Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
3
1. Khái niệm trách nhiệm xã hội
3
2. Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
3
3. Phát triển bền vững – mục tiêu thực hiện TNXH của doanh nghiệp
5
4. Đạo đức và trách nhiệm xã hội
6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC THỰC HIỆN
TNXH TẠI VIỆT NAM
8
1. Tình hình chung
8
2. Các công cụ quản lý
9
3. Một số thành công bước đầu
đảm TNXH lại càng ít hơn nữa.
“Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh” cũng là chủ đề mà nhóm chúng
em chọn làm tiểu luận lần này, vừa để tìm hiểu thêm kiến thức cho chính
bản thân mình, vừa hy vọng có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn về khái niệm
cũng như thực trạng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay một cách đúng đắn nhất, đồng thời đưa ra một số
giải pháp tháo gỡ những khó khăn đang gặp phải cho vấn đề này.
Dù đã cố gắng để hoàn thành tốt nhất có thể nhưng do vấn đề rộng và
kiến thức có hạn nên bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Nhóm chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp chỉ dạy của thầy để
bài làm được hoàn thiện tốt hơn và có giá trị tham khảo.
Chúng em xin cám ơn!
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm TNXH của doanh nghiệp:
TNXH của doanh nghiệp :
3
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
• Là sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và thực
hiện hệ thống các quy định về quản lý của doanh nghiệp, bằng phương pháp
quản lý thích hợp trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành, nhằm kết hợp hài
hoà lợi ích của doanh nghiệp, người lao động, Nhà Nước và xã hội.
• Là việc ứng xử trong quan hệ lao động của doanh nghiệp nhằm đảm
bảo lợi ích của người lao động, doanh nghiệp, khách hàng và cộng đồng; bảo
vệ người tiêu dùng và tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm đạt được
mục tiêu chung là phát triển bền vững.
2. Các khía cạnh của TNXH :
Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, TNXH của doanh nghiệp là
tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ
người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt
và thiên tai Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt
phát triển nghề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi
trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi
làm việc.
Đối với người tiêu dùng, ngoài trách nhiệm chủ yếu là cung cấp hàng
hoá và dịch vụ, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến vấn đề về chất lượng,
an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối,
bán hàng và cạnh tranh.
Khía cạnh kinh tế trong TNXH là cơ sở cho các hoạt động của doanh
nghiệp. Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế
hoá thành các nghĩa vụ pháp lý. Một ví dụ điển hình: Vào những năm 1990,
điều kiện lao động khắc nghiệt tại các nhà máy của Nike ở Đông Á và Đông
Nam Á, trong đó có Việt Nam, đã bị nhiều tổ chức phi chính phủ và phương
tiện truyền thông lên án kịch liệt. Từ đó đã dấy lên phong trào tẩy chay sản
phẩm Nike tại các thị trường chính của tập đoàn ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Tuy
phong trào tẩy chay không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, nhưng Nike
đã lập tức đưa ra những chương trình xây dựng lại hình ảnh. Hiện tại, bên
cạnh vô số những chương trình TNXH tại thị trường tiêu thụ của Nike ở các
nước phát triển và đang phát triển, Nike đã thành lập một hệ thống các tổ
chức giám sát độc lập nhằm kiểm tra lao động tại các nhà máy ở vùng châu
Á.
Vì vậy , để đảm bảo lợi nhuận của mình, các doanh nghiệp ý thức rằng
không thể phát triển mà phớt lờ sức ép của dư luận vốn vừa là khách hàng,
công nhân viên hoặc cả các đối tác, chủ đầu tư trong nước lẫn quốc tế. Các
nhà quản lý doanh nghiệp quốc tế không những cần biết cách làm tăng tối đa
lợi nhuận cho công ty, mà còn phải ý thức rất rõ được việc tạo nên những
điều kiện để duy trì và phát triển bền vững những lợi ích kinh tế đó.
Khía cạnh pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong TNXH của một doanh nghiệp là doanh nghiệp
đó phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các
các chất thải không thể phân hủy là do hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo
ra. Vậy TNXH đầu tiên của các doanh nghiệp là không kinh doanh trên sự
tổn hại của môi trường.
