Tiểu luận: Lý luận ma trận SWOT thu hút đầu tư tại TP.Hồ Chí Minh doc - Pdf 10

Tiểu luận
Lý luận ma trận SWOT thu hút
đầu tư tại TP.Hồ Chí Minh Page i
MỤC LỤC
Danh Sách Nhóm & Phân Chia Công Việc iii
PHẦN MỞ ĐẦU iv
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1 Tìm hiểu chung về ma trận SWOT 1
1.1.1 Khái niệm ma trận SWOT 1
1.1.2 Nguồn gốc của ma trận SWOT 2
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa 4
1.2 Năng lực cạnh tranh 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh 5
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH 2012 7

4.2.2 Các phương án chiến lược từ phối hợp S-T 21 Page
iii
4.2.3 Các phương án chiến lược từ phối hợp W-O 21
4.2.4 Các phương án chiến lược từ phối hợp W-T 22
Danh mục tài liệu tham khảo 24

DANH SÁCH NHÓM & PHÂN CHIA CÔNG VIỆC
Tên & MSSV
Nhiệm vụ
Mức độ
tham gia
Trần Thị Hồng Diễm
K09.401.0009
Làm Chương 1, tham gia 5/5 buổi họp, đi in, thuyết
trình Chương 1.
10/10
Nguyễn Quốc Hưng
K09.401.0047
Làm Điểm mạnh của Chương 3, tham gia 4/5 buổi
họp, thuyết trình Chương 4, làm Phần Mở Đầu, làm
phối hợp S-O.
9,5/10
Bùi Lê Bảo Khanh
K09.401.0051


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do hình thành đề tài
ố Hồ ột trong những đô thị
lớn nhất nước, có vai trò trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học công
nghệ của cả nước và là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Thành phố Hồ
Chí Minh là địa phương đầu tiên tập trung phát triển các ngành cơ khí gia dụng, sản
xuất phương tiện vận tải, chế tạo máy, chế tạo thiết bị công nghệ, điện tử và các ngành
công nghệ cao khác vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu, tạo tốc độ tăng giá trị sản
ượng.
Thành phố ốn đầu tư nước ngoài mạnh so với cả nước, kể từ
khi Luật đầu tư được ban hành. Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng
số dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước. Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong
tổng thu ngân sách của nhà nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn song thu ngân sách của
thành phố vẫn không ngừng tang.
Đầu tư vào Thành phố Hồ Chí Minh sẽ hưởng được các lợi thế sẵn có như: nguồn
lao động, cơ sở vật chất, dịch vụ phát triển và thị trường tiêu thụ rộng lớn, … Hơn thế
nữa, Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong Vùng kinh tế trong điểm phía Nam là nơi có
nhiều lợi thế trên nhiều mặt so với các vùng khác của Việt nam. Trong Vùng kinh tế
trong điểm phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò trung tâm rất quan trọng về
nhiều mặt. Các địa phương trong Vùng kinh tế trong điểm phía Nam có vai trò hỗ trợ,
bổ sung lẫn nhau để phát triển.
Với lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng và điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí,
Thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai vẫn là nơi hấp dẫn nhất các nhà đầu tư nước Page v

của TPHCM trong thu hút đầu tư.
Phương pháp tham khảo tài liệu:
Tham khảo nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí, Internet để bổ sung kiến thức và số liệu
cho đề tài nghiên cứu.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nhắm đến việc phân tích năng lực cạnh tranh của
thành phố Hồ Chí Minh so sánh với các tỉnh thành khác trong nước, giai đoạn 2012
đến 2020.
- Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hồ Chí Minh
5. Tổng quan và tình hình nghiên cứu
Trong khả năng tìm hiểu của nhóm, chúng tôi chứ tìm thấy được đề tài nghiên
cứu nào nghiên cứu về Phân tích SWOT lợi thế cạnh tranh của TPHCM, nội văn cả
ngoại văn.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của lợi thế cạnh tranh của
TPHCM so với các tỉnh thành khác trong nước là gì?
- Qua phân tích SWOT, chúng ta có những phối hợp nào để xây dựng chiến lược thu
hút vốn đầu tư cho TPHCM đến năm 2020.

