A. Lời mở đầu
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân
hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thơng mại thờng chiếm tỷ
trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lợng các ngân hàng. Là một
trong những mắt xích quan trọng của bất kỳ nền kinh tế nào, trung gian tài
chính, một nhân vật không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy
hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là
tiền đề để các nguồn lực tài chính khác tăng trởng một cách bền vững. Sự sống
còn của các ngân hàng thơng mại có liên quan mật thiết tới toàn bộ đời sống
kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia.
Với t cách là một doanh nghiệp, một doanh nghiệp đặc biệt nên Ngân hàng
không thể tránh khỏi rủi ro kinh doanh. Mà một trong những rủi ro quan trọng
nhất trong kinh doanh ngân hàng là rủi ro thanh khoản. Hay nói một cách khác
là mất khả năng thanh toán.Vì vậy tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến việc mất
khả năng thanh khoản? Và làm thế nào để lợng hoá đợc nó, là vấn đề sống còn
của một ngân hàng.
Xuất phát từ mục tiêu trên, nên khi đợc tạo điều kiện thực tập tại Ngân
hàng Quốc tế- VIBank em có ý tởng muốn thành lập mô hình ớc lợng rủi ro
thanh khoản của Ngân hàng nhờ sự trợ giúp của các mô hình kinh tế lợng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em đợc trình bày qua 4 chơng:
Chơng 1: Tổng quan về Ngân hàng quốc tế Việt Nam
Chơng 2: Lý thuyết chung về rủi ro đối với hoạt động ngân hàng
Chơng 3: Lý thuyết về rủi ro thanh khoản
Chơng 4: Sử dụng mô hình hồi quy để ớc lợng rủi ro thanh khoản.
1
Néi dung
Ch¬ng1 : Tæng quan vÒ Ng©n hµng Quèc tÕ
ViÖt Nam - VIBank
1. Giíi thiÖu chung vÒ Ng©n hµng Quèc tÕ
2
đánh giá của ngân hàng Nhà nớc Việt Nam do thống đốc Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam ban hành ban hành trong nhiều năm liên tiếp và lần thứ 2 đợc tập
đoàn Citigroup trao tặng danh hiệu Ngân hàng hoạt động thanh toán xuất sắc.
Cuối năm 2005, ngoài Hội sở tại Hà Nội, Ngân hàng Quốc Tế có 30 chi
nhánh, phòng giao dịch tại 9 tỉnh, thành phố Hà Nội, thành phố HCM, HảI
Phòng, Quảng Ninh, Nha Trang, Bình Dơng, Cần Thơ. Trong năm 2006,
Ngân hàng Quốc Tế sẽ tiếp tục vơn tầm hoạt động đến các trung tâm kinh tế
mới và nhiều tiềm năng khác trên cả nớc với tổng số đơn vị kinh doanh dự kiến
lên đến 60. Mạng lới ngân hàng đại lý cũng không ngừng đợc mở rộng với
2.000 ngân hàng đại lý trên 65 quốc gia trên thế giới.
Với phơng châm kinh doanh Luôn gia tăng giá trị cho bạn , cam kết
của Ngân hàng Quốc Tế trong năm 2006 và những năm tiếp theo là không
ngừng gia tăng giá trị của khách hàng, của đối tác, của cán bộ nhân viên ngân
hàng và các cổ đông.
2. Lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng
Năm 2005 nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt tốc độ tăng trởng kinh tế cao,
mang đến cơ hội phát triển kinh doanh cho ngành ngân hàng Việt Nam, Ngân
hàng Nhà nớc Việt Nam tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tạo điều kiện cho các
Ngân hàng Thơng mại phát triển hoạt động kinh doanh.
