Sử dụng công cụ chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Thời đại chúng ta được phát triển bằng sự liên kết chặt chẽ giữa đầu tư
phát triển công nghệ với sức mạnh công nghiệp của mỗi quốc gia. Tuy vậy,
những nền kinh tế hiện đại phải luôn nghiên cứu, tìm nguồn thu nhập thực sự
để chuyển các phát minh trí tuệ thành những đổi mới mang lại nhiều lợi
nhuận.
Do đổi mới là phát minh kỹ thuật đã trở thành sản phẩm kinh tế và
kiến thức cơ bản cùng khoa học ứng dụng ít có khả năng phân ly nên kỹ
thuật ngày càng gắn bó với công nghệ hơn.
Từ mục đích kích thích cạnh tranh công nghiệp, mục tiêu đổi mới
công nghệ đã được mô tả ở nhiều khía cạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Các
chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ đã gắn liền với hiệu quả phát
triển.Chuyển giao công nghệ và khai thác kết quả nghiên cứu. Việc phổ biến
kết quả nghiên cứu hướng về doanh nghiệp là một trong những lợi thế ưu
tiên. Vấn đề được chỉ ra là phần lớn các dự án hỗ trợ đã được hình thành từ
những kết quả nghiên cứu mang tính chất áp dụng thương mại.
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, sự trao đổi, chuyển
giao công nghệ giữa các quốc gia ngày càng có chiều hướng gia tăng và
trở thành một trong những nội dung quan trọng trong mối bang giao
quốc tế hiện nay. Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đang thực sự quan
tâm phát triển thị trường khoa học và công nghệ bên cạnh thị trường
hàng hóa, thị trường lao động, thị trường tài chính... để thúc đẩy việc
chuyển giao công nghệ, tiếp nhận và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong báo cáo này mục đích tìm hiểu những kiến thức, những khái
niệm cơ bản về “Sử dụng công cụ chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế”.
Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Hoàng Trọng Thanh
em đã nhanh chóng nắm bắt được những vấn đề cơ bản và tầm quan trọng
của Văn hóa trong quản trị sản xuất kinh doanh. Do nội dung kiến thức của
đề tài tương đối rộng, điều kiện thời gian cũng như kiến thức có hạn, điều
Đề án môn học

công nghệ như sau:
“Công nghệ là máy biến đổi”. Với quan niệm này, công nghệ được thể hiện ở
hai khía cạnh. Thứ nhất, nó thể hiện xu hướng cho rằng khoa học và công
nghệ là một và phải được áp dụng đồng thời, và các nhà khoa học ứng dụng
cần tìm ra cách áp dụng vào thực tế các lý thuyết thuần tuý. Thứ hai, thuật
ngữ “công nghệ” liên quan đến khả năng làm một cái gì đó, ngụ ý rằng nó là
những gì làm biến đổi yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra sau cùng.
Quan niệm như vậy đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công
nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp
của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ. Tuy nhiên, những định
nghĩa này còn rất chung chung, không đủ cụ thể để mở ra chiếc “hộp đen
công nghệ”.
“Công nghệ là công cụ”. Với quan niệm này, công nghệ dựa trên nền
tảng là các máy móc thiết bị. Cách nhìn này vẫn còn phổ biến đến ngày nay,
3
GVHD: Hoàng Trọng Thanh SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Băng
3
Đề án môn học
mặc dù một vài định nghĩa có nói đến sự tác động quan lại giữa máy móc –
con người.
Những định nghĩa dựa trên quan niệm “Công nghệ là công cụ” đã mở
ra phần nào chiếc hộp đen công nghệ, tuy nhiên nó vẫn còn thiếu sót. Tác giả
Simon đã nói trong cuốn sách “Technology Policy Formulation and
Planning: A Reference Manual” rằng: “Nhìn công nghệ ở khía cạnh máy móc
và những vật chất rõ ràng sai lầm giống như chỉ nhìn thấy cái vỏ của con ốc
sên, hay cái mạng của con nhện vậy.”
“Công nghệ là kiến thức” cho rằng kiến thức là bản chất của tất cả các
phương tiện chuyển đổi. Những người ủng hộ quan niệm này cho rằng kiến
thức là khía cạnh quan trọng hàng đầu.
Những định nghĩa đi theo quan niệm này ngụ ý rằng kiến thức có thể