1 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tìm hiểu chung về ma trận SWOT
1.1.1 Khái niệm ma trận SWOT
SWOT là một thuật ngữ tiếng Anh được viết tắt của các từ Strengh (điểm
mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội), Threat (thách thức). SWOT
là phương pháp tiếp cận phân tích chiến lược vốn được sử dụng ban đầu cho việc
phân tích chiến lược kinh doanh. Cách tiếp cận này được giảng viên của trường Đại

Điểm yếu
W1:
W2:
W3:

Chiến lược W/ O
- L ập luận
- Các lĩnh v ực
chính
- Cơ hội / rủi ro
Chiến lược W/ T
- L ập luận
- Các lĩnh v ực
chính
- Cơ hội / rủi ro

Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết
định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh. Nói một cách hình
ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lại các

2 chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty, phân
tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của
doanh nghiệp. Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh
doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát
triển sản phẩm và cà trong các báo cáo nghiên cứu đang ngày càng được nhiều
doanh nghiệp lựa chọn.
1.1.2 Nguồn gốc của ma trận SWOT

nhóm làm việc hay đặt ra mục tiêu cho nhóm làm việc, vì vậy nên bắt đầu bước thứ
nhất bằng cách yêu cầu đánh giá ưu điểm và nhược điểm của công ty. Nhà kinh
doanh nên bắt đầu hệ thống này bằng cách tự đặt câu hỏi về những điều “tốt” và
“xấu” cho hiện tại và tương lai. Những điều “tốt” ở hiện tại là “Những điều hài
lòng” (Satisfactory), và những điều “tốt” trong tương lai được gọi là “Cơ hội”
(Opportunity); những điều “xấu” ở hiện tại là “Sai lầm” (Fault) và những điều
“xấu” trong tương lai là “Nguy cơ” (Threat). Công việc này được gọi là phân tích
SOFT. Khi trình bày với Urick và Orr tại Hội thảo về Lập kế hoạch dài hạn tại
Dolder Grand, Zurich, Thụy Sĩ năm 1964, nhóm nghiên cứu quyết định đổi chữ F
thành chữ W và từ đó SOFT đã chính thức được đổi thành SWOT.
Sau đó, SWOT được Urick và Orr quảng bá tại Anh quốc như một dạng bài
tập cho tất cả mọi người. Những điều cần phải làm trong khi lập kế hoạch chỉ là
phân loại các vấn đề theo một số danh mục được yêu cầu.
Bước thứ hai được điều chỉnh thành “Nhóm sẽ làm gì?” với từng phần trong
danh mục. Quá trình lập kế hoạch này sau đó được thiết kế thông qua phương pháp
“Thử và sai” mà kết quả là một quá trình gồm 17 bước, bằt đầu bằng SOFT/SWOT
với mỗi mục ghi riêng vào từng trang.
Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và xuất bản năm 1966 dựa trên hoạt
động của công ty Erie Technological Corp. ở Erie Pa. Năm 1970, phiên bản này
được chuyển tới Anh dưới sự tài trợ của công ty W.H.Smith & Sons PLC và được
hoàn thiện năm 1973. Phương pháp phân tích này cũng đã được sử dụng khi sáp
nhập các cơ sở xay xát và nướng bánh của CWS vào J.W.Frenhch Ltd.
Kể từ đó, quá trình này đã được sử dụng thành công rất nhiều lần ở nhiều
doanh nghiệp và tổ chức thuộc các lĩnh vực khác nhau. Và tới năm 2004, hệ thống
này đã được phát triển đầy đủ, đã chứng minh được khả năng giải quyết hàng loạt

4 các vấn đề hiện nay trong việc xác lập và nhất trí các mục tiêu mang tính thực tiễn

Hơn thế nữa, bằng cách sử dụng cơ sở so sánh và phân tích SWOT giữa bạn
và đối thủ cạnh tranh, bạn có thể phác thảo một chiến lược mà giúp bạn phân biệt
bạn với đối thủ cạnh tranh, vì thế mà giúp bạn cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.
1.2 Năng lực cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm
Cạnh tranh là khả năng của một quốc gia duy trì được hiệu quả kinh tế so với
một quốc gia khác. Nếu ở giác độ doanh nghiệp thì mục tiêu chủ yếu của cạnh tranh
là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận, còn đối với quốc gia thì mục tiêu cao nhất là phát
triển và tăng trư ng bền vững, không ngừng nâng cao sức sống của nhân dân.
Theo tiến sĩ Michael Fairbank, nhà kinh tế người Mỹ thì “ Cạnh tranh là khả
năng sử dụng tài s ản vật chất, nguồn lợi tự nhiên, nguồn lợi tài chính và hệ thống tư
tưởng của mình để sản xu ất ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên
của dân chúng - người sẵn sàng trả ti ền để mua những thứ mà quốc gia có, sau đó
quốc gia dùng đồng tiền đó để phân phối cho lao động của mình dưới hình thức trả
lương cao và được huấn luyện tốt hơn”
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh
Tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh
tranh với gần 200 chỉ số và chia ra thành 8 nhóm chỉ tiêu chính:
Nhóm 1: Mức độ mở cửa của quốc gia, bao gồm các chì số như thuế quan, phí thuế
quan, tỷ giá hối đoái.
Nhóm 2: Sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế thông qua chính
sách kinh tế vĩ mô: hệ thống thuế, lãi suất, tín dụng…
Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính bao gồm các chỉ số về khả năng thực hiện các hoạt
động trung gian về tài chính, rủi ro tài chính, đầu tư và tiết kiệm.

6 Nhóm 4: Sự ổn định của các biến số vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số
lạm phát, cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ thất nghiệp…

lượng, hiệu quả, bền vững. Đẩy mạnh khu vực dịch vụ trong GDP trong đó chú
trọng đến lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, dịch vụ viễn thông,
công nghệ thông tin, y tế, giáo dục đào tạo… Đồng thời, giảm dần tỷ trọng công
nghiệp và xây dựng, ổn định khu vực nông nghiệp (đến năm 2015, trong cơ cấu
GDP của thành phố dịch vụ chiếm 57%, công nghiệp 42%, nông nghiệp 1%).
Về hình thức đầu tư, các doanh nghiệp có thể chọn hình thức đầu tư phù
hợp: theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp tác liên doanh với
doanh nghiệp trong nước, góp vốn hoặc đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư
(PPP).
Về thu hút vốn FDI, theo số liệu của Cục Thống kê TP HCM, 25 năm qua,
tính tới tháng 9/2012, TP HCM đã thu hút 4.402 dự án FDI với tổng số vốn gần
31,7 tỉ USD. Riêng 9 tháng đầu năm, đã có 278 dự án FDI được cấp mới và 85 dự
án được điều chỉnh tăng vốn, nâng tổng số vốn FDI lên hơn 1,07 tỉ USD. Trong đó
chủ yếu đầu tư vào ngành công nghiệp chế tạo, tiếp đến là ngành dịch vụ và nông
lâm ngư nghiệp.
Tuy nhiên, có một số điểm cần lưu ý về thu hút vốn FDI:

8 Kết quả đầu tư FDI không như mong muốn. Đầu tư vào khâu chế biến, sản
xuất nông lâm thủy sản đang giảm mạnh do chính sách khuyến khích đầu tư chưa
đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư. Còn trong công nghiệp chế tạo, TP HCM mong muốn
thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp ôtô và công nghiệp phụ trợ nhưng sau 25
năm, kết quả vẫn chỉ là nhập khẩu các thiết bị máy móc lắp ráp trong nước.
Vốn FDI đăng ký khá nhiều, hơn 37 tỉ USD, nhưng tiến độ giải ngân chậm,
mới đạt trên 50%. Các dự án FDI chưa đạt trình độ công nghệ cao.
Xu hướng FDI vào TP.HCM dịch chuyển dần sang lĩnh vực dịch vụ. Theo
số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM, lĩnh vực dịch vụ chiếm hơn 50% tổng
vốn FDI, Điều này được thể hiện rõ qua tỷ lệ thu hút vốn FDI của các ngành tại