Cạnh tranh trong ngành Ngân hàng cũng ngày càng gay gắt với việc các
Ngân hàng trong nớc và nớc ngoài đẩy nhanh tiến trình cải cách, tăng năng lực
tài chính, đầu t công nghệ, đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế, phát triển nguồn
nhân lực có chất lợng, phát triển các dịch vụ Ngân hàng hiện đại, mở rộng mạng
4
lới kinh doanh, đẩy mạnh công tác tiếp thị khuyến mại và áp dụng nhiều tiện
ích u đãi khác cho khách hàng .
Ngân hàng quốc tế hoạt động trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
2.1. Dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp
Ngân hàng quốc tế cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp và những khách
hàng kinh doanh khác, bao gồm: dịch vụ tín dụng, các dịch vụ hỗ trợ doanh
an toàn vốn khi mở rộng kinh doanh, mà còn tạo điều kiện để đầu t cơ sở vật
chất và công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Tỷ trọng
vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn giảm từ 7,3% trong năm 2005 xuống còn
6,9% trong 2006- chứng tỏ khả năng mở rộng qui mô các cấu thành khác đặc
biệt là tiền gửi từ và các tổ chức kinh tế .
Vốn huy động của các tổ chức tài chính đạt tại thời điểm 31/12/2006 đạt
2852,872 tỷ, bằng 176,6% so với đầu năm và chiếm 31,7% tổng nguồn vốn.
Trong đó tiền gửi của các tổ chức tài chính đạt 2808 tỷ đồng, chiếm 98% tổng
nguồn vốn huy động của các tổ chức tài chính. Việc tăng vốn điều lệ lên 510 tỷ
đồng cùng với kết quả hoạt động tăng trởng cao và an toàn, uy tín giao dịch trên
thị trờng và các quan hệ hợp tác đợc duy trì tốt đã dẫn đến việc các tổ chức tín
dụng trong nớc và các tổ chức tín dụng quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam
tăng hạn mức tiền gửi tại Ngân hàng Quốc Tế. Tiền vay từ các tổ chức tài chính
khác giảm xuống so với năm 2004 cũng góp phần giảm chi phí vốn của Ngân
hàng.
Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân c đạt 5268,617 tỷ đồng bằng
163% so với đầu năm và chiếm 58% so với nguồn vốn. Đây là một kết quả đáng
ghi nhận trong điều kiện Ngân hàng Quốc Tế phải đối mặt với sự canh tranh
ngày càng tăng từ các Ngân hàng khác. Số d vốn huy động từ các cá nhân tại
thời điểm 31/12/2006 đạt 3302,446 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trởng 133%. Kết
6
quả trên có đợc là nhờ ngân hàng quốc tế đã thực hện chính sách lãi xuất linh
hoạt, mở rộng mạng lới hoạt động đến khách hàng hơn và tung ra nhiều sản
phẩm huy động có sức hút ra thị trờng. Cơ cấu vốn huy động từ các cá nhân
cũng có sự thay đổi mang tính tích cực trong đó tỉ trọng tiền gửi có lãi suất thấp
tăng mạnh. Số tiền gửi không kỳ hạn tăng tới 186,3% so với 2005.
Trong năm 2006, do định hớng phát triển khách hàng đã đợc quán triệt tới
từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc Tế, tình hình hoạt động khởi sắc
của khối nguồn vốn và nỗ lực của cả hệ thống trong việc mở rộng đối tợng
khách hàng tiền gửi, tổng huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 234%
năm.
Hoạt động tín dụng đợc hoạt động theo phơng thức phê duyệt tập trung,
chú trọng chất lợng tín dụng luôn đợc kiểm soát tốt do hoạt động tín đợc tổ
chức chặt chẽ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và các quy định, quy
trình nghiệp vụ của Ngân hàng Quốc Tế
Tỷ lệ nợ quá hạn tính đến tời điểm cuối năm chỉ chiếm 0.87% tổng d nợ,
giảm so với mức 1.11% của năm 2005.
