1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
HỌC PHẦN: CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI I
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG HÀN QUỐC
ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: TS. Đỗ Thị Hương
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Thu Hằng (nhóm trưởng)
Trần Thị Khuyên
Trần Thị Thu Phương
Nguyễn Thị Trang
Dương Thị Việt Hà
Chuka
Lớp chuyên ngành: Kinh tế quốc tế 52A
HÀ NỘI - 2012
2
3
Contents
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Ngày nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế phát triển theo hướng toàn
cầu hóa, việc đưa người lao động ra nước ngoài là hiện tượng phổ biến. Giải quyết
việc làm thông qua xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực hoạt động đem lại
lợi ích kinh tế - xã hội quan trọng cho nhiều nước trên thế giới, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay khi giải quyết vấn đề thất nghiệp và thiết lập các mối quan hệ ngoại
giao là vô cung quan trọng.
Việt Nam là quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, hàng năm cung cấp một lượng lớn số
người dân bước vào tuổi lao động, đây là một lợi thế lớn của nước ta trên thị
5. Kết cấu nội dung
Tên đề tài: “Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Hàn
Quốc – Đặt vấn đề và giải pháp”:
Chương I: Đặc điểm thị trường lao động Việt Nam – Hàn Quốc
Chương II: Thực trạng xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc
Chương III: Định hướng và giải pháp tình trạng xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc
6
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số khái niệm liên quan
- Nguồn lao động: Là nguồn lực về con người bao gồm số lượng dân cư trong độ
tuổi lao động và có khả năng lao động. Người lao động bao gồm những người
từ độ tuối lao động trở lên (từ 15 tuổi trở lên).
- Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi
các vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình, là sự vận dụng sức lao động
trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất, là quá trình kết hợp giữa sức lao
động và tư liệu sản xuất.
- Xuất khẩu lao động: Là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện cung ứng
lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những Hiệp định hoặc hợp đồng có
tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
- Thị trường lao động quốc tế: Là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường
thế giới, trong đó lao động từ nước này có thể di chuyển từ nước này sang nước
khác thông qua Hiệp định, các Thỏa thuận giữa hai hay nhiều nước trên thế
giới.
1.2. Đặc điểm xuất khẩu lao động
- Là một hoạt động kinh tế đồng thời mang tính xã hội cao.
- Là một hoạt động mang tính cạnh tranh cao.
- Không có sự giới hạn về không gian.
- Thực chất là một hoạt động mua bán một loại hàng hóa đặc biệt vượt qua biên
giới quốc gia.
1.3. Các hình thức xuất khẩu lao động
Số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam đã và đang ở trong thời kỳ dân số vàng, tỷ
số phụ thuộc (tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi và người già 65 tuổi trở lên trên dân số
trong độ tuổi từ 15 đến 64) đã giảm xuống dưới 50%. Nói cách khác cứ 100 người
trong độ tuổi lao động thì chỉ có dưới 50 người phụ thuộc (năm 2008, tỷ lệ này đã
là 48%). Cơ cấu dân số vàng của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục diễn ra trong
giai đoạn 2010-2030.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2011 dân số việt nam gần đạt ngưỡng
88 triệu người (khoảng 87,84 triệu người). Với lượng dân số này, hiện nay Việt
Nam đang đứng thứ 13 trên thế giới về dân số và thứ 2 trong khu vực Đông Nam
Á, năm 2012, đã đạt 88,78 triệu người.
Biểu đồ: Xu hướng dân số Việt Nam, 1970-2040
Nguồn: World Population Prospects, 2010
9
Tỷ số phụ thuộc dân số đạt mức 48,5% vào năm 2010 và tăng trở lại ở mức 50,8
vào năm 2040. Có thể nhận thấy rõ sự xuất hiện của thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”
bắt đầu khi tỷ số phụ thuộc trẻ em giảm mạnh và thời kỳ này kết thúc khi tỷ số phụ
thuộc người cao tuổi tăng mạnh.
b. Lực lượng lao động
Năm 2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao
động, chiếm 58,5% tổng dân số và năm 2012, đạt 52,58 triệu người.Trong giai
đoạn 1979-2009, tỷ lệ dân số trong tuổi lao động tăng 15,2% (từ 51,3% năm 1979
lên 66,5% năm 2009), lực lượng lao động tăng thêm này đã đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế khoảng 42%. Giai đoạn 2000 – 2010, lực lượng lao động của nước
ta đã tăng từ 39,3 triệu người lên 50,5 triệu người, tốc độ tăng bình quân là
2,6%/năm, bằng 2 lần tốc độ tăng dân số. Dự báo thời kỳ 2011-2020 lực lượng lao
động Việt Nam tăng sẽ tăng khoảng 1,43%/năm và đạt mức 58,2 triệu lao động vào
năm 2020. Đây là cơ hội vàng cho Việt Nam để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Tuy nhiên, cơ hội này cần phải được hiện thực hóa bằng các chiến lược, chính
sách cụ thể, hợp lý và kịp thời.
