Luận văn: Sử dụng mô hình hồi quy để ước lượng rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Quốc tế- VIBank - Pdf 11


1
Luận văn
Sử dụng mô hình hồi quy để
ước lượng rủi ro thanh
khoản tại Ngân hàng Quốc
tế- VIBank

2
A. LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân
hàng. Là một trong những mắt xích quan trọng của bất kỳ nền kinh tế nào,
trung gian tài chính, một nhân vật không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân.
Chính vì vậy hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt, lành mạnh
và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính khác tăng trưởng một cách
bền vững. Sự sống còn của các ngân hàng thương mại có liên quan mật thiết
tới toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia.
Với tư cách là một doanh nghiệp, một doanh nghiệp đặc biệt nên Ngân
hàng không thể tránh khỏi rủi ro kinh doanh. Mà một trong những rủi ro quan
trọng nhất trong kinh doanh ngân hàng là rủi ro thanh khoản. Hay nói một
cách khác là mất khả năng thanh toán.Vì vậy tìm hiểu các nguyên nhân dẫn
đến việc mất khả năng thanh khoản? Và làm thế nào để lượng hoá được nó, là
vấn đề sống còn của một ngân hàng.
Xuất phát từ mục tiêu trên, nên khi được tạo điều kiện thực tập tại Ngân

NỘI DUNG
CHƯƠNG1 : TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
VIỆT NAM - VIBANK

1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Quốc tế
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam( tên gọi tắt là Ngân hàng quốc tế-
VIB Bank) được thành lập theo quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/10/1996
của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4
Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm: Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,
các cá nhân và doanh nhân thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế.
Ngân hàng Quốc Tế đang tiếp tục củng cố vị trí của mình trên thị trường
tài chính tiền tệ Việt Nam. Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/9/1996 với số
vốn điều lệ ban đầu là50 tỷ đồng Việt Nam Ngân hàng Quốc Tế đang phát
triển thành một trong những tổ chức tài chính dẫn đầu thị trường Việt Nam.
Là một Ngân hàng đa năng, Ngân hàng Quốc Tế- với nền tảng công nghệ
hiện đại tiếp tục cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính đa năng, trọn gói cho
khách hàng với nòng cốt là những doanh ngiệp vừa và nhỏ hoạt động lành
mạnh và những cá nhân và những gia đình có thu nhập ổn định tại các vùng
kinh tế trọng điểm trong cả nước.
Sau 9 năm hoạt động, đến 31/12/005 vốn điều lệ của ngân hàng là 510 tỷ
đồng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 113%. Tổng tài sản Có đạt
trên 8.967 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với cuối năm 2004 và đạt tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng năm đạt là 177%. Lợi nhuận thuế đạt trên 95 tỷ
đồng - đạt trên 230% so với 2004. Tỷ lệ lợi nhuân trên vốn tự có bình quân
đạt trên 20% và mức độ cổ tức chia cho các cổ đông tăng đều hàng năm. Tỷ lệ
về khả năng chi trả luôn lớn hơn 1, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu luôn lớn hơn
8% .

Ngân hàng trong nước và nước ngoài đẩy nhanh tiến trình cải cách, tăng năng
lực tài chính, đầu tư công nghệ, đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế, phát triển
nguồn nhân lực có chất lượng, phát triển các dịch vụ Ngân hàng hiện đại, mở

6
rộng mạng lưới kinh doanh, đẩy mạnh công tác tiếp thị khuyến mại và áp
dụng nhiều tiện ích ưu đãi khác cho khách hàng .
Ngân hàng quốc tế hoạt động trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
2.1. Dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp
Ngân hàng quốc tế cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp và những khách
hàng kinh doanh khác, bao gồm: dịch vụ tín dụng, các dịch vụ hỗ trợ doanh
nghiêp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ thanh toán,
dịch vụ mua bán ngoại tệ. Các khoản vay được cung cấp cho nhiều mục đích
khác nhau: bổ sung vốn lưu động, mua sắm trang bị tài sản cố định đầu tư mở
rộng sản xuất.
2.2. Dịch vụ ngân hàng cá nhân
Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch vụ cho các cá nhân bao gồm : dịch vụ
tiết kiệm, dịch vụ tín dụng tiêu dùng, dịch vụ thanh toán, dich vụ xác nhận
năng lực tài chính, dịch vụ thẻ, dịch vụ mua bán ngoại tệ. Các khoản cho vay
tiêu dùng nhắm đến các mục đích sử dụng vốn cụ thể như: mua sắm, sửa
chữa nhà đất, mua sắm xe hơi, vật dụng gia đình, đi du học, đầu tư cổ
phiếu,…
2.3. Dịch vụ ngân hàng định chế
Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch vụ cho các ngân hàng tổ chức tài
chính và tổ chức phi tài chính bao gồm: dịch vụ tiền gửi dịch vụ quản lí tài
sản dịch vụ cho vay, dịch vụ đồng tài trợ dich vụ mua bán ngoại tệ…
3. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng
3.1. Hoạt động huy động vốn
Trong 2006 hoạt động nguồn vốn của ngân hàng Quốc Tế đạt mức tăng
trưởng kỷ lục. Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2006 đạt 8.967 tỷ đồng tăng


8
quả đáng ghi nhận trong điều kiện Ngân hàng Quốc Tế phải đối mặt với sự
canh tranh ngày càng tăng từ các Ngân hàng khác. Số dư vốn huy động từ các
cá nhân tại thời điểm 31/12/2006 đạt 3302,446 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng
133%. Kết quả trên có được là nhờ ngân hàng quốc tế đã thực hện chính sách
lãi xuất linh hoạt, mở rộng mạng lưới hoạt động đến khách hàng hơn và tung
ra nhiều sản phẩm huy động có sức hút ra thị trường. Cơ cấu vốn huy động từ
các cá nhân cũng có sự thay đổi mang tính tích cực trong đó tỉ trọng tiền gửi
có lãi suất thấp tăng mạnh. Số tiền gửi không kỳ hạn tăng tới 186,3% so với
2005.
Trong năm 2006, do định hướng phát triển khách hàng đã được quán
triệt tới từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc Tế, tình hình hoạt động
khởi sắc của khối nguồn vốn và nỗ lực của cả hệ thống trong việc mở rộng
đối tượng khách hàng tiền gửi, tổng huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế
tăng 234% so với đầu năm và đạt 1.966 tỷ đồng.
3.2. Hoạt động tín dụng
Điểm đáng chú ý là trên cơ sở mạng lưới hoạt động được mở rộng cơ sở
khách hàng tăng trưởng mạnh và tốc độ huy động vốn rất tốt nên hoạt động
tín dụng tiếp tục tăng trưởngtrong năm 2006.
Dư nợ tín dụng đến thời điểm 31/12/2006 đat 5.255 tỷ đồng, tăng 235%
so với đầu năm và vượt 24,3% so với kế hoạch năm. Trong đó, tín dụng ngắn
hạn đạt 3.570,7 tỷ đồng, chiếm 67,9% tổng dư nợ và tín dụng trung và dài hạn
đạt 1.707,9 tỷ đồng, chiếm 32,1% tổng dư nợ.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau
của nền kinh tế là đối tượng khách hàng chủ yếu của Ngân hàng Quốc Tế.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận rất quan trọng trong chuỗi sản
xuất xã hôị nhưng hiện nay các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn trong
việc tăng cường khả năng cạnh tranh, hiện đại hoá công nghệ và tiếp cận các


gấp 4 lần so với năm 2005.
Năm 2006, hoạt động thanh toán quốc tế được tăng cường theo cả chiêù
rộng lẫn chiều sâu qua việc bổ sung nhân sự cho Phòng tài trợ Thương mại
Hội sở, cho các chi nhánh và mở các chi nhánh có khả năng thu hút khách
hàng xuất khẩu. Trong năm 2006, Ngân hàng đã mở 1.647 L/C nhập khẩu,
đạt tổng giá trị 162 triệu USD, tăng 209% về mặt số lượng và 219% về mặt
giá trị so với năm 2005. Số lượng L/C xuất khấu đượcthông báo cũng tăng
278%so với năm 2005. Chất lượng L/C nhập khẩu được đảm bảo tốt, các
khoản thanh toán đều được thực hiên đúng hạn cho các ngân hàng nước
ngoài. Doanh số nhờ thu nhập khẩu và xuất khẩu cũng tăng trưởng lần lượt là
159% và 89% về mặt số lương, 172% và 152% về mặt giá trị so với năm
2005. Doanh thu dịch vụ thanh toán quốc tế toàn hệ thông tăng tới 218,5% so
với năm 2005. Các đơn vị đóng góp nhiều nhất vào kết quả chung của hoạt
động tài trợ thương mại trong năm qua là Hôị sở, chi nhánh VIB Hồ Chí
Minh, chi nhánh VIB HảI Phòng, chi nhánh VIB Hà Nội và chi nhánh VIB Ba
Đình. Các chi nhánh mới thành lập cũng đã có những bước phát triển nhất
định.
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối đã phát triển. Trong năm 2006, Ngân hàng
Quốc Tế hợp tác với nhiều công ty chuyển tiền quốc tế như Travelex, RIA,
Anelik, Xoom để cung cấp dịch vụ chuyển tiền Quốc tế phục vụ khách hàng
là Việt Kiều và những người đi hợp tác lao động nước ngoài.
Dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ bắt đàu được đẩy mạnh qua việc
Ngân hàng Quốc Tế hợp tác với Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam phát
hành thẻ tín dụng Quốc Tế Master Card cội nguồn và chấp nhận thanh toán
các loại thẻ Master card, Visa, Diner Club… hoạt động phát hành thẻ ghi nợ
nội địa Values cũng được đẩy mạnh qua việc phát triển một đội ngũ đại lý

11
đông đảo, xây dựng một mạng lưới chấp nhận thẻ rộng khắp và một hệ thống
ngành hàng ưu đãi cho chủ thẻ phong phú.

ương và địa phương đã tham gia viết bài và đưa tin về Ngân hàng và các sản
phẩm cua Ngân hàng như: báo Lao Động, Hà Nội mới, thời báo Kinh tế Việt
Nam, Sài Gòn giải phóng, Thanh Niên, Vietnam Net, VnExpress … các
chuyên trang, chuyên mục được các báo cáo Đầu tư, Thời báo Ngân hàng xây
dựng nhằm cung cấp các thông tin về tiện ích sản phẩm tài chính ngân hàng
cho bạn đọc cũng liên tục viết bài về sản phẩm của Ngân hàng Quốc Tế.
Với mong muốn được hoà nhập vào cộng đồng xã hôị, trong năm 2006
Ngân hàng Quốc Tế đã tham gia nhiều chương trình văn hoá, vui chơi giải trí
bổ ích và thu hút nhiều người quan tâm như : “ Hãy chọn giá đúng”, “ở nhà
chủ nhật”, “Điểm hẹn âm nhạc” phát sóng trên kênh VTV3 Đài truyền hình
Việt Nam.
Ngoài ra, với trách nhiệm cùng xã hôị, Ngân hàng Quốc Tế tổ chức các
chương trìng có ý nghĩa xã hội sâu sắc như: “ Triệu tấm lòng đồng cảm” ủng
hộ trẻ em chất độc màu da cam và nhiều chương trình ủng hộ khác.

3.6. Phát triển mạng lưới chi nhánh
Do yêu cầu phát triển dịch vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục
vụ khách hàng, công tác phát triển mạng lưới chi nhánh được coi là một trọng
điểm trong kế hoạch phát triển của Ngân hàng Quốc Tế.
Năm 2006, mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Quốc tế được mở rộng
cả về quy mô và vùng địa lý. Đến ngày 31/12/2006 Ngân hàng đã thể hiện tại
9 tỉnh, thàng phố trên khắp cả nước- đây đều là những trung tâm kinh tế năng
động và có nhiều tiềm năng dịch vụ cho tài chính, ngân hàng như: Hà Nội,

13
thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Nha Trang, Đà
Nẵng, Bình Dương và Cần Thơ với tổng số 31 chi nhánh. Với mạng lưới chi
nhánh từng bước được mở rộng, cùng với việc không ngừng nâng cao chất
lượng phục vụ, Ngân hàng quốc Tế đã dần nâng cao hình ảnh thương hiệu và
tích luỹ được lòng tin của công chúng.

công nghệ thẻ VIBank sẽ tạo ra hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thanh toán
chất lượng cao mang lại nhiều lợi ích và giá trị gia tăng cho khách hàng.
3.8. Hoàn thành đề án tái cơ cấu Ngân hàng Quốc tế
Năm 2004 là năm Ngân hàng chú trọng đến việc củng cố tổ chức bộ
máy, triển khai một số chương trình nhằm xây dựng nền tảng và nâng cao
năng lực trong công tác tổ chức và quản lý.
Cuối năm 2004, Ngân hàng Quốc tế hoàn thành Đề án tái cơ cấu theo
định hướng ngân hàng đa năng, tạo sự thuận lợi cho giao dịch khách hàng,tập
trung cho phát triển lĩnh vực sinh lời, hình thành những cơ cấu có chức năng
quản lý rủi ro và hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.
3.9. Phát triển nguồn nhân lực
Nguồn lực quan trọng nhất của ngân hàng là nguồn lục con người và lợi
thế cạnh tranh của ngân hàng cũng là nguồn lực con người, do đó Ngân hàng
luôn cố gắng xây dựng một môi trường làm việc cho phép khuyến khích mọi
cán bộ nhân viên phát huy hết khả năng của mình. Ngân hàng Quồc Tế xây
dưng một chương trình phát triển kỹ năng toàn diện cho cán bộ nhân viên
nhằm tăng khả năng thích nghi trước những biến đổi của môi trường kinh
doanh.
Chính sách tiền lương của Ngân hàng trong năm 2006 có nhiều cải thiện
đáng kể theo chiều hướng kết hợp hài hoà giữa lợi ích của ngân hàng và
người lao động. Chính sách thu nhập của ngân hàng đã khuyến khích đội ngũ

15
nhân viên yên tâm làm việc, đồng thời vẫn đảm bảo tính cạnh tranh và thu hút
nhân tài phục vụ cho ngân hàng.
Công tác khen thưởng cũng được Ngân hàng quan tâm đặc biệt, công tác
khen thưởng cả bằng vật chất lẫn tinh thần đã khuyến khích được tinh thần
làm việc và ý chí phấn đấu của cán bộ nhân viên được khen thưởng và các cán
bộ nhân viên khác.
Công tác đào tạo của ngân hàng Quốc tế bám sát yêu cầu hoàn thiện văn

1. Giới thiệu chung
Để có một nền kinh tế lành mạnh, tốc độ tăng trưởng cao, bền vững đòi
hỏi các trung gian tài chính phải luân chuyển được vốn từ những người tiết
kiệm đến những nhà đầu tư sản xuất. Ngân hàng là một trong những trung
gian tài chính thực hiện chức năng ấy. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng
mang tính đặc thù và có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế và ảnh
hưởng của nó mang tính dây truyền, lây lan và sâu rộng.
Để hiểu được chức năng đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế, ta thử
hình dung một thế giới không có hoạt động ngân hàng. Trong một thế giới
như vậy, những khoản tiền tiết kiệm của dân cư chỉ có thể được sử dụng hoặc
dưới dạng tiền mặt hoặc tiếp đầu tư vào các chứng khoán công ty. Trong thế
giới không có ngân hàng qui mô luân chuyển các dòng tiền này giữa người
tiết kiệm và các nhà đầu tư là rất thấp. Lí do đó là:
* Chi phí để giám sát trực tiếp hoạt động của công ty là rất tốn kém. Khi
mua chứng khoán công ty, người mua chứng khoán phải được đảm bảo rằng
tình hình kinh doanh của công ty là có hiệu quả, tình hình tài chính của công
ty là lành mạnh,…Để giám sát được hoạt động của công ty, những người đầu
tư chứng khoán phải mất rất nhiều chi phí về thời gian cung như tiền bạc vào

17
việc thu thập thông tin, phân tích và xử lí thông tin. Nếu như có một tổ chức
chuyên nghiệp đứng ra hay họ làm công việc giám sát hoạt động của công ty
thì sẽ tiết kiệm được chi phí và hiệu quả hơn nhiều. Việc giám sát công ty khó
khăn và tốn kém như vậy khiến việc nắm vững chứng khoán kém hấp dẫn.
* Với đặc tính dài hạn của cổ phiếu và trái phiếu đã làm nản lòng của
những nhà đầu tư. Bởi tâm lí ngại mạo hiểm, những người có tiền tiết kiệm ưu
tiên nắm giữ tiền mặt để tiêu dùng hơn là đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu.
* Đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro do giá
cả của chúng luôn biến động. Điều này ảnh hưởng đến nhà đầu tư và cả nhà
phát hành.

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển, cạnh tranh hoàn hảo thực hiện tốt chức năng kinh tế xã hội như: Sử
dụng tối ưu các nguồn lực, khuyến khích tiến bộ công nghệ, thoả mãn tối ưu
nhu cầu người tiêu dùng, phân phối thu nhập theo hướng nâng cao hiệu quả,
kiểm soát tiềm lực kinh tế và chính trị, đảm bảo quyền tự do hoạt động cá
nhân. Song kết quả cuối cùng của cạnh tranh là có người thắng và cũng có kẻ
bại.
Như vậy, rủi ro đã đến với những người không thành công trong việc
kinh doanh trong môi trường kinh tế cạnh tranh mà thất bại nhiều hơn thành
công. Chính đặc trưng này của cạnh tranh đã tạo ra sự biến động đầy bất trắc
trong lĩnh vực kinh doanh. Sự đa dạng hóa trong kinh doanh có tác động lớn
đến hoạt động của doanh nghiệp và rủi ro cũng gắn liền với kinh doanh.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì rủi ro đến từ nhiều
phía, có thể do chủ quan hoặc khách quan của các nhà kinh doanh. Song có
thể nói rằng: Trong từng thời kỳ xã hội khác nhau thì rủi ro có những loại
khác nhau và mức độ thiệt hại do ruỉ ro gây nên cũng khác nhau.
2.1.2. Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng.

19
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp
đôi mà hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cũng không nằm
ngoài hai cặp phạm trù này, mà còn rất nhạy cảm. Hầu hết các nghiệp vụ của
Ngân hàng thương mại đều dẫn tới rủi ro. Do vậy hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại là sự kiện xẩy ra
ngoài ý muốn và ảnh hưởng đến hoạt động, gây tổn thất cho Ngân hàng
thương mại.
2.1.3. Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
* Thứ nhất: về chi phí: Rủi ro gây tăng vượt của giới hạn các khoản chi
phí dịch vụ Ngân hàng.

Qua kết quả thống kê và nghiên cứu tổng hợp cho thấy các nguyên
nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của Ngân hàng bao gồm:
3.1. Nguyên nhân bất khả kháng
Các thiệt hại đôi khi nảy sinh từ nguyên nhân thiên tai như: bão lụt, hạn
hán, hoả hoạn và động đất.
Những thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng hoặc kỹ thuật một
ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả cơ đồ của một hãng kinh doanh và
đặt người đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ.
Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh hoặc mất một
người quản lý giỏi có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng chi trả tiền
vay của người đi vay.

3.2. Thông tin không cân xứng.
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ Nợ và Có
chuyển vốn từ người gửi tiền sang người đi vay tiền - Toàn bộ giao dịch này
sẽ suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thông tin và hiểu biết đầy đủ về
nhau. Song một thực tế còn tồn tại là: một bên thường không biết tất cả những
gì cần biết về phía bên kia và sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có
được như vậy được gọi là “ thông tin không cân xứng". Việc thiếu thông tin

21
trong các giao dịch này sẽ đưa đến “ sự lựa chọn đối nghịch" và “ rủi ro đạo
đức".
Chọn lựa đối nghịch xảy ra trước khi diễn ra giao dịch. Bản chất vấn đề
là thay vì lựa chọn những người trả được nợ để cho vay, nhà Ngân hàng - mặc
dù không mong muốn - song vì thông tin không cân xứng - đã chọn người
tích cực vay nhất để cho vay, nhưng lại là người có khả năng tạo ra kết cục
không trả được nợ, gây rủi ro cho Ngân hàng.
Thông tin không cân xứng có thể dẫn đến rủi ro về đạo đức sau khi giao
dịch. Đó là hiện tượng người vay do thiếu đạo đức, thực hiện những hoạt

đến mức nào của kinh tế thị trường.
Ngoài ra, cần xét đến mối quan hệ với khách hàng, khi ngân hàng đóng
vai chủ nợ - dùng nguồn vốn huy động được đem cho các doanh nghiệp và cá
nhân cần vốn vay - Thực tế cho thấy trong điều kiện kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp là khách hàng vay vốn và giao dịch với ngân hàng cũng thường
gặp phải những rủi ro nhất định mà hậu quả là sự phá sản của doanh nghiệp
không còn là hiện tượng riêng có của một nền kinh tế ổn định hay không ổn
định, hoặc của một nước phát triển hay đang phát triển.
Tất nhiên ở đây còn có yếu tố liên quan tới năng lực tài chính, năng lực
điều hành, năng lực xử lý thông tin và nghiệp vụ trong quá trình sản xuất và
kinh doanh của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế.
Nền kinh tế là một "cơ thể sống". Sự rủi ro vỡ nợ của một hay một số
khách hàng trong một ngành nào đó có thể ảnh hưởng lớn đến các ngành có
liên quan.
Mặt khác, trong mối quan hệ với khách hàng - khi ngân hàng đóng vai
trò đi vay (nhận tiền gửi) - ngân hàng cũng cần phải tôn trọng quy

4. Những rủi do chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng
Kinh doanh ngân hàng là loại kinh doanh mang tính đặc thù, do đó rủi ro
đối với hoạt động ngân hàng cũng mang tính chất đặc thù. Những rủi ro mà
Ngân hàng thường gặp phải như:
- Rủi ro lãi suất
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro thanh khoản
- Rủi ro hối đoái

23
- Rủi ro công nghệ
- Rủi ro môi trường
- Rủi ro khác

bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính.
Rủi ro tín dụng là rủi ro cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại, do
những nguyên nhân sau:
- Người vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nên không có
khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng.
- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho những khách
hàng kinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thu nợ gặp khó khăn.
- Cán bộ Ngân hàng có trình độ thấp hoặc vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, dẫn đến các khoản nợ xấu, cho vay vốn khống, cho vay không
đúng mục đích, …
- Giá trị tài sản đảm bảo không đáp ứng được yêu cầu thu nợ của
Ngân hàng.
- Các nguyên nhân khác: người vay cố ý không trả nợ, hoặc các lí do bất
khả kháng như người vay qua đời hoặc mất tích, …

4.3. Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất đối với Ngân hàng, có liên
quan đến sự sống còn của một Ngân hàng. Một Ngân hàng hoạt động bình
thường phải đảm bảo đựơc khả năng thanh toán hiện tại, trong tương lai và
đột xuất. Nếu không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán đó Ngân hàng có
thể bị mất khả năng thanh toán và có nguy cơ bị phá sản.

25
Rủi ro thanh toán là loại rủi ro riêng của Ngân hàng, do Ngân hàng
không duy trì được thường xuyên một tài sản có “tính lỏng” cao dẫn đến mất
khả năng chi trả thường xuyên cho khách hàng.
Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau:
+ Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn dư thừa
quá lớn, trong khi đó thị trường đầu ra hạn hẹp. Nên một số Ngân hàng đã
dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn quá mức, dẫn đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status