3.3. Hoạt động dịch vụ
Trong năm 2006, song song với việc gia tăng các hoạt động huy động vốn
và tín dụng, hoạt động dịch vụ đã đợc quan tâm đặc biệt và đợc quán triệt từ
Hội sở chính đến từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc Tế cả về chất và
lợng. Tổng dịch vụ tăng 11.98% và tổng thu thuần dịch vụ tăng gấp 4 lần so với
năm 2005.
Năm 2006, hoạt động thanh toán quốc tế đợc tăng cờng theo cả chiêù rộng
lẫn chiều sâu qua việc bổ sung nhân sự cho Phòng tài trợ Thơng mại Hội sở, cho
các chi nhánh và mở các chi nhánh có khả năng thu hút khách hàng xuất khẩu.
Trong năm 2006, Ngân hàng đã mở 1.647 L/C nhập khẩu, đạt tổng giá trị 162
triệu USD, tăng 209% về mặt số lợng và 219% về mặt giá trị so với năm 2005.
8
Số lợng L/C xuất khấu đợcthông báo cũng tăng 278%so với năm 2005. Chất l-
ợng L/C nhập khẩu đợc đảm bảo tốt, các khoản thanh toán đều đợc thực hiên
đúng hạn cho các ngân hàng nớc ngoài. Doanh số nhờ thu nhập khẩu và xuất
khẩu cũng tăng trởng lần lợt là 159% và 89% về mặt số lơng, 172% và 152% về
mặt giá trị so với năm 2005. Doanh thu dịch vụ thanh toán quốc tế toàn hệ
thông tăng tới 218,5% so với năm 2005. Các đơn vị đóng góp nhiều nhất vào
kết quả chung của hoạt động tài trợ thơng mại trong năm qua là Hôị sở, chi
nhánh VIB Hồ Chí Minh, chi nhánh VIB HảI Phòng, chi nhánh VIB Hà Nội và
chi nhánh VIB Ba Đình. Các chi nhánh mới thành lập cũng đã có những bớc
phát triển nhất định.
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối đã phát triển. Trong năm 2006, Ngân hàng
yếu tố quan trọng giúp thơng hiệu Ngân hàng Quốc Tế ngày càng lớn mạnh. Bộ
nhận diện thơng hiệu Ngân hàng Quốc Tế, hoàn chỉnh trong năm 2005, tiếp tục
đợc áp dụng thống nhất trên toàn hệ thống ngân hàng đã tạo ra hình ảnh mới
trong mọi hoạt động giao tiếp của ngân hàng và là một bớc phát triển mang tính
chuyên nghiệp trong quản lý hình ảnh của Ngân hàng.
Cũng trong năm 2006, với hàng loạt sản phẩm,dịch vụ gắn bó thiết thực với
đời sống cộng đồng đợc đa ra phục vụ khách hàng, nhiều báo đài trung ơng và
địa phơng đã tham gia viết bài và đa tin về Ngân hàng và các sản phẩm cua
Ngân hàng nh: báo Lao Động, Hà Nội mới, thời báo Kinh tế Việt Nam, Sài
Gòn giải phóng, Thanh Niên, Vietnam Net, VnExpress các chuyên trang,
chuyên mục đợc các báo cáo Đầu t, Thời báo Ngân hàng xây dựng nhằm cung
cấp các thông tin về tiện ích sản phẩm tài chính ngân hàng cho bạn đọc cũng
liên tục viết bài về sản phẩm của Ngân hàng Quốc Tế.
Với mong muốn đợc hoà nhập vào cộng đồng xã hôị, trong năm 2006
Ngân hàng Quốc Tế đã tham gia nhiều chơng trình văn hoá, vui chơi giải trí bổ
10
ích và thu hút nhiều ngời quan tâm nh : Hãy chọn giá đúng, ở nhà chủ
nhật, Điểm hẹn âm nhạc phát sóng trên kênh VTV3 Đài truyền hình Việt
Nam.
Ngoài ra, với trách nhiệm cùng xã hôị, Ngân hàng Quốc Tế tổ chức các ch-
ơng trìng có ý nghĩa xã hội sâu sắc nh: Triệu tấm lòng đồng cảm ủng hộ trẻ
em chất độc màu da cam và nhiều chơng trình ủng hộ khác.
3.6. Phát triển mạng lới chi nhánh
Do yêu cầu phát triển dịch vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục vụ
khách hàng, công tác phát triển mạng lới chi nhánh đợc coi là một trọng điểm
trong kế hoạch phát triển của Ngân hàng Quốc Tế.
Năm 2006, mạng lới hoạt động của Ngân hàng Quốc tế đợc mở rộng cả
về quy mô và vùng địa lý. Đến ngày 31/12/2006 Ngân hàng đã thể hiện tại 9
tỉnh, thàng phố trên khắp cả nớc- đây đều là những trung tâm kinh tế năng động
và có nhiều tiềm năng dịch vụ cho tài chính, ngân hàng nh: Hà Nội, thành phố
nghệ thẻ này sẽ hỗ trợ VIBank đột phá trong lĩnh vực thẻ thông qua việc cung
ứng hàng loạt sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu và phù hợp với từng nhóm
khách hàng. Việc triển khai thành công Dự án công nghệ thẻ VIBank sẽ tạo ra
hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thanh toán chất lợng cao mang lại nhiều lợi ích
và giá trị gia tăng cho khách hàng.
3.8. Hoàn thành đề án tái cơ cấu Ngân hàng Quốc tế
Năm 2004 là năm Ngân hàng chú trọng đến việc củng cố tổ chức bộ máy,
triển khai một số chơng trình nhằm xây dựng nền tảng và nâng cao năng lực
trong công tác tổ chức và quản lý.
Cuối năm 2004, Ngân hàng Quốc tế hoàn thành Đề án tái cơ cấu theo định
hớng ngân hàng đa năng, tạo sự thuận lợi cho giao dịch khách hàng,tập trung
12
cho phát triển lĩnh vực sinh lời, hình thành những cơ cấu có chức năng quản lý
rủi ro và hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.
3.9. Phát triển nguồn nhân lực
Nguồn lực quan trọng nhất của ngân hàng là nguồn lục con ngời và lợi thế
cạnh tranh của ngân hàng cũng là nguồn lực con ngời, do đó Ngân hàng luôn cố
gắng xây dựng một môi trờng làm việc cho phép khuyến khích mọi cán bộ nhân
viên phát huy hết khả năng của mình. Ngân hàng Quồc Tế xây dng một chơng
trình phát triển kỹ năng toàn diện cho cán bộ nhân viên nhằm tăng khả năng
thích nghi trớc những biến đổi của môi trờng kinh doanh.
Chính sách tiền lơng của Ngân hàng trong năm 2006 có nhiều cải thiện
đáng kể theo chiều hớng kết hợp hài hoà giữa lợi ích của ngân hàng và ngời lao
động. Chính sách thu nhập của ngân hàng đã khuyến khích đội ngũ nhân viên
yên tâm làm việc, đồng thời vẫn đảm bảo tính cạnh tranh và thu hút nhân tài
phục vụ cho ngân hàng.
Công tác khen thởng cũng đợc Ngân hàng quan tâm đặc biệt, công tác
khen thởng cả bằng vật chất lẫn tinh thần đã khuyến khích đợc tinh thần làm
việc và ý chí phấn đấu của cán bộ nhân viên đợc khen thởng và các cán bộ nhân
viên khác.
tính dây truyền, lây lan và sâu rộng.
14
Để hiểu đợc chức năng đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế, ta thử
hình dung một thế giới không có hoạt động ngân hàng. Trong một thế giới nh
vậy, những khoản tiền tiết kiệm của dân c chỉ có thể đợc sử dụng hoặc dới dạng
tiền mặt hoặc tiếp đầu t vào các chứng khoán công ty. Trong thế giới không có
ngân hàng qui mô luân chuyển các dòng tiền này giữa ngời tiết kiệm và các nhà
đầu t là rất thấp. Lí do đó là:
* Chi phí để giám sát trực tiếp hoạt động của công ty là rất tốn kém. Khi
mua chứng khoán công ty, ngời mua chứng khoán phải đợc đảm bảo rằng tình
hình kinh doanh của công ty là có hiệu quả, tình hình tài chính của công ty là
lành mạnh, Để giám sát đ ợc hoạt động của công ty, những ngời đầu t chứng
khoán phải mất rất nhiều chi phí về thời gian cung nh tiền bạc vào việc thu thập
thông tin, phân tích và xử lí thông tin. Nếu nh có một tổ chức chuyên nghiệp
đứng ra hay họ làm công việc giám sát hoạt động của công ty thì sẽ tiết kiệm đ-
ợc chi phí và hiệu quả hơn nhiều. Việc giám sát công ty khó khăn và tốn kém
nh vậy khiến việc nắm vững chứng khoán kém hấp dẫn.
* Với đặc tính dài hạn của cổ phiếu và trái phiếu đã làm nản lòng của
những nhà đầu t. Bởi tâm lí ngại mạo hiểm, những ngời có tiền tiết kiệm u tiên
nắm giữ tiền mặt để tiêu dùng hơn là đầu t vào cổ phiếu và trái phiếu.
* Đầu t chứng khoán là hình thức đầu t chứa đựng nhiều rủi ro do giá cả
của chúng luôn biến động. Điều này ảnh hởng đến nhà đầu t và cả nhà phát
hành.
Trong một thế giới không có ngân hàng, quy mô luân chuyển tiền tiết kiệm
giữa ngời dân và nhà đầu t là rất thấp.Tuy nhiên trong xã hội ngày nay hệ thống
ngân hàng phát triển mạnh mẽ và đợc coi nh bộ xơng sống của nền kinh tế. Hệ
thống ngân hàng cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những ngời tiíet kiệm
đến những ngời có nhu cầu về vốn.
Ngân hàng thực hiện hai chức năng cơ bản sau :
+ Chức năng luân chuyển tài sản.
16
vực kinh doanh. Sự đa dạng hóa trong kinh doanh có tác động lớn đến hoạt
động của doanh nghiệp và rủi ro cũng gắn liền với kinh doanh.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì rủi ro đến từ nhiều
phía, có thể do chủ quan hoặc khách quan của các nhà kinh doanh. Song có thể
nói rằng: Trong từng thời kỳ xã hội khác nhau thì rủi ro có những loại khác
nhau và mức độ thiệt hại do ruỉ ro gây nên cũng khác nhau.
2.1.2. Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi
mà hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng mại cũng không nằm ngoài hai
cặp phạm trù này, mà còn rất nhạy cảm. Hầu hết các nghiệp vụ của Ngân hàng
thơng mại đều dẫn tới rủi ro. Do vậy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng th-
ơng mại luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro trong hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thơng mại là sự kiện xẩy ra ngoài ý muốn và ảnh h-
ởng đến hoạt động, gây tổn thất cho Ngân hàng thơng mại.
2.1.3. Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
* Thứ nhất: về chi phí: Rủi ro gây tăng vợt của giới hạn các khoản chi phí
dịch vụ Ngân hàng.
Trong hoạt động các nghiệp vụ của Ngân hàng thơng mại để thực thi đợc
cần chi ra một lợng chi phí hoạt động nhất định bao gồm: Chi trả lãi cho ngời
gửi tiền, lãi tiền vay cho các tổ chức tín dụng, tiền lơng của cán bộ Ngân hàng,
chi phí mua sắm TSCĐ khác. Rủi ro xảy ra sẽ làm tăng chi phí và nh vậy sẽ ảnh
hởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
* Thứ hai: là thua lỗ:
Sự thua lỗ đợc biểu hiện dới hình thức không đạt đợc thu nhập nh dự kiến
mà chi vợt quá dự toán, thu không đủ bù chi.
Nguyên nhân dẫn đến thua lỗ do Ngân hàng không phân tích hoặc phân
tích không hết các yếu tố cần cho các hoạt động đợc thực thi, Dự toán sai các
đối tợng cho vay và đầu t hoặc do hoàn cảnh ngẫu nhiên không thuận lợi cho
Ngân hàng. Các rủi ro vốn xảy ra dẫn đến sự thua lỗ của Ngân hàng. Rủi ro làm
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ Nợ và Có
chuyển vốn từ ngời gửi tiền sang ngời đi vay tiền - Toàn bộ giao dịch này sẽ
suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thông tin và hiểu biết đầy đủ về
nhau. Song một thực tế còn tồn tại là: một bên thờng không biết tất cả những gì
cần biết về phía bên kia và sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có đợc
nh vậy đợc gọi là thông tin không cân xứng". Việc thiếu thông tin trong các giao
dịch này sẽ đa đến sự lựa chọn đối nghịch" và rủi ro đạo đức".
Chọn lựa đối nghịch xảy ra trớc khi diễn ra giao dịch. Bản chất vấn đề là
thay vì lựa chọn những ngời trả đợc nợ để cho vay, nhà Ngân hàng - mặc dù
không mong muốn - song vì thông tin không cân xứng - đã chọn ngời tích cực
vay nhất để cho vay, nhng lại là ngời có khả năng tạo ra kết cục không trả đợc
nợ, gây rủi ro cho Ngân hàng.
Thông tin không cân xứng có thể dẫn đến rủi ro về đạo đức sau khi giao
dịch. Đó là hiện tợng ngời vay do thiếu đạo đức, thực hiện những hoạt động trái
với cam kết sau khi nhận đợc khoản tiền vay, đa đến việc khó có thể hoàn trả
món vay, gây rủi ro cho Ngân hàng.
Thông tin không cân xứng trên thị trờng tài chính đẫn tới sự lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đuức đã đặt các Ngân hàng trớc nguy cơ rủi ro cao. Muốn
hoạt động kinh doanh có hiệu quả, thu đợc lợi nhuận, tránh tình trạng kinh
doanh thua lỗ, nợ khê đọng dẫn đến phá sản, các Ngân hàng phải thật tỉnh táo
để có những nguồn thông tin cân xứng nhằm vợt qua đợc sự lựa chọn đối
nghịch và rủi ro về đạo đức.
3.3. Sự điều khiển của cơ chế thị trờng.
Cơ chế thị trờng, với quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá
cả... là bàn tay vô hình điều khiển mọi hoạt động của các doanh nghiệp và quyết
định sự sống còn của các doanh nghiệp.
Ngân hàng thơng mại là một doanh nghiệp. Ngân hàng muốn tồn tại và
phát triển thì hoạt động phải sinh lời. Bởi vậy, cũng nh tất cả các doanh nghiệp
sản xuất và kinh doanh khác, muốn tồn tại và phát triển, Ngân hàng phải giải
quyết đợc các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình kinh doanh: mâu thuẫn về giá
đối với hoạt động ngân hàng cũng mang tính chất đặc thù. Những rủi ro mà
Ngân hàng thờng gặp phải nh:
- Rủi ro lãi suất
20
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro thanh khoản
- Rủi ro hối đoái
- Rủi ro công nghệ
- Rủi ro môi trờng
- Rủi ro khác
4.1. Rủi ro lãi suất
Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng, nên mọi tác động trực tiếp đến
giá trị tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng. Mọi sự thay đổi của lãi suất đến
việc tăng, giảm thu nhập, chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng. Nếu thu nhập từ
lãi không lớn hơn chi phí về lãi thì ngân hàng sẽ chịu thua lỗ.
Lãi suất là yếu tố thay đổi trên thị trờng, rát khó có thể dự báo trớc rủi ro
lãi suất xảy ra khi lãi suất thay đổi làm giảm thu nhập của Ngân hàng. Đối với
nguồn vốn huy động khi lãi suất tăng sẽ làm chi phí vốn vay của ngân hàng
tăng, đối với các khoản tín dụng, khi lãi suất giảm sẽ làm giảm thu nhập từ lãi
của ngân hàng. Và do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất là do sự không cân xứng giữa các
kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có. Nếu ngân hàng dùng tài sản nợ ngắn hạn để
đầu t vào tài sản có dài hạn thì khi lãi suất ngắn hạn tăng lên, trong khi lãi suất
đầu t vẫn giữ nguyên, ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Ngợc lại nếu ngân hàng dùng tái
sản nợ dài hạn để đầu t vào tài sản có ngắn hạn thì khi lãi suất đầu t giảm Ngân
hàng cũng có nguy cơ bị rủi ro.
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác nh: do
bất lợi trong cạnh tranh, buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huy động và hạ lãi
suất cho vay để thu thút khách hàng, do đó làm tăng chi phí và giảm thu nhập
của ngân hàng: Do cung tiền tệ nhỏ hơn cầu tiền tệ nên ngân hàng phải tăng lãi
Rủi ro thanh toán là loại rủi ro riêng của Ngân hàng, do Ngân hàng
không duy trì đợc thờng xuyên một tài sản có tính lỏng cao dẫn đến mất khả
năng chi trả thờng xuyên cho khách hàng.
Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau:
+ Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn d thừa
quá lớn, trong khi đó thị trờng đầu ra hạn hẹp. Nên một số Ngân hàng đã dùng
vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn quá mức, dẫn đến thiếu hụt
khả năng thanh toán cuối cùng.
+ Đến hạn, các khoản vay khó thu hồi đợc, uy tín của Ngân hàng giảm
sút, ngời gửi tiền hay ngời đi vay thờng phản ứng trớc những khó khăn của
Ngân hàng bằng cách sử dụng hạn mức tín dụng để đảm bảo có tiền cho những
nhu cầu về sau hoặc rút hết số d tiền gửi vì sợ có thể không rút đợc.
Trong trờng hợp Ngân hàng mất khả năng thanh toán, vốn tự có của
Ngân hàng không có khả năng bù đắp hết tất cả các khoản mất mát, thiệt hại,
Ngân hàng dễ rơi vào tình trạng vỡ nợ hay phá sản.
Rủi ro thanh toán khoản là rủi ro đặc trng của Ngân hàng, khó đối phó
nhất. Do đó, để nói rõ hơn về rủi ro thanh toán khoản, em xin trình bày rõ hơn ở
phần sau.
4.4. Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là rủi ro do sự biến động của tỉ giá hối đoái gây nên. Nhng
rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả các nghiệp vụ và liên quan đến ngoại tệ
của Ngân hàng nh: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, đầu
t chứng khoán bằng ngoại tệ,
Trong các giao dịch ngoại hối và trong cân đối tài sản bằng ngoại tệ của
Ngân hàng, bất cứ một trạng thái ngoại hối tròng hay đoản đều có thể gặp
rủi ro hối đoái khi tỉ giá ngoại tệ thay đổi. Nếu ngân hàng ở trạng thái ngoại tệ
trờng, thì khi ngoại tệ tăng giá Ngân hàng sẽ có lãi, ngợc lại Ngân hàng sẽ bị
23
lỗ khi ngoại tệ đó xuống giá. Nếu Ngân hàng đang ở trạng thái đoản về một
ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ lên giá Ngân hàng sẽ bị lỗ và ngợc lại.
dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng.
4.8. Các rủi ro khác
Nh rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lí
25