3. Phát triển bền vững - mục tiêu thực hiện TNXH của các doanh
nghiệp:
• Khái niệm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều
cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, một định nghĩa chung nhất đã được đưa ra
cho khái niệm phát triển bền vững trong Báo cáo Brundtland như sau:
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại
mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ
tương lai”
6
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
Định nghĩa này mặc dù còn chung chung nhưng đã nhấn mạnh được hai
yếu tố quan trọng nhất của phát triển bền vững. Đó là vấn nạn môi trường
và mối tương quan của nó với sự phát triển kinh tế; và nhu cầu của sự
phát triển đó đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
• Nội dung của chiến lược phát triển bền vững:
Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội
công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả
các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt
tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế- xã
hội- môi trường.
• Phát triển bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường
bền vững, kinh tế bền vững và xã hội bền vững.
a. Môi trường trong phát triển bền vững: đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân
bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai
thác những nguồn tài nguyên này ở một giới hạn nhất định, cho phép môi
tổ chức kinh doanh, mà chính những phẩm chất này sẽ chỉ đạo quá trình đưa
ra quyết định của những tổ chức ấy. Nếu đạo đức kinh doanh liên quan đến
các nguyên tắc và quy định chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chức
thì TNXH quan tâm tới hậu quả của những quyết định của tổ chức tới xã hội.
Nếu đạo đức kinh doanh thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ
bên trong thì TNXH thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên
ngoài.
• Mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và TNXH của doanh nghiệp:
Đạo đức và TNXH là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh.
Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức
và TNXH là trọng tâm của các hoạt động kinh doanh. Sự tồn vong của
doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịch
vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp.
Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy
tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức. Đạo đức kinh doanh, trong
chiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh
nghiệp.
Xem đạo đức và TNXH là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh,
các doanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việc
thực hiện. Khi đó, những vấn đề này không còn là môt gánh nặng hay điều
bắt buộc mà là nguồn và cơ sở của những thành công. Rất nhiều cơ hội và
lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và TNXH là trọng
tâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc tôn trọng đạo đức và TNXH của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích
chung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng. Đây là những bộ
phận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Khi
thực hiện tốt đạo đức và TNXH, doanh nghiệp sẽ nhận được sự ủng hộ trung
thành và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác này. Đây chính
là điều kiện cơ bản nhất của mọi thành công. Ngày nay, đề làm cho khách
hàng và cộng đồng thương yêu thương hiệu của công ty, các doanh nghiệp
bản và đạt hiệu quả cao. Có thể lấy một số ví dụ nổi bật như chương trình
“Tôi yêu Việt Nam” của công ty Honda- VietNam; chương trình giáo dục vệ
sinh cá nhân cho trẻ em tại các tỉnh miền núi của công ty Unilever; chương
trình đào tạo tin học Topic64 của Microsoft, Qualcomm và HP; chương trình
hỗ trợ phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh và ủng hộ nạn nhân vụ sập cầu Cần
9
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
Thơ của VinaCapital, Samsung; chương trình khôi phục thị lực cho trẻ em
nghèo của Western Union…
Đối với các doanh nghiệp trong nước, một khi Việt Nam đã tham gia
WTO có nghĩa là chúng ta đã tham gia vào một sân chơi quốc tế. Ở đó, tất cả
các vấn đề phát triển thương mại đều phải gắn liền với những "luật chơi" mà
nếu thành viên nào không thực hiện sẽ bị loại ra khỏi "cuộc chơi" ấy ngay
lập tức. Chẳng hạn muốn thâm nhập thị trường đang nhắm đến, các Doanh
nghiệp Việt Nam phải đáp ứng được những yêu cầu về quan hệ lao động,
môi trường, sức khoẻ, an toàn và bảo vệ môi trường Thậm chí các đối tác
thương mại sẽ tẩy chay sản phẩm hàng hoá của nước thành viên nào mà DN
sản xuất ra sản phẩm đó không thực hiện đúng chuẩn mực về các TNXH.
