằm
đạt
được các

qua Kế
hoạch
Hành động
Manila
của
APEC
(MAPA),
phác
thảo
các
biện
pháp về
tự
do hóa và
thuận
lợi
hoa
thương
mại
và đầu tư nhằm
đạt
được các
Mục
tiêu
Bôgô;

lẩn
đầu
tiên
đề

APEC
thông qua đề
xuất
về
việc tự
do hóa
sớm

tự
nguyện
theo
lĩnh
vực
(EVSL)
trong
15
lĩnh
vực và
quyết
định
cần phải
cập
nhật
hàng năm Kế
hoạch
Hành động Quốc
gia
(LÁP).
1998
Kuala

1999
Auckland,
Niu Dilân
APEC
cam
kết
phát
triển
thương
mại phi giấy tờ
vào năm
2005

các
nền kinh tế
phát
triển

2010

các
nền kinh tế
đang phát
triển.
Các
nội
dung
khác
cũng
được thông qua

Brunây
APEC
đã
thiết
lập
hệ
thống
điện
tử
dành cho
Kế
hoạch
Hành động
Quốc
gia (e

IAP),
giúp
cung
cấp các IAP
trực
tuyến

cam
kết
thực
thi
Kế
hoạch
Hành động

ước Thượng
Hải,
chú
trọng
vào
việc
Mử
rộng
Tầm nhìn
của
APEC,
Phân tích
chi
tiết
Lộ trình
hướng
tới
Bôgố

Tăng
cường

chế
Thực
thi.
Chiến
lược về
e — APEC
được
thống

dịch
trực
tuyến,
thúc đẩy phát
triển
kinh
doanh

nâng cao năng
lực
con
người.
APEC
cũng
đã
thông qua
Bản
tuyên bố
đầu
tiên
về
Chống Khủng
bố.
2002
Los Cabos, Mêhicô
APEC
đã thông qua
Kế
hoạch
Hành động về

Bản tuyên bố
thứ hai về
Chống Khủng bố.
2003
Bangkok,
Thái
Lan
APEC
nhất
trí tạo
thêm động
lực cho
Vòng đàm phán Phát
triển
Đô-
ha của
WTO

nhấn
mạnh
các
mục
tiêu bổ
trợ của
các
thoa
thuận
thương mại
song
phương và khu

Bình Dương.
APEC cam
kết
thực
thi
các
biện
pháp cụ
thể
để
triệt
9
phá các nhóm
khủng
bố,
loại
bỏ
mối nguy
hiểm
của
vũ khí
huy
diệt
hàng
loạt

đương
đầu
với
những

con
người.
APEC
cũng
tăng
cường
nỗ
lặc
của
mình
trong việc
xây
dặng
các nền
kinh tế
tri
thức,
trong việc
thúc
đẩy
các
hệ
thong tài
chính
tốt

hiệu
quả
và tăng
tốc

đạt
bước
đột
phá
trong
đàm
phán:
tháng
12/2005,
tại
Hội nghị
Bộ
trưởng
WTO
lần
thứ
sáu.
APEC
đã
thông qua
những
Thặc
tiễn
Tốt
nhất đối với
các
thoa
thuận
thương mại
tặ

vói nguy

khủng
bố và
tiếp
tục
hành động
trong
lĩnh
vặc
này
thông qua
việc:
xác
định các yếu
tố then chốt
của
hệ
thống
kiểm
soát
xuất
khẩu
hiệu
quả;
thiết
lập
các
hướng
dẫn

cụ
thể
hướng
tói
các
mục
tiêu
trên.
2005
Bu-san,
Hàn
Quốc
APEC
thông
qua Lộ
trình
Bu-san,
hoàn thành Đánh
giá
Giữa
kỳ cho
thấy
APEC
đang
đi
đúng
hướng
trong việc
hoàn thành các
Mục


thống nhất
cùng
đối
phó
với
những nguy

dịch bệnh
gây
ra đối với
sức
khoe
con
người

tiếp
tục
đấu
tranh
chống khủng
bố,

nguyên nhân có
thể
gây
ra bất
ổn
kinh tế
sâu sắc

ủng
hộ
các
biện
pháp
xây
dặng
năng
lặc
nhằm
hỗ
trợ
các nền
kinh
tế
thành viên
APEC.
APEC
cũng
ra
một Tuyên
bố
về Chương
trình Phát
triển
Đôha
WTO
kêu
gọi
các

tác

kiện
toàn Ban Thư ký
APEC.
10
1.1.3.
Một
sô thành tựu của
APEC
Sự
tồn
tại
và phát
triển
mạnh
mẽ
của
APEC
trong
suốt
gần
hai
thập
kỷ qua
chính
là minh chứng
hùng hồn về
những
thành

APEC
đã
tạo ra
xấp xỉ
70% tăng trưởng
kinh tế
toàn
cầu

khu
vực
APEC
đã liên
tớc
vượt
trội
so
với
các
nền
kinh tế
khác trên
thế
giới
ngay
cả trong
thời
gian diễn ra
khủng hoảng tài
chính Châu

giảm
thuế
và các rào
cản
thương mại
khác,
đáp ứng
ngày càng
tốt
hơn các nhu cầu của
doanh
nghiệp
trong
khu vực và
tạo
điều
kiện
cho
việc kinh
doanh
dễ dàng hơn và
ít tốn
kém
hơn.
Các
biện
pháp được
tiến
hành
đã giúp cho các

khu vực
APEC đã
giảm
từ 16,6%
năm 1988
xuống
còn 6,4%
năm
2004. Thuế quan của
gần một nửa
số
thành viên
APEC
hiện
giờ

dưới
5%

thuế
quan
đối với
nhiều
mặt hàng
hiện
đã
ở mức 0%
hoặc
hầu
như không đáng

duy
trì

sở
dữ
liệu
thuế
quan
APEC,
cung
cấp
dịch
vớ thông
tin
trực
tuyến
về
thuế
quan
theo
từng
mặt
hàng,
các thông
tin
liên
quan
về
hải
quan

phép
xuất
nhập khẩu

trợ
cấp
xuất
khẩu
trong
khu vực
APEC đã
được dỡ bỏ
hoặc
được
chuyển
đổi
thành
thuế
quan.
Kết
quả

mức
bảo
hộ
chung
được
giảm bớt

tính

thị
trường
dịch
vụ
sôi động đã hình thành nhờ nỗ
lực của
từng
nền
kinh tế
thành viên
trong việc
xóa
bỏ
các hạn
chế về
tiếp
cận
thị
trường,
mở
rộng
phạm
vi đải
xử
quảc
gia (NT)

quy chế
tải
huệ

Hiệp
định
chung
về Thương mại
dịch
vụ
(GATS).
-
Về
đầu
tư, khu vực
APEC
đã
mở
cửa
hơn
rất
nhiều
đải với
đầu

trực
tiếp
nước
ngoài
(FDI)
nhờ nỗ
lực
của các thành viên nhằm
xóa bỏ

nguyên
tắc
đầu

không ràng
buộc
trong
APEC
(NBIP),
được thông qua
năm
1994,
đóng
vai
trò

nguồn
tham
chiếu
cho các
nền kinh tế
thành viên
trong việc
tạo
dựng
một
khu vực
mở
cửa
hơn

mức
tải
đa
là 565 tỷ
USD
vào
năm
2000.
Năm
2003,
các nền
kinh tế
APEC
thu
hút 28% chu
chuyển
FDI
toàn
cầu

chiếm
42%
sở hữu
FDI
thế
giới.
Các
nền kinh tế

thu

do hóa và
thuận
lợi
hóa
đầu tư

chỉ
đạo các thành viên
tiếp
tục
đẩy
mạnh
hoạt
động này
trong
khuôn khổ
hợp tác
đầu

APEC.
-
Về
lĩnh
vực
thuận
lợi
hoa
kinh
doanh,
APEC

thể hiện
trong
Kế
hoạch
Hành động về Thuận
lợi
hóa Thương mại 2002
(TFAP)
để
giảm
5%
chi phí
giao
dịch
kinh
doanh
trong khu vực
giai
đoạn
2001
-
2006
và Sáng
kiến
Santiago
về
mở
rộng
thương mại
trong

của doanh
nhân,
đồng bộ
với
các tiêu
chuẩn quốc
tế,
cụi
tiến
chính sách
cạnh
tranh

chống tham
nhũng,

cụi
cách phương pháp
quụn
lý.
Năm
2006,
APEC
đã
kiểm
điểm
thực
hiện
thành công
TFAP

với
TFAP
Ì,
trong
đó
đặc
biệt
chú
trọng
đến
các Kế
hoạch
Hành động Tập
thể
(CÁP)
và các sáng
kiến
người
tìm
đường.
-
Về
nội
dung
các
thoa thuận
thương mại
tự
do
song

hoa
thương mại và đầu
tư.
Các nhà lãnh đạo
APEC
và các
Bộ
trưởng
cũng
đã không
ngừng nhấn
mạnh
đến
vai
trò tích cực của các
RTAs/FTAs
đối
với
việc
thực
hiện
các
Mục
tiêu Bôgô