nước
TPHCM
VKTTĐPN
Cả
nước
Khu vực I
(Nông lâm ngư
nghiệp)
3,3%
5,9%
27,2%
2,3%
5,3%
25,4%
Khu vực II
(Công nghiệp
– Xây dựng)
38,9%
49,7%
28,8%
41,1%
55,5%
34,5%
Khu vực III
(Dịch vụ)
57,8%
44,4%
44,1%
54,6%
39,2%

8%
2. Tốc độ
tăng trưởng
công nghiệp
13%
15%
10%
12,7%
14%
11%
3. Tốc độ
tăng dịch vụ
9,6%
10%

13,5%
15% Dựa vào Quy hoạch phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm phía nam, Thành
phố Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ là vai trò trung tâm, đồng thời là Trung tâm lớn
của cả nước.
Trong giai đoạn 2001 – 2010, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vị trí quan
trọng trong Vùng Kinh tế Trọng điểm Phía Nam. 11

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng kinh tế năng động nhất cả nước nên là
điểm đến lý tưởng cho mọi thành phần lao động trong nền kinh tế. 37% trong số
những người đến với thành phố Hồ Chí Minh là những người có kỹ năng, nghị lực
và không bằng lòng với cuốc sống ở tại địa phương đã sinh ra. Họ đến thành phố
Hồ Chí Minh để tìm kiếm một công việc tốt hơn. Chính lực lượng này đã bổ sung
3.1.3 Cơ sở hạ tầng đang hoàn thiện
Hành lang đại lộ đông tây 12 Cầu vượt cát lái:

Cầu vượt Phú Mỹ:

Đại lộ Nguyễn Văn Linh:

Những tuyến đường huyết mạch, những nút giao thông trọng điểm đã được mở
rộng, xây mới để đáp ứng nhu cầu vận tải ngày một tăng của thành phố.
3.2 Điểm yếu (Weaknesses)
3.2.1

Nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn tiếp tục


quá khắt khe với hàng loạt điều kiện, trong đó có những điều kiện người dân không
thể đáp ứng được khi nộp hồ sơ xin phép xây cất nhà.
ững thay đổi liên tục và các quyết định điều chỉnh thuế,
lệ phí. Tại hầu hết các nước phát triển, doanh nghiệp thường chỉ quyết định đầu tư
sau khi có kết quả nghiên cứu về cơ sở hạ tầng, tốc độ tăng trưởng chung, chính
sách hỗ trợ cho các nhà đầu tư, hỗ trợ cho người tiêu dùng trong xã hội. Một trong
những điều quan trọng nhất là đoán trước được tính nhất quán của chính sách và thị
trường, ít nhất là cho giai đoạn 4 - 5 năm. Nhưng ở Việ
ự thay đổi lại diễn ra hàng năm, thậ
ầu tư bối rối vì không biết thị trườ ẽ
đi về đâu.
Hiện nay, theo số liệu của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, dân số
thành phố vào giữa năm 2010 là 7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km
2
, chưa kể
thành phần nhập cư và lượng khách vãng lai. Với quy mô dân số ấy, diện tích xây
dựng ngày một mở rộng, diện tích cây xanh thu hẹp dần. Thêm vào đấy, công tác
quy hoạch đô thị còn nhiều yếu kém, bất cập, việc quản lý xây dựng không nghiêm
đã đẩy thành phố vào hiện trạng xây dựng tràn lan, không theo quy hoạch. Nhiều
khu vực nội thành đường xá trở nên quá chật chội, nhà cửa lô nhô, chỗ cao chỗ
thấp, hẻm dọc hẻm ngang, vỉa hè bị lấn chiếm, trên cao dây điện giăng mắc chằng
chịt gây mất mỹ quan đô thị. Hiện thành phố đang rất cần một đề án quy hoạch
tổng thể và hoàn chỉnh.
Thêm nữa, kinh phí lập quy hoạch còn thấp, nhân sự tư vấn còn thiếu và yếu
về chuyên môn… đang làm cho công tác lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch, bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP.HCM kéo dài.
3.2.3
Chính “nhờ” các tầng nấc của thủ tục hành chính, nhờ sự khuất lấp của thông
tin mà cán bộ mới có cơ hội để nhận hối lộ, tham nhũng. Bắt đầu từ việc không