1.1.1.1.2. Lợi thế về chất lượng
- Việc một số lao động tìm cách trốn ở lại sau khi hết hợp đồng, vi phạm pháp
luật, tác phong làm việc chưa tốt cũng là một điều mà làm nhiều người bản địa
và người sử dụng lao động mất thiện cảm với lao động Việt Nam.
- Đối với những ngành nghề có thu nhập cao mà thị trường đang cần như các
ngành công nghệ cao, khách sạn, nhà hàng, với yêu cầu về chuyên môn cũng
như ngoại ngữ khá cao thì lao động của Việt Nam chỉ đáp ứng được rất ít.
- Ngoài ra, lao động Việt Nam còn bộc lộ những nhược điểm làm giảm tính cạnh
của chính mình, đó là, thể lực yếu, ý thức cộng đồng chưa cao, tính tự giác còn
yếu, thiếu tác phong làm việc công nghiệp do ảnh hưởng của nền nông nghiệp
lúa nước. Nhiều người lao động tự bỏ hợp đồng trốn ra nước ngoài sống bất hợp
11
pháp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín lao động của Việt Nam. Tình trạng lao động
bỏ trốn trước hạn cũng xảy ra phổ biến, dẫn đến việc doanh nghiệp mất nguồn
thu phí dịch vụ, phát sinh tăng chi phí để giải quyết các vẫn đề phát sinh và làm
giảm đáng kể hiệu qur của dịch vụ xuất khẩu lao động của doanh nghiệp.
1.1.1.3. Mối quan hệ cung cầu lao động ở Việt Nam
Nhìn tổng thể thị trường LĐ Việt Nam vẫn là thị trường dư thừa LĐ, phát triển
không đồng đều, luôn trong tình trạng mất cân đối lớn giữa cung và cầu lao động
cả về số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu theo khu vực thành thị, nông
thôn,vùng lãnh thổ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng, ngành nghề đào tạo.
Mất cân đối cung, cầu lao động đang là trở ngại lớn trong sự phát triển kinh tế -xã
hội đất nước gây nên tình trạng thất nghiệp.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Qua biểu đồ, tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tuy đã giảm qua các năm nhưng
vẫn là một vấn để rất nan giải. Số liệu thống kê vừa công bố cũng cho thấy, tỷ lệ
thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 2,8%, trong đó khu vực
thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35%. Trong khi đó, tỷ lệ lao động phi
chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm 2010, tăng lên
35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012.
Một trong những giải pháp khắc phục được tình trạng xóa đói giảm nghèo,
1.2.1.1. Luật xuất khẩu lao động
Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của của doanh nghiệp, tổ chức đưa người đi làm
việc ở nước ngoài, của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động làm việc ở nước ngoài; trách nhiệm quản lý
nhà nước của các cấp; quy định chế tài xử lý các vi phạm.
1.2.1.2. Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Luật này quy định về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các tổ chức, cá nhân có liên
quan.
1.2.1.3. Luật Xuất cảnh Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật việc làm cho lao
động nước ngoài của Hàn Quốc
Khi có kế hoạch xuất cảnh, người lao động được thông báo đến địa điểm tập
trung để hoàn thành các thủ tục chuẩn bị xuất cảnh. Khi làm thủ tục xuất cảnh tại
cửa khẩu người lao động phải xuất trình hộ chiếu còn giá trị sử dụng và có visa
hợp lệ (visa E9).
Người lao động không được phép xuất cảnh trong những trường hợp sau:
Sử dụng hộ chiếu không có giá trị sử dụng để xuất cảnh (hộ chiếu đã báo mất hoặc
hết hạn sử dụng).
Bị cấm xuất cảnh (do đang thụ lý án hoặc bị quản thúc tại địa phương, )
1.2.2. Về phía Hàn Quốc
14
1.2.2.1. Luật xuất nhập cảnh
- Pháp luật Hàn Quốc bảo vệ người lao động nước ngoài như đối với người lao
động trong nước và được hưởng những quyền lợi cơ bản bình đẳng như người
lao động Hàn Quốc.
- Thủ tục nhập cảnh tại Hàn Quốc:
+ Người lao động khi nhập cảnh phải tuân thủ các quy định của Luật kiểm soát
người lao động làm thêm giờ
1.2.2.4. Các quy định khác
Chế độ bảo hiểm
- Bảo hiểm hồi hương: là bảo hiểm nhằm mục đích đảm bảo chi phí mua vé máy
bay cho người lao động xuất cảnh Hàn Quốc khi kết thúc thời hạn lưu trú hoặc
trước thời hạn lưu trú
- Bảo hiểm rủi ro: là bảo hiểm ngoài lao động cho người lao động trong trường
hợp chết hoặc thương tật do tai nạn.
Lưu trú
- Đăng ký cấp chứng minh thư người nước ngoài
- Thay đổi nơi lưu trú
- Gia hạn thời gian lưu trú
16
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG HÀN
QUỐC
2.1. Tổng quan chung về tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn 1980-1990
Việt Nam bắt đầu thưc hiện xuất khẩu lao động ra nước ngoài từ năm
1980. Lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước thông qua việc Nhà
Nước ký kết các Hiệp định lao động và trực tiếp thực hiện, chủ yếu là các nước
xã hội chủ nghĩa Đông Âu, gồm Liên Xô (cũ), Cộng hòa dân chủ Đức (cũ)
Một bộ phận lao động với số lượng lao động nhỏ được đưa đi làm việc ở Iraq,
Liby và đưa chuyên gia trong lĩnh vực y tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc
một số nước ở châu Phi. Trong 10 năm (1980-1990) Việt Nam đã đưa được
244.186 người loa đông, 7.200 chuyên gia đi alfm ciệc và 27.713 thực tập sinh vừa
học, vừa làm ở nước ngoài.
2.1.2. Giai đoạn 1991 đến nay
Cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 các nước tiếp nhận lao động của
Việt Nam là Đông Âu, Liên Xô đều xảy ra những biến động về chính trị, kinh tế
nên không còn nhu cầu tiếp nhận lao động. Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ
hiện nay vàmức tích lũy hàng tháng bình quân là dao động từ 100 đến 2.000
USD tùy từng thị trường, hàng năm người lao động làm việc ở nước ngoài gởi
18
về nước một lượng ngoại tệ không nhỏ. Kim ngạch XKLĐ năm 2000 là 1,30 tỷ
USD, năm 2003 là 1,43 tỷ USD,năm 2005 là 1,55 tỷ USD, năm 2008 là 1,7 tỷ
USD và năm 2009 do ảnh hưởng suygiảm kinh tế toàn cầu nên chỉ đạt 1,6 tỷ
USD, chiếm 2 đến 3% GDP cả nước, tương ứng khoảng 25 đến 30 % lượng kiều
hối hàng năm . Một phần số tiền này đượcngười LĐ và gia đình họ tiêu xài cho
đời sống hàng ngày, một phần được để dành để đầu tư, sản xuất kinh doanh, từ
đó tạo thêm việc làm cho bản thân, gia đình và xã hội.
2.2. Thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc
Việt Nam chính thức đặt quan hệ hợp tác với Hàn Quốc trong lĩnh vực xuất khẩu
lao động từ năm 1993. Trước đây, nước ta đưa lao động sang Hàn Quốc theo hình
thức tu nghiệp sinh thông qua một số hiệp hội doanh nghiệp .Đây là chương trình
vừa học vừa làm học 1 năm làm việc 2 năm với mức trợ cấp 750-900 USD/tháng.
Từ năm 2004, theo Luật cấp phép việc làm cho người lao động nước ngoài cảu Hàn
Quốc, hai bên kí kết thỏa thuận về việc đưa lao động sang làm việc tại nước này
theo hình thức phi lợi nhuận hay còn gọi là chương trình EPS, người lao động chỉ
phải chịu chi phí 700USD trước khi đi.Từ đó, xuất khẩu lao động Việt Nam sang
Hàn Quốc được đẩy mạnh đem lại lợi ích to lớn cho Việt Nam cũng như Hàn Quốc.
2.2.1. Quy mô – tỉ trọng trong thị trường Việt Nam xuất khâu lao động
2.2.1.1. Quy mô
Nguồn: Cục quản lí lao động ngoài nước
+Năm 2002-2005 tăng mạnh từ 1190 người lao động đến 12.102 người lao động.
Nguyên nhân: Đây có thể nói là kết quả của Chương trình cấp phép việc làm
cho lao động nước ngoài (gọi tắt là EPS) và có hiệu lực từ tháng 8/2004. Theo quy
định của Luật này, các doanh nghiệp Hàn Quốc khi không tuyển dụng được lao
19
động trong nước sẽ được phép tuyển dụng lao động nước ngoài với số lượng nhất
định Bộ Lao động Hàn Quốc đã lựa chọn và ký Bản ghi nhớ với 15 quốc gia, trong
văn bản gửi Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH VN thông báo “tạm dừng tiến trình thỏa
thuận giữa hai bên về chương trình cấp phép việc làm cho lao động Việt Nam”.
Đây là một tổn thất lớn đối với Việt Nam.
2.2.1.2. Tỉ trọng
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy số lao động Việt Nam sang Hàn Quốc ngày càng
chiếm một tỉ trọng cao trong số các thị trường khác. Kể từ năm 2008 Hàn Quốc đã
đứng thứ hai về số lao động Việt Nam sang làm việc. Điều đó thể hiện sức hấp dẫn
của thị trường lao động Hàn Quốc đối với lao động Việt Nam
Nguồn: Cục quản lí lao động ngoài nước
2.2.2. Cơ cấu lao động
Lao động Việt Nam tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp.Vì Hàn Quốc là
một quốc gia có nền công nghiệp phát triển nên nhu cầu tuyển dụng công nhân
những ngành công nghiệp, chế tạo cao. Hơn nữa, lao động Việt Nam vốn cần cù
trong lao động, ham học hỏi, sáng tạo, dễ thích nghi với môi trường nên các công
ty Hàn Quốc ưa thích tuyển dụng. Mặt khác , mức lương từ 25 triệu đên 35 triệu
mà các Công ty Hàn Quốc trả cho lao động cũng là một sức hút lớn đối với lao
động Việt Nam.
21
Nguồn: Cục quản lí lao động ngoài nước
Thuyền viên đánh cá cũng là nghề chiếm số đông lao động Việt Nam. Nước ta bắt
đầu xuất khẩu thuyền viên tàu cá từ năm1992. Tính đến năm 2011, cả nước có
khoảng 40 doanh nghiệp đã và đang cung ứng thuyền viên đánh cá cho các đội tàu
của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, với tổng số khoảng 20 nghìn lượt người.
Nhiều công ty có số lượng thuyền viên đưa đi hàng năm cao như: LOD,
INMASCO, TTLC, SERVICO HANOI, TSC, Vạn Hoa…Tuy nhiên,nguồn cung
hạn hẹp: giới hạn ở 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Các doanh nghiệp có
hợp đồng cung ứng đều đổ xô về 3 tỉnh này để tuyển người. Khi được tuyển dụng,
các ứng viên sẽ được đào tạo hai tháng về giáo dục định hướng và sau đó sẽ xuất
cảnh sang Hàn Quốc làm việc trong thời hạn ba năm, thu nhập cơ bản khoảng
Lao động kỹ thuật cao sẽ được cấp visa màu, có thời gian làm việc tại Hàn Quốc
dài hơn (Thời hạn hợp đồng là 1 năm. Sau đó gia hạn tiếp theo từng năm và nếu
làm việc tốt, thời gian làm việc tại đây sẽ được kéo dài hơn, người lao động sẽ
được gia hạn đến 5 năm). Nhưng yêu cầu lao động phải có ít nhất 5 năm kinh
nghiệm làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao; có trình độ tương đương hoặc cao
hơn cử nhân trong lĩnh vực liên quan, có thời gian làm việc trên 2 năm trong lĩnh
vực chuyên môn yêu cầu.
Từ năm 2005, Bộ LĐ-TBXH đã phối hợp với tổ chức KOTEF của HQ thực hiện
thí điểm chương trình thẻ vàng.
2.2.4.2. Chương trình “thuyền viên tàu cá gần bờ”
Hiệp hội Thương mại Thủy sản Hàn Quốc (KFTA) cũng đang tiếp nhận lao động
là thuyền viên làm việc trên các tàu đánh cá gần bờ của Hàn Quốc thông qua một
số doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam.
Yêu cầu: người lao động phải có khả năng đi biển và kinh nghiệm đánh bắt thủy
hải sản, có đủ sức khỏe để đi làm việc tại nước ngoài, không có tiền án tiền sự,
không bị cấm xuất cảnh Việt Nam hoặc cấm nhập cảnh Hàn Quốc.
Thời hạn hợp đồng là 3 năm và có thể gia hạn thêm 2 năm nữa.
Được sự chấp thuận của Cục Quản lí lao động nước ngoài, một số doanh nghiệp
được phép cung ứng tu nghiệp sinh thuyền viên tàu cá gần bờ bao gồm: Công ty
24
Xuất nhập khẩu và Hợp tác Đầu tư Giao thông vận tải (TRACIMEXCO), Công ty
Cổ phần Xuất khẩu lao động-Thương mại và Du lịch (TTLC), Công ty TNHH một
thành viên cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại (SONA), Công ty TNHH một
thành viên xuất khẩu lao động-Thương mại và Du lịch (SOVILACO), Công ty cổ
phần phát triển nguồn nhân lực Hoàng Long (HOANGLONG HURESU.,CORP),
Công ty TNHH cung ứng nhân lực và Thương mại quốc tế Sao Việt, Công ty
TNHH Một thành viên đào tạo cà cung ứng nhân lực- Haui
2.2.4.3. Chương trình EPS
Chương trình này chỉ duy nhất Trung tâm Lao động ngoài nước, trực thuộc Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội được phép đưa lao động sang Hàn Quốc làm việc.