đẩy
nhanh
tiến
trình
WTO,

nêu
trong
Thông
lệ
mẫu
của
APEC về
RTAs/FTAs
năm
2004.
Các RTAs/FTAs còn tác động liên
đới
tích cực đến
tiến
trình
tự
do
hóa thương mại thông qua
những
lợi
thế
về
mở
cửa
thị
trường.
Do
ngày càng
nhiều
các nền

khuyên khích
các
thành viên ký
kết
các
thỏa thuận
toàn
diện,
chất
lượng
cao
để
tối
đa hóa đóng góp
cho
việc
thực
hiện
các
Mục
tiêu Bôgô.
Các Bộ
trưởng

các
nhà
lãnh đạo
đã
thông qua Thông
lệ

đã thông qua được
6
biện
pháp
mẫu
về RTAs/FTAs bao gồm:
(i)
thương mại hàng
hóa;
(li)
mua
sắp chính
phủ;
(iii)
hàng rào kỹ
thuật trong
thương
mại;
(iv)
minh bạch hóa;
(v)
hợp tác

13
(vi)
giải
quyết
tranh
chấp.
Trong

đó,
các
nền
kinh
tế
APEC
đang
xúc
tiến
các
RTAs/FTAs
chất
lượng
cao thông qua các chương trình
ưu
tiên về
trợ
giúp
kỹ
thuật
và xây
dựng
năng
lực.
Ngoài
ra,
trong
năm
2006
APEC

-
Về
vấn
đề ủng hộ hệ
thống
thương mại
đa
biên,
cụ
thầ
là ủng hộ
GATT/WTO,
với
tỉ
phần
gần 50% thương mại
thế
giới
và gần 60%
GDP
toàn
cầu,
APEC đã
không
ngừng
dùng ảnh
hưởng
của mình đầ thúc đẩy
đàm
phán

nghị
Bộ
trưởng
APEC
vào tháng
10/2003
làm
sống
động
lại
Vòng Đô-ha
sau
thất
bại của Hội
nghị
Cancun;
Tuyên bố
mạnh
mẽ
của
các
Bộ
trưởng Thương mại
APEC
trước
khi
diễn
ra
phiên họp của
Đại hội

3
sản phẩm công
nghệ
thông
tin
mới đầ đưa
ra
xem
xét
loại
bỏ
thuế
tại
WTO
nhằm
đạt
được một
kết
quả
đàm
phán cân
bằng;
Tuyên bố
giữa
các kỳ họp
WTO
của
các
Bộ
trưởng

nghị
Bộ
trưởng Thương
mại
tháng 6/2006 ủng
hộ kết
thúc thành công Vòng đàm phán
ĐôhaẠVTO
nhằm
đem
lại
một
kết quả
cân
bằng

tham
vọng

cuối
cùng là Tuyên bố riêng
của
Các nhà lãnh đạo
kinh
tế
APEC
tháng
11/2006
với quyết
tâm chính

các rào
cản
trong
biên
giới
đối với
thương mại và đầu tư ngoài phạm
vi
chương trình
nghị
sự
chính
thức của
WTO
đã giúp đưa một số
vấn
đề này vào chương trình
nghị
sự
14
của
các
cuộc
đàm
phán thương mại toàn
cầu,
đồng
thời
thúc đẩy các
ý

lần trong
giai
đoạn
1989
-
2003

chiếm
tỷ trọng
ngày càng cao
trong
GDP
của
các
nền kinh tế
thành viên
(18,5%
vào
năm
2003
so với 13,8%
vào
năm
1989).
Lưu
chuyỉn
vốn
toàn
cầu hai chiều giữa
APEC

APEC

phần
còn
lại
của thế
giới
cũng
gia
tăng,
với
kim
ngạch
xuất
khẩu
tăng hơn
2
lần kỉ từ khi
APEC
thành
lập.
-
Tổng
sản
phẩm
quốc
dân (GNP)
thực
tế của cả khu vực
APEC

tượng
tương
tự, với
26%
giai
đoạn
1989
-
2003
(khoảng
1,7% mỗi
năm) so
với
8% ở
các nền
kinh tế
ngoài
APEC. Các
nền
kinh tế
APEC đã
tăng
trưởng
manh
kỉ
từ khi
APEC
thành
lập,
chiếm

các nền
kinh tế
ngoài
APEC
trong
cùng
giai
đoạn.
Các nền
kinh tế
APEC

thu
nhập
thấp
đã tăng trưởng đặc
biệt
mạnh
mẽ,
với
GDP
thực
tế
tăng 77% kỉ
từ khi
APEC
ra đời.
-
Ngoài
ra,

dự
án hỗ
trợ
kỹ
thuật
nhằm phát
triỉn
các kỹ năng và tăng
cường

sở hạ
tầng
kinh
tế.
Đã có 17
nền
kinh tế
thành viên
tham
gia
vào Chương trình Thẻ
đi
lại
của
Doanh
nhân (ABTC Scheme) cho phép các
doanh
nhân đi
lại
thường xuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status