Các công ty xuất khẩu có lẽ là đối tượng đầu tiên tiếp cận với TNXH. Hầu
hết các đơn hàng từ châu Âu- Mỹ- Nhật đều đòi hỏi các doanh nghiệp may
mặc, giày dép phải áp dụng chế độ lao động tốt (tiêu chuẩn SA8000) hay
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (đối với các xí nghiệp thủy hải sản)…
Ngoài ra, nhiều công ty tư nhân trong nước cũng đã nắm bắt vấn đề này khá
nhạy bén. Một số công ty đã chủ động thực hiện và tạo được hình ảnh tốt đối
với công chúng như các tập đoàn Mai Linh, Tân Tạo, Duy Lợi, ACB,
Sacombank, Kinh Đô…
2. Các công cụ quản l ý
Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề TNXH của doanh nghiệp
mới được đặt ra ở nước ta mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng
đã nói nhiều về TNXH của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao
của doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không thể thiếu
được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ TNXH sẽ không thể tiếp cận được
với thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện TNXH đã thấy
được những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh. Kết quả khảo sát
gần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh
nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các
chương trình TNXH của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này
đã tăng 25%, năng suất lao dộng cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu
đồng/1 lao động/ năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%. Bên cạnh
hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp còn củng cố được uy tín với khách hàng,
tạo được sự gắn bó và hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, thu
hút được lực lượng lao động có chuyên môn cao. Do nhận thức được tầm
quan trọng và ích lợi của việc thực hiện TNXH trong điều kiện toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam, ngoài trách
nhiệm đóng thuế cho Nhà nước, đã đăng ký thực hiện TNXH dưới dạng các
cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với cộng đồng địa
phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động.
4. Những tồn tại còn nổi cộm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, vấn đề TNXH tại Việt Nam
còn khá nhiều bất cập. Nhận thức của người dân về TNXH còn kém; quản lý
nhà nước lỏng lẻo; văn bản pháp luật không sát thực tế (như số tiền phạt quá
11
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
thấp) đã dẫn đến tình trạng doanh nghiệp dễ dàng lách luật, chối bỏ trách
nhiệm đạo đức kinh doanh, không thực hiện một cách nghiêm túc TNXH
của mình. Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo
tài chính; không bảo đảm an toàn lao động, sản xuất; kinh doanh hàng kém
chất lượng; cố ý gây ô nhiễm môi trường. Điển hình là các vụ xả nước thải
không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông
d) Việt Nam hầu như chưa có các thiết chế đại diện, trung gian.
Đó là các tổ chức phi chính phủ NGOs, hiệp hội, nhóm lợi ích đóng
12
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
vai trò rất lớn ở các nước phát triển. Cấu trúc trung gian tạo ra chi phí
đại diện, nhưng xét tổng thể nó giúp giảm thiểu chi phí để những
người dân, cộng đồng đơn lẻ đạt các mục đích xã hội của mình. Vai
trò của các hiệp hội ở nước ta rất thấp. Những người đứng đầu thường
là các quan chức về hưu muốn kéo dài thời gian làm việc. Hầu như
không có sự hiện diện của hiệp hội người tiêu dùng trong các vụ việc
ô nhiễm thực phẩm, môi trường vừa qua.
e) Dư luận có chiều hướng đánh đồng hoạt động từ thiện với
TNXH của doanh nghiệp. Như đã đề cập ở trên, từ thiện chỉ là một
phần nhỏ trong TNXH. Một doanh nghiệp đóng góp 1 tỷ đồng từ
thiện, nhưng có thể gây ô nhiễm với chi phí nhiều tỷ đồng hơn thế.
Cách thức tổ chức các buổi từ thiện thường mang tính PR mà không
đi vào thực chất.
☻ Nguyên nhân và giải pháp
Theo nghiên cứu năm 2002 của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, những
rào cản và thách thức lớn nhất cho việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp
bao gồm:
1. Nhận thức về TNXH trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn
có sự khác nhau khá lớn.
2. Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều
bộ quy tắc ứng xử (CoCs).
3. Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực
TNXH doanh nghiệp (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
4. Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc ứng xử của khách
đặt hàng gây nhầm lẫn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như vấn đề làm thêm
hay hoạt động của công đoàn.
từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã bán sản phẩm.
Các CSR và CoC được hiểu đúng và thực hiện đúng phải đảm bảo
quyền lợi cho cả ba bên : thứ nhất uy tín và tính cạnh tranh của doanh
nghiệp được tăng lên, thứ hai quyền lợi và nhân phẩm của người lao động
được đảm bảo tốt hơn, thứ ba là việc thực hiện pháp luật quốc gia được tốt
hơn, tính cạnh tranh của nền kinh tế cao hơn, môi trường đầu tư tốt hơn.