16 Điều này càng khẳng định TP. Hồ Chí Minh vẫn đang được các nhà đầu tư quan
tâm và chú ý.
1

3.3.2 Thành phố đang nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ
Chính Phủ đang nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến đầu tư như
Luật Đầu tư, Luật Bất Động Sản,… và liên tiếp ban hành những Nghị định, Thông
tư hướng dẫn việc đầu tư trong và ngoài nước, điển hình là Nghị định số 36/CP,
Nghị định 101/206/NĐ-CP, Nghị định 108/2006/NĐ-CP và các quyết định, hướng
dẫn liên quan đến thủ tục, cách thức đầu tư vào Việt Nam nói chung và đặc biệt là
thành phố Hồ Chí Minh. Chính phủ đã phần nào giúp cho con đường đầu tư vào
thành phố được công khai, minh bạch và thông thoáng hơn.
Bên cạnh đó, Ngân sách Nhà Nước cũng đang tích cực hỗ trợ cho thành phố
trong việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, các công trình, dự án công, tài trợ việc cải tạo
môi trường, cảnh quan đô thị. Đặc biệt, Chính phủ còn định hướng phát triển trong
việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố.
3.4 Thách thức (Challenges)
3.4.1 Các thành phố láng giềng (trong và ngoài nước) ngày càng ý thức sâu sắc
hơn tầm quan trọng của việc thu hút đầu tư
Các tỉnh thành trở thành những đối thủ cạnh tranh gay gắt với TP Hồ Chí
Minh. Với AFTA và sẽ là WTO, các doanh nghiệp sẽ không nhất thiết phải đặt ở
TP Hồ Chí Minh để khai thác thị trường Việt Nam.
Hiện nay cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các tỉnh thành đang diễn ra một
cách quyết liệt và đây là hệ quả trực tiếp từ quá trình phân cấp. Có rất nhiều “động
lực” trong cuộc cạnh tranh này vì tỉnh thành nào cũng muốn vươn lên. Điều này
được hể hiện rõ nhất qua việc các tỉnh thành cố gắng đưa ra các ưu đãi tốt nhất để


giao thông và các khu vực có công trường xây dựng. Theo báo cáo, tất cả các lần đo
tại thành phố Hồ Chí Minh đều có nồng độ bụi trung bình một giờ vượt tiêu chuẩn,
trong đó từ năm 2005 đến nay khu vực cầu vượt An Sương thường xuyên có nồng
độ bụi cao nhất. Thống kê mới đây cho thấy, tại thành phố Hồ Chí Minh có khoảng
3,5 triệu chiếc xe gắn máy và 500.000 ô tô các loại. 50%-60% số mô tô, xe máy
đang lưu hành không đạt yêu cầu về khí thải và âm thanh (thống kê của Cục Đăng

18 kiểm Việt Nam 2006), ngoài tiếng ồn vượt mức giới hạn, hàng giờ lượng xe này
thải ra một lượng khí thải với 6 triệu tấn CO
2
, 61.000 tấn CO, 35.000 tấn NO
2
,
12.000 tấn SO
2
và 22.000 tấn C
m
H
n

 Ô nhiễm nguồn nước
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước của thành phố cũng hết sức nghiêm trọng, hầu
hết các con kênh, rạch trên địa bàn thành phố giờ đã thành các con kênh nước đen,
bốc mùi hôi thối do lượng rác thải sinh hoạt và công nghiệp không được xử lý thải
ra hằng ngày. Kênh Tàu Hủ - Bến Nghé mỗi ngày phải hứng hàng trăm ngàn m
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status