nơi có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cung cấp dịch vụ, hỗ
trợ cần thiết để ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ.
Chợ công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao
dịch công nghệ là nơi trưng bày, giới thiệu, mua bán công nghệ, xúc tiến
chuyển giao công nghệ và cung cấp các dịch vụ khác về chuyển giao công
nghệ.
Một số định nghĩa theo quan niệm này vẫn còn chung chung theo các
khía cạnh “phần cứng” và “phần mềm”, nhưng cũng có những định nghĩa cụ
thể hơn và có ý nghĩa đáng kể trong việc mở ra hộp đen công nghệ (chia
công nghệ theo các thành phần Kỹ thuật, Con người, Thông tin và Tổ chức).
Như trên ta đã thấy, việc xem xét công nghệ theo các hình thái biểu
hiện đã khắc phục những thiếu sót của các quan niệm khác và mở ra chiếc
hộp đen công nghệ một cách đầy đủ. Trong việc đánh giá trình độ công nghệ,
cần thiết phải có một cái nhìn đầy đủ và chi tiết về công nghệ và các thành tố
của nó để có thể khảo sát một cách đầy đủ và sát với thực tế nhất trình độ
công nghệ của các ngành công nghiệp. Trong các định nghĩa về công nghệ
dựa trên quan điểm này, định nghĩa công nghệ của K.Ramanathan với bốn
thành phần Thiết bị, Con người, Thông tin và Tổ chức đã được lựa chọn để
xem xét bởi sự toàn diện và cụ thể so với các định nghĩa khác.
Thành phần Thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ và các
phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản
5
GVHD: Hoàng Trọng Thanh SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Băng
5
Đề án môn học
phẩm mong muốn. Technoware bao gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu
và hệ thống xử lý thông tin.
• Hệ thống biến đổi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo thiết
kế của máy móc thiết bị.
• Hệ thống xử lý thông tin thực hiện một chuỗi kiểm soát, có thể được xây

• Thông tin chuyên về tổ chức: thông tin cần thiết để bảo đảm việc sử dụng
hiệu quả, sự tác động qua lại theo thời gian, và sự có sẵn của Technoware và
Humanware.
Bốn yếu tố này bổ sung cho nhau và tác động lẫn nhau. Chúng đòi hỏi
phải có mặt đồng thời trong hoạt động sản xuất và không có hoạt động
chuyển đổi nào có thể hoàn thành nếu thiếu một trong bốn yếu tố. Hình vẽ
dưới đây sẽ cho ta thấy sự tóm lược của bốn yếu tố công nghệ.
Mối quan hệ hữu cơ của các thành phần công nghệ
2. Khái niệm chuyển giao công nghệ
• Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ
sang bên nhận công nghệ.
• Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ giữa
các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam.
7
GVHD: Hoàng Trọng Thanh SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Băng
7
Đề án môn học
• Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc tổ chức, cá
nhân hoạt động ở nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân
hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam.
• Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc tổ chức, cá
nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam chuyển giao công nghệ cho tổ
chức, cá nhân hoạt động ở nước ngoài.
• Dịch vụ chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm,
giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ.
• Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh
tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trường của công nghệ.14. Định giá
công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ.
• Giám định công nghệ là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của

thấp. Nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ mới xuất hiện hoặc các doanh
nghiệp có nhu cầu thực hiện nhưng chưa có quy định pháp luật điều chỉnh cụ
thể.
Nước ta đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Do đó, việc
thu hẹp không tương thích giữa pháp luật chuyển giao công nghệ của Việt
Nam và pháp luật quốc tế là một ưu tiên. Một số nội dung của các văn bản
pháp luật về chuyển giao công nghệ trước đây chưa phù hợp, thiếu cơ sở
pháp lý cho việc thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Thị trường chuyển giao công nghệ
Là toàn bộ thị trường kinh tế, bao gồm các đơn vị, tổ chức chính phủ,
phi chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài có nhu cầu.
3. Tổ chức thực hiện chuyển giao công nghệ.
Theo luật chuyển giao công nghệ quá trình chuyển giao công nghệ
gồm:
Hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Nguyên tắc lập hợp đồng: Mọi hoạt động chuyển giao công nghệ phải thực
hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương
đương văn bản, bao gồm: Điện báo, Telex, Fax, thông điệp dữ liệu và các
hình thức khác theo quy định của pháp luật.
9
GVHD: Hoàng Trọng Thanh SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Băng
9
Đề án môn học
- Nội dung của hợp đồng CGCN:
+ Tên và hình thức công nghệ được chuyển giao;
+ Các khái niệm và thuật ngữ trong hợp đồng;
+ Mục tiêu, nội dung, phạm vi, đặc điểm, chất lượng và kết quả CGCN.
Trong trường hợp công nghệ được chuyển giao có nội dung gắn với đối
tượng sở hữu công nghiệp thì hợp đồng phải có điều riêng về chuyển giao
quyền sở hữu công nghiệp.

của máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất so với yêu cầu nêu trong dự
án. Đánh giá chất lượng thực tế của máy móc, thiết bị và dây chuyền sản
xuất với chất lượng thực tế của máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất so
với các tiêu chí đã nêu trong hồ sơ dự án.
- Giám định công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ;
- Đánh giá về tính tiên tiến của công nghệ và thiết bị sản xuất;
- Chất lượng sản phẩm được sản xuất nhờ việc áp dụng công nghệ được
chuyển giao so với tiêu chuẩn chất lượng đã thoả thuận.
- Đánh giá về mức độ hoàn thành các nội dung công nghệ được chuyển giao
so với nội dung đã nêu trong hợp đồng.
11
GVHD: Hoàng Trọng Thanh SVTH: Nguyễn Thị Tuyết Băng
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status