• Cần có các nghiên cứu cơ bản, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp đã
thực hiện và sẽ thực hiện các Bộ quy tắc ứng xử, nhất là doanh nghiệp tại
các ngành đang tham gia vào xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (giày da, dệt
may, thủy sản đông lạnh) để phát hiện những thuận lợi cũng như rào cản,
khó khăn, thách thức từ đó khuyến nghị các giải pháp xúc tiến thực hiện
trong thời gian tới.
14
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
• Nghiên cứu các cơ chế, chính sách hỗ trợ của nhà nước để các doanh
nghiệp vào cuộc được thuận lợi. Đặc biệt trong quá trình thực hiện TNXH
và CoCs, các doanh nghiệp cần phải có chi phí, thậm chí chi phí đầu tư khá
lớn nhất là chi phí đầu tư để cải thiện các điều kiện vệ sinh và môi trường.
Trong điều kiện cạnh tranh nhiều khi doanh nghiệp không chịu nổi, bởi vậy
có thể nhà nước hỗ trợ cho vay từ các quỹ hỗ trợ phát triển, xúc tiến thương
mại với các chính sách ưu tiên, ưu đãi nào đó.
• Hình thành nên kênh thông tin về TNXH đối với doanh nghiệp, nhất là
cung cấp những thông tin cập nhật về CoCs, tư vấn cho doanh nghiệp trong
quá trình thực hiện TNXH và CoCs Ở đây vai trò của các hiệp hội nghề
nghiệp (Hội dệt may, Hội giày da, Hội xuất khẩu hải sản ), Hội Công
thương, Văn phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và một số bộ,
ngành khác là rất lớn.
• Đây là vấn đề rất lâu dài, tuy đối tượng doanh nghiệp thực hiện TNXH
thường là các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu sang các thị trường lớn (EU,
Mỹ, Nhật ) song trong tương lai các doanh nghiệp cung cấp các hàng hóa
những quy định mà các doanh nghiệp nước ngoài, các chuyên gia quốc tế
đánh giá cao và hầu hết các quy định đó phù hợp với các Công ước quốc tế,
phù hợp với tiêu chuẩn TNXH, cơ bản đáp ứng yêu cầu quốc tế trong và
ngoài nước. Thực hiện tốt các quy định của Luật pháp Việt Nam chính là
điều kiện quan trọng để các doanh nghiệp khẳng định uy tín, thương hiệu
của mình, tạo dựng sự thiện cảm, hình ảnh tốt trong mắt người tiêu dùng và
các đối tác.
• Cần tổ chức nhiều cuộc đối thoại, hội thảo nhằm thống nhất nhận thức
về TNXH giữa các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức
trong nước và quốc tế liên quan để xây dựng những chính sách hợp lý cấp
quốc gia, khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân quan tâm, triển khai các mô hình quản lý sát
với TNXH doanh nghiệp.
• Phát triển tư tưởng về TNXH trong cộng đồng doanh nghiệp, xã hội tại
Việt Nam cần gắn với những nhu cầu, bức xúc, quan tâm của doanh nghiệp,
xã hội. Các nhà quản lý cần được đào tạo nghiêm túc để có thể hiểu đúng về
TNXH doanh nghiệp và chọn một mô hình phát triển bền vững.
• Các chương trình, dự án giúp doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu
kỹ tình hình thực tế của cộng đồng, doanh nghiệp và có những phương pháp
tiếp cận phù hợp.
16
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
• Đối với doanh nghiệp, khi thực hiện TNXH cần nghiên cứu và tạo cho
mình một lối đi thích hợp nhất. Trong quá trình thực hiện nhiều khi chúng ta
chưa triển khai thấu đáo, bài bản, có kế hoạch, lộ trình rõ ràng, thích hợp nên
đôi khi bị lãng quên hoặc rời rạc. Do vậy, doanh nghiệp nên hoạch định cụ
thể, hãy văn bản hóa các quy định về TNXH để cán bộ quản lý cũng như
công nhân viên chức tham gia đóng góp, thường xuyên điều chỉnh và kiểm
soát. Tham khảo những văn bản cũng như tiêu chuẩn quốc tế hiện hành để
lựa chọn cho mình một hướng đi thích hợp. Trước khi lấy một loại chứng
• Nâng cao vai trò của nhà trường trong việc hình thành ý thức TNXH
của học sinh, sinh viên. Cần tạo ra những buổi hội thào, diễn đàn bàn bạc và
tìm ra giải pháp cho những vấn đề thực tế của xã hội như ô nhiễm môi
trường, kẹt xe, nạn phá rừng và lũ lụt, nạn tham nhũng và kém hiệu quả
trong hoạch định chính sách của nhà nước cho sinh viên và cả những người
lớn có nhu cầu tìm hiểu ở giảng đường đại học. Trong những buổi học cần
tạo ra nhiều sự tương tác giữa giảng viên với sinh viên và giữa sinh viên với
nhau cùng nhau thảo luận đạo đức kinh doanh đặc biệt đối với những sinh
viên học trong khối ngành kinh tế. Đó là những điều kiện để hình thành thái
độ và nhân cách của những sinh viên trẻ, nhà lãnh đạo tương lai của đất
nước.
• Báo chí cần quan tâm và thông tin đầy đủ trách nhiệm của doanh
nghiệp với môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và vấn đề đạo đức của
doanh nghiệp trong kinh doanh, tính định hướng dư luận với cái nhìn tích
cực để động viên các doanh nghiệp có những chiến lược trong kinh doanh và
thực hiện tốt TNXH để các doanh nghiệp khác và xã hội đều phát triển theo
hướng tích cực và bền vững hơn.
• Nhà nước phải chú trọng đến việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp
nhỏ và vừa (DNNVV) ở nông thôn. Tuy là doanh nghiệp nhỏ, vốn hoạt động
từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, số lượng lao động trong mỗi doanh nghiệp
còn hạn chế, nhưng các DNNVV đã tạo ra 26% tổng giá trị GDP của cả
nước và khoảng ba triệu việc làm. Các vấn đề bảo hiểm xã hội, an toàn lao
động, tính cố định của công việc đối với người lao động ở các doanh nghiệp
này còn rất yếu kém. Lý do chính là doanh nghiệp không có cơ chế quản lý
khoa học, vốn ít, người lao động không có tố chức đoàn thể để bảo vệ. Cơ
quan chức năng ở địa phương cần có chính sách ưu đãi dành cho doanh
nghiệp này và thường xuyên mở lớp đào tạo cán bộ quản lý, tạo và phát triển
tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên , Hội phụ nữ qua đó góp phần bảo
vệ quyền lợi người lao động.
18
của xã hội, còn về phía Vedan, họ mất gì? Cái họ mất là danh tiếng thương
hiệu, uy tín của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng. Sau sự việc trên,
Vedan bị người tiêu dùng tẩy chay, hàng hóa bị dọn khỏi các kệ hàng của hệ
thống siêu thị trong cả nước. đến nay, hàng hóa của Vedan đã xuất hiện lại
trong hệ thống siêu thị. tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn còn e ngại và ác cảm
với thương hiệu này. Như vậy, cái mà Vedan mất lớn nhất chính là thương
hiệu "Vedan".
19
Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
Trên thực tế, cũng có một số doanh
nghiệp đã tạo dựng được uy tín và danh
tiếng cua mình thông qua việc thực hiện
TNXH. Tuy nhiên, đó chỉ là thiểu số và chỉ
tập trung ở một số doanh nghiệp lớn đã
thành công trên thương trường và thường
chỉ gói gọn trong hình thức từ thiện. Đơn
cử như chương trình "1000000 ly sữa cho
trẻ em nghèo" của công ty Vinamilk trong
thời gian gần đây. Đây cũng là một hình
thức tốt không những để đánh bóng tên
tuổi của doanh nghiệp mình mà còn tạo
được lợi ích cho xã hội, đặc biệt là các trẻ
em nghèo. Tuy nhiên chương trình này chỉ
mang tính nhất thởi và không có hiệu quả rõ
rệt trong thực tế đối với những đối tượng trẻ em mà nó nhắm đến.
Ngoài Vinamilk, công ty Freshland Campina cũng đã xây dựng quỹ
khuyến học mang tên "Đèn đom đóm" từ năm 2002. Chương trình đã trao
tặng gần 20.000 học bổng và xây dựng được sáu trường học trên những địa
bàn khó khăn ở các tỉnh Bình Phước, Quảng Ngãi, Huế, Hà Nam, Cà Mau,
Kon Tum, Quảng Bình, Lai Châu. Những chương trình như vậy cần được