Kiểm soát tồn kho đối với các sản phẩm dễ hỏng tại Tổng công ty Foodinco - Pdf 11

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thương mại quốc tế càng phát triển nhanh và sôi động càng đòi hỏi các
doanh nghiệp phải tăng tốc hội nhập để nâng cao khả năng cạnh tranh. Để cân
bằng được nhu cầu của khách hàng với tăng trưởng có lãi, các công ty ngày
càng đẩy mạnh việc cải tiến mạnh mẽ hoạt động quản lý chuỗi cung ứng. Các
nhà quản lý cũng ngày càng nhận thấy vai trò đứng mũi chịu sào của mình
trong cuộc kéo co giữa một bên là nhu cầu ngày càng lớn của khách hàng và
bên kia là nhu cầu tăng trưởng và sinh lãi của công ty. Nhiều người trong số họ
đã phát hiện ra rằng họ có thể giữ cho sợi dây kéo co ấy không bị đứt và trên
thực tế họ còn đạt được sự tăng trưởng có lãi bằng cách đặt quản lý chuỗi cung
ứng thành nhân tố chiến lược.
Việt nam là một đất nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều vì vậy
các loại nông sản khô như gạo, ngô, đỗ, sắn… rất dễ bị mốc hỏng. Công ty cổ
phần đầu tư và xuất nhập khẩu FOODINCO hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu hàng nông sản nên việc quản lý hàng tồn kho đóng vai trò cực
kỳ quan trọng. Công ty cần có một hệ thống quản lý hàng tồn kho hợp lý và
hiệu quả, nêu không sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh và uy tin của
Công ty.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những lý do trên, đồng thời qua thời gian thực tập tại Tổng công ty cổ
phần đầu tư và xuất nhập khẩu Foodinco em đã chọn thực hiện đề tài “Một số
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát tồn kho đối với các sản phẩm
dễ hỏng tại Tổng công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu Foodinco”
Kiểm soát tồn kho là công việc khá phức tạp đối với một doanh nghiệp
kinh doanh nhiều mặt hàng dễ hỏng như Foodinco. Qua việc tìm hiểu phân tích

với sản phẩm dễ hỏng tại Công ty cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu Foodinco
Dù đã rất cố gắng nghiên cứu và làm việc, song đề tài của em khó tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
cũng như bạn đọc để em hoàn thiện đề tài của mình.
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài, em nhận được sự giúp đỡ tận
tình của thầy Phùng Tấn Viết cùng các cô các chú, các anh chị trong phòng
Kinh doanh của công ty. Em xin chân thành cảm ơn Thầy, các Cô chú và các
Anh chị trong phòng Kinh doanh của công ty đã hỗ trợ em hoàn thành đề tài
này.
Đà nẵng, ngày 26 tháng 10 năm 2009
Người thực hiện
Nguyễn Xuân Trường
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
PHẦN MỘT
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT TỒN KHO ĐỐI VỚI CÁC SẢN
PHẨM DỄ HỎNG
I. Một số khái niệm về kho hàng
1. Kho ngoại quan
Kho ngoại quan là khu vực kho bãi được thành lập trên lãnh thổ Việt nam,
ngăn cách với khu vực xung quanh để tạm lưu giữ, bảo quản hoặc thực hiện một
số dịch vụ đối với hàng hóa từ nước ngoài, hoặc từ trong nước đưa vào kho theo
hợp đồng.
2. Kho trung chuyển
Kho trung chuyển là kho hàng của doanh nghiệp hay tổ chức đặt tại tỉnh, thành
phố khác nơi đặt trụ sở chính, là nơi tập kết, lưu giữ hàng hóa, vật tư trong thời
gian ngắn trước khi vận chuyển đến địa điểm khác, thường được xây dựng tại các
đầu mối giao thông quan trọng, nơi tiếp giáp giữa các loại hình vận chuyển.
II. Một số khái niệm về tồn kho

doanh nghiệp. Đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hữu hình thì
điều đó càng quan trọng hơn. Tồn kho là một tài sản lưu động lớn nhất của doanh
nghiệp, vì thế độ linh hoạt của nó sẽ quyết định sự phát triển của doanh nghiệp
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Phân loại tồn kho
Theo chuẩn mực kế toán thì hàng tồn kho là những tài sản:
• Được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường;
• Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang;
• Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất
kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ;
Hàng tồn kho bao gồm:
• Hàng hóa mua về để bán: hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường,
hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi gia công chể biến;
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
• Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán;
• Sản phẩm dở dang: sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành
chưa nhập kho thành phẩm;
• Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến
và đã mua đang đi trên đường;
• Chi phí dịch vụ dở dang;
3. Tồn kho bao nhiêu là hợp lý?
Có thể phân loại tồn kho sâu hơn nữa theo giá trị của nó. Ví dụ như doanh
nghiệp có thể đặt các mặt hàng ở mức giá trung bình và cao. Nếu mức độ tồn kho
của doanh nghiệp bị giới hạn bởi nguồn vốn, điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp
lập kế hoạch chi phí với tồn kho mới và tồn kho thay thế.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn các nguồn lực nhất định trong các phạm vi có
giá trị lớn. Tuy nhiên, các món hàng giá rẻ có thể quyết định đến quá trình sản
xuất của doanh nghiệp và doanh nghiệp không nên bỏ sót chúng.

- Dễ quản lý
- Các chi phí quản lý thấp
- Không bao giờ cạn dự trữ
- Mua với số lượng lớn sẽ rẻ
hơn nhiều
- Các chi phí bảo hiểm và cạn dự trữ cao
hơn
- Một vài hàng hóa có thể bị hỏng
- Tồn kho có thể trở nên lỗi thời trước khi
nó được sử dụng
- Nguồn vốn của bạn có thể bị phong tỏa
Sức mạnh này phù hợp với việc kinh doanh của doanh nghiệp nếu việc bán
hