TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Thẩm định dự án tín dụng đầu tư tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Giáo viên hướng dẫn : GS.NGƯT Đinh Xuân Trình
Sinh viên : Nguyễn Thị Thanh Loan
Lớp : A2-K37
hoàn vốn, thu lợi nhuận không, và nhất là có khả năng trả nợ, lãi cho
ngân hàng không. Thẩm định dự án đầu tư là bước đầu tiên và quan trọng
nhất để đảm bảo rằng khoản cho vay đạt được ba tiêu chí cơ bản: lợi
nhuận- an toàn- lành mạnh.
Trên thực tế, công tác thẩm định dự án tín dụng đầu tư của các
ngân hàng thương mại vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều dự án tín dụng đầu
tư hoạt động không hiệu quả, ngân hàng không thu hồi được vốn đầu tư
do những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Là một ngân hàng lớn
trong hệ thống ngân hàng thương mại của Viêt Nam, Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng này. Để nâng cao
hiệu quả của công tác thẩm định tai Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam,
em xin chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp: “ thẩm định dự án tín dụng đầu
tư tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam “. Đề tài được hoàn thành dưới
sự hướng dẫn nhiệt tình của GS.NGƯT Đinh Xuân Trình và sự giúp đỡ
của các cán bộ tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam .
2. Mục đích nghiên cứu:
Khoá luận sẽ phân tích và luận giải về mặt lý luận và thực tiễn tính
chất của dự án đầu tư và công tác thẩm định dự án tín dụng đầu tư .
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác thẩm định dự án tín dụng
đầu tư tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, khoá luận sẽ rút ra những
tồn tại và nhược điểm phải khắc phục để hoàn thiện trong thời gian tới.
Đề xuất một số giải cơ bản ở tầm vĩ mô và vi mô để nâng cao hiệu quả
của công tác thẩm định dự án tín dụng đầu tư tại ngân hàng Ngoại
Thương Việt Nam .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Công tác thẩm định dự án tín dụng đầu tư
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác thẩm định dự án tín dụng đầu
tư của ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trong những năm gần đây( từ
năm 1999 đến năm 2002)
4. Phương pháp nghiên cứu:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
I. Khái niệm chung về dự án đầu tư
1.1. Khái niệm về dự án đầu tư
a. Khái niệm dự án đầu tư :
Đầu tư được coi là động lực của sự phát triển nói chung và sự phát triển
kinh tế nói riêng của mọi quốc gia trên thế giới. Có thể hiểu đầu tư là việc
huy động nguồn lực để biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một
khoảng thời gian đủ dài trong tương lai. Trong đó: các nguồn lực chính là
vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian ; lợi ích dự kiến có thể
lượng hoá được( hay đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản
lượng, lợi nhuận ) mà cũng có thể không lượng hoá được ( như sự phát
triển trong các lĩnh vực giáo dục, giải quyết các vấn đề xã hội, quốc
phòng ). Đối với doanh nghiệp, đầu tư hiểu đơn giản là việc bỏ vốn kinh
doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Còn trên quan điểm
xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn để từ đó thu được các hiệu quả kinh
tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Nhưng cho dù đứng từ góc độ
nào đi chăng nữa, muốn tối đa hoá hiệu quả của đầu tư thì trước khi quyết
định đầu tư, nhất thiết phải có dự án đầu tư. Và trên thực tế, hoạt động
đầu tư được thể hiện tập trung qua việc thực hiện các dự án đầu tư. Vậy
dự án đầu tư là gì ? Có rất nhiều khái niệm về dự án đầu tư theo các quan
điểm sau :
Theo Ngân hàng Thế giới: Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt
động và chi phí liên quan đến nhau được hoạch định nhằm đạt được
những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định.
Theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định
52/1999 - NĐ - CP ngày 08/07/1999 của Chính phủ: Dự án đầu tư là một
tập hợp những đề xuất dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ
vốn để xây dựng mới, cải tạo, đổi mới kỹ thuật và công nghệ, những đối
tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải
trung thực, phương pháp khoa học, logic, việc sử dụng đồ thị, bản vẽ kỹ
thuật phải đảm bảo về kích thước và tỷ lệ.
Để đạt được tính khoa học đòi hỏi dự án đầu tư phải có phương pháp điều
tra đúng, kỹ thuật phân tích cao.
o Tính khả thi:
Dự án đầu tư có tính khả thi có nghĩa là dự án phải có khả năng ứng dụng
và triển khai trong thực tế. Vì vậy, muốn đảm bảo yêu cầu này, dự án đầu
tư phải đặt trong đúng hoàn cảnh môi trường đầu tư, phản ánh những
điều kiện cụ thể về môi trường, mặt bằng, vốn, khả năng của dự án
Nói cách khác, dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch tổng thể của
ngành, của vùng. Mục đích của dự án đầu tư phải trùng với mục đích phát
triển kinh tế - xã hội.
o Tính hiệu quả:
Tính hiệu quả của dự án đầu tư được thực hiện thông qua các chỉ tiêu
hiệu quả kinh tế - tài chính. Các chỉ tiêu này đòi hỏi phải chính xác, phải
được xây dựng trên cơ sở các số liệu điều tra hợp lý, phương pháp tính
toán kỹ lưỡng. Chỉ có như vậy tính hiệu quả của dự án mới có thể đạt
được.
c. Ý nghĩa của dự án đầu tư:
Đối với cơ quan nhà nước, dự án đầu tư là cơ sở đầu tiên, là tài liệu cơ
bản để cơ quan quản lý nhà nước xem xét và phê chuẩn, cấp giấy phép
đầu tư.
Đối với chủ đầu tư, đó là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu
tư, thu hút đối tác cùng tham gia liên doanh bỏ vốn đầu tư, là phương tiện
thuyết phục các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước tài trợ cho vay vốn.
Dự án là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi đôn đốc
và kiểm tra quá trình thực hiện dự án đầu tư. Từ đó đánh giá chính xác và
điều chỉnh kịp thời những vướng mắc trong quá trình xây dựng và hoạt
động của dự án.
Nó có tác dụng tích cực trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
gây nên và hậu quả của nó. Các giải pháp chông ô nhiễm, bảo vệ môi
trường sinh thái, xử lý chất thải.
Xây dựng và tổ chức thi công :
Xây dựng tiêu chuẩn công trình xây dựng, phương án kết cấu, hạng mục
công trình, yêu cầu kỹ thuật, giải pháp phòng cháy, chữa cháy, hình thức
thi công.
Tổ chức quản lý sản xuất và bố trí lao động:
Tổ chức quản lý các bộ phận sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, các bộ phận lao
động trực tiếp, lao động gián tiếp, bộ phận quản trị điều hành.
Phân tích hiệu quả kinh tế tài chính:
Nguồn vốn và các điều kiện tạo nguồn vốn, tông mức vốn đầu tư chia ra
các chi phí đầu tư cố định, thường xuyên, các khả năng hình thức huy
động vốn, ước tính chi phí sán xuất, dự trù doanh thu, lỗ lãi, khả năng hoà
vốn, khả năng trả nợ, phân tích các lợi ích về mặt xã hội- môi trường.
Tổ chức thực hiện- kết luận- kiến nghị về chính sách, các chế
độ ưu đãi.
II. Thẩm định dự án tín dụng đầu tư :
2.1. Khái niệm :
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng
dưới con mắt của các nhà ngân hàng, người sẽ bỏ vốn đầu tư, thì khía
cạnh lợi nhuận và khả năng tài chính, khả năng hoàn vốn luôn là những
mối quan tâm hàng đầu. Để đánh giá các khía cạnh này, ngân hàng phải
tiến hành một loạt các hoạt động mà ta gọi là thẩm định, nhằm mục đích
cuối cùng là trả lời cho câu hỏi “Có nên cho vay hay không?”.
Các hoạt động thẩm định về cơ bản là giống nhau giữa các ngân hàng.
Nhìn chung, chúng bao gồm việc thu thập thông tin có ý nghĩa đối với
việc đánh giá tín dụng, phân tích các thông tin thu thập được để trợ giúp
quyết định tín dụng, lưu trữ các thông tin xử lý để sử dụng trong tương
lai. Vậy:
“Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan có
lợi ích kinh tế do dự án mang lại, hiệu quả thu hút lao động, giải quyết
công ăn, việc làm Xác định mục tiêu của dự án và phương hướng phát
triển chung của vùng, của ngành. Từ đó đề ra các chính sách, kế hoạch
thích hợp.
Thẩm định dự án đầu tư giúp các nhà tài chính ra quyêt định
đúng đắn, chính xác về việc cho vay hay tài trợ dự án đầu tư. Bất kỳ một
tổ chức tín dụng nào khi thực hiện cho vay, tài trợ cho các dự án đều phải
xem xét tới các yếu tố: cho vay dự án nào? cho vay với khối lượng bao
nhiêu? với lãi suất ra sao? Khả năng thu hồi nợ, các điều kiện đảm bảo
tránh rủi ro thẩm định dự án có cung cấp thông tin chính xác thì các câu
trả lời cho các vấn đề trên mới được thoả đáng và giúp ra các quyết định
đầu tư đúng đắn.
c. Yêu cầu của việc thẩm định dự án đầu tư :
- Công tác thẩm định dự án đầu tư phải bám sát chủ trương
đường lối phát triển kinh tế của nhà nước, của chính quyền địa phương
theo từng thời kỳ.
- Phải dựa trên chính sách tín dụng của ngân hàng; chính sách
khách hàng, hướng đầu tư, cơ cấu đầu tư
- Phải được tổ chức theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và linh
động
- Kết quả thẩm định phải toàn diện, chính xác, khách quan và kịp
thời.
2.3. Quy trình thẩm định dự án đầu tư :
2.3.1.Những nguồn thông tin để thẩm định:
Một trong những hoạt động không thể thiếu của công tác thẩm định là thu
thập thông tin về khách hàng và dự án vay vốn. Chất lượng thông tin thu
thập đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và kết luận sau này. Cán
bộ thẩm định có thể thu thập thông tin qua các nguồn sau:
Phỏng vấn người xin vay:
Qua phỏng vấn người xin vay, cán bộ tín dụng sẽ biết được lý do vay và
xin vay lớn, thời gian dài. Ngay cả những dự án nhỏ, người xin vay vẫn
phải cung cấp số liệu về tài sản, những khoản nợ, vốn tự có và các
thông tin khác phản ánh tình hình tài chính của họ. Rõ ràng là các thông
tin thu được từ các báo cáo tài chính là vô cùng quan trọng trong công tác
thẩm định. Tuy vậy, cũng cần phải thấy là, những thông tin đó phản ánh
các kết quả của quá khứ và có thể nói lên điều gì đó trong xu thế tương lai
nhưng không hoàn toàn quyết định tương lai. Vì thế, khi sử dụng những
thông tin này, không được coi là căn cứ duy nhất để ra quyết định tín
dụng.
Một số nguồn thông tin khác:
Ơ một số nước phát triển, có các tổ chức chuyên thu thập và bán thông tin
về các doanh nghiệp, hoặc có các cơ quan được quyền quản lý và cung
cấp miễn phí thông tin. Ở nước ta, có Trung tâm Thông tin Tín dụng của
Ngân hàng Nhà nước(CIC). Đây là một trong những nguồn mà ngân hàng
cần khai thác để phục vụ dự án.
Khi đánh giá một dự án, cán bộ tín dụng còn cần phải tìm hiểu về thị
trường mà doanh nghiệp tham gia, nguồn nguyên vật liệu sử dụng, mạng
lưới phân phối sản phẩm Ngoài ra, cán bộ tín dụng còn phải thu thập
các thông tin về tình hình kinh tế xã hội, khả năng phát triển kinh tế, mức
độ ổn định xã hội Những thông tin này có thể được khai thác từ nhiều
nguồn, nhưng việc xử lý thông tin đó không phải đơn giản, nó yêu cầu
người thẩm định phaỉ “trở thành” nhà nghiên cứu thị trường, nhà dự đoán
kinh tế. Vì vậy có thể thấy, công việc thẩm định dự án vay vốn là hết sức
khó khăn, phức tạp.
Tóm lại, thu thập thông tin là một phần quan trọng trong công tác thẩm
định tín dụng. Vì thế, các ngân hàng luôn phải làm tốt việc lựa chọn
nguồn thông tin. Tuỳ vào tính chất của doanh nghiệp vay vốn, dự án vay
vốn lớn hay nhỏ, hình thức kinh doanh, loại sản phẩm dự định kinh doanh
cũng như tiềm năng phát triển của nó mà tiến hành lựa chọn nguồn thông
tin phù hợp với khả năng và chi phí tài chính bỏ ra.
phải thấy rằng uy tín được đánh giá thường trên cơ sở phán đoán chứ
không thể hiện trên cơ sở các thông tin số liệu đầy đủ và ngay cả các số
liệu ấy cũng chỉ là hình ảnh của quá khứ chứ không phải hoàn toàn ảnh
hưởng tới tương lai. Điều đó nói lên rằng quyết định tín dụng phải dựa
trên kết quả tổng hợp từ nhiều mặt chứ không chỉ đánh giá phiến diện
một khía cạnh nào đó
Đánh giá năng lực quản lý.
Phần lớn tiền hoàn trả các khoản vay đều được lấy từ lợi nhuận. Việc tạo
ra lợi nhuận đối với một doanh nghiệp lại tuỳ thuộc vào tất cả các yếu tố
ảnh hưởng tới lượng hàng bán, giá bán, giá thành và chi phí. Trong các
yếu tố này, người ta thường coi trọng chất lượng quản lý, nhiều người coi
nó là yếu tố chính để cấp tín dụng hay không. Khi đánh giá yếu tố quản
lý, thường xem xét khả năng của ban điều hành trong việc thu hút nhân
viên, nguyên liệu và quỹ vốn, tạo thời cơ và tận dụng thời cơ, khả năng
điều chỉnh kịp thời kế hoạch kinh doanh
Đánh giá các quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp.
Quyền sở hữu tài sản được coi là một trong những tiêu chuẩn tín dụng.
Thứ nhất, muốn có sức cạnh tranh trên thi trường, doanh nghiệp phải có
máy móc, thiết bị, phương tiện, địa điểm Chính các tài sản hay vốn chủ
sở hữu là một tiêu chuẩn đo lường sức mạnh tài chính của doanh nghiệp
và cũng thể hiện tính thận trọng, tài tháo vát của chủ doanh nghiệp. Thứ
hai, các quyền sở hữu tài sản có thể là một phần hay toàn bộ vật thế chấp
cho khoản vay và như vậy, khẳng định rằng khoản vay sẽ được hoàn trả
nếu như khả năng kiếm lời của người vay không đủ để thu hồi. Tuy
nhiên, khi đánh giá các quyền sở hữu tài sản với tư cách là vật thế chấp,
cán bộ tín dụng cũng phải lưu ý là tránh cho vay chỉ dựa vào sự đầy đủ
của tài sản thế chấp. Một khoản cho vay được đánh giá là thành công nếu
nó tạo ra được lợi nhuận cho ngân hàng và sự phát triển kinh doanh cho
doanh nghiệp chứ không phải chỉ là khả năng thu hồi được. Hơn nữa,
trong trường hợp phải sử dụng tài sản thế chấp để thu nợ, việc phát mại
hình tài chính doanh nghiệp. Theo nhiều nhà kinh tế đây là cơ sở, quan
trọng nhất để quyết định cho vay hay không. Tuy vậy, không nên quan
niệm rằng khi đánh giá xấu về tài chính thì sẽ không cho vay và ngược lại
bởi tình hình tài chính trong quá khứ đôi khi bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh
kinh tế khách quan hay thời gian hoạt động của doanh nghiệp (ví dụ như
những doanh nghiệp mới đi vào hoạt động có thể bị lỗ trong một vài năm
đầu). Chuẩn mực để đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp là
chỉ tiêu trung bình ngành. Khi chưa có các chỉ tiêu trung bình ngành thì
dùng chỉ tiêu qui ước hoặc so sánh với những doanh nghiệp cùng loại
hoạt động có hiệu quả, có tình hình tài chính vững chắc.
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc trang
trải các món nợ. Người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Hệ số thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán nợ cuối cùng
Nhóm chỉ tiêu kết cấu tài chính :
Nhóm chỉ tiêu này đánh giá mức độ tham gia của doanh nghiệp vào tài
trợ cho tài sản của mình, do đó chúng cũng phản ánh mức độ rủi ro khi
ngân hàng tham gia tài trợ doanh nghiệp.
Thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Hệ số nợ
Hệ số tự tài trợ
Hệ số nợ dài hạn
Khả năng thanh toán lãi vay
Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động:
Nhóm chỉ tiêu này cho phép ta đánh giá mức độ hiệu quả của doanh
nghiệp trong việc khai thác, sử dụng số vốn đang có. Gồm các chỉ tiêu
Vòng quay hàng tồn kho
- Hợp đồng nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu (nếu dự án có
nhập khẩu).
- Hợp đồng bảo hiểm công trình, lịch trả nợ
Tóm lại, ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp đệ trình đầy đủ các văn bản
giấy tờ liên quan đến dự án đầu tư nhằm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lý,
hợp lệ của nó.
b. Thẩm định phương diện thị trường:
Thị trường là nhân tố quyết định việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của
dự án. Đối với cả trường hợp dự án đã ký được các hợp đông bao tiêu
cũng phải nghiên cứu thị trường nơi người bao tiêu sẽ bán sản phẩm và
uy tín của người bao tiêu trên thị trường.
Nghiên cứu thị trường nhằm xác định thị trường cung cầu sản phẩm hoặc
dịch vụ của dự án hiện tại, tiềm năng phát triển của thị trường này trong
tương lai, các yếu tố kinh tế và phi kinh tế tác động đến nhu cầu của sản
phẩm hay dịch vụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm so với các sản
phẩm cùng loại có sẵn và các sản phẩm có thể ra đời sau này.
c. Thẩm định phương diện kỹ thuật:
Nghiên cứu kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành phân tích kinh tế tài
chính các dự án đầu tư. Các dự án đầu tư không khả thi về mặt kỹ thuật
phải được bác bỏ để tránh những tổn thất trong quá trình thực hiện đầu tư
và vận hành kết quả đầu tư sau này.
d. Thẩm định về phương diện tổ chức và quản lý dự án :
- Mô hình tổ chức quản lý của dự án : đơn vị quản lý dự án là một
bên hay nhiều bên tham gia; quyền hạn, trách nhiệm và sự phối hợp giữa
các bên trong điều hành dự án.
- Xem xét năng lực hoạt động, uy tín các đơn vị tham gia thiết kế,
thi công, cung ứng thiết bị để đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ
dự kiến.
- Thẩm định khả năng chuyên môn, kinh nghiệm quản lý của đơn
vị điều hành dự án.
vào dự án khác (khai thác quá cao vốn đầu tư ban đầu) hay cố ý tạo tính
lợi nhuận của dự án (khai giảm). Thứ hai, nó cho phép ngân hàng kiểm
tra được kế hoạch khấu hao trang thiết bị vì đIều này liên quan tới lợi
nhuận thực của dự án và kế hoạch và nguồn thanh toán nợ.
Ngoài 3 loại trên, còn có một số chi phí đầu tư cần kiểm tra xác định
gồm nhu cầu vốn lưu động ban đầu (đối với dự án xây dựng mới), nhu
cầu vốn lưu động bổ sung (đối với dự án mở rộng bổ sung thiết bị) để
sau khi dự án được xây dựng xong có thể hoạt động bình thường, chi phí
thành lập, chi phí trả lãi vay Ngân hàng trong thời gian thi công của các
dự án đầu tư.
Thẩm định cơ cấu vốn và nguồn vốn:
Cơ cấu vốn ở đây được hiểu là việc phân bổ vốn đầu tư vào các hoạt
động xây dựng, mua sắm trang thiết bị, dự trữ và chi cho hoạt động sản
xất kinh doanh. Về điểm này, sẽ không có mẫu thống nhất cho tất cả các
nghành, nên cán bộ thẩm định buộc phải dựa vào kinh nghiệm, tham khảo
những dự án những dự án tương tự đã hoạt động để kiểm tra tính hợp lý
của cơ cấu vốn. Ngoài ra, căn cứ vào tính chất, phạm vi hoạt động của dự
án, tính toán chính xác cơ cấu vốn nội tệ và ngoại tệ nhằm xác định được
nguồn ngoại tệ tài trợ cho dự án, xây dựng cơ sở quy đổi phục vụ tính
toán hiệu quả đầu tư.
Thẩm định doanh thu và lợi nhuận dự kiến.
Trong mục này, vận dụng các kiến thức về kế toán và phân tích tài chính,
ngân hàng phải đánh giá tính chính xác, hợp lý của các con số mà doanh
nghiệp đưa ra:
- Tính doanh thu dự kiến: nhận xét trên cơ sở liên hệ với các phân
tích thị trường và phân tích kỹ thuật.
- Tính toán giá thành và chi phí sản xuất.
- Trên cơ sở kiểm tra cách tính và phân bổ chi phí, cách tính
doanh thu dự kiến, ngân hàng thực hiện kiểm tra cách tính lợi nhuận hàng
nănm của dự án.
n
t
t
i
Ct
0
)1(
+
n
t
t
i
Rt
1
)1(
Trong đó:
Ct: vốn đầu tư thực hiện năm thứ t n: thời gian hoạt động của dự án .
Rt: khoản thu hồi ròng năm thứ t. i: lãi suất chiết khấu.
Rt bao gồm: lãi ròng + khấu hao - trả vốn vay. Riêng năm cuối Rt còn
gồm: thu hồi vốn lưu động ròng + thu nhập ròng từ thanh lý tài sản của
dự án.
Như vậy, từ công thức tính NPV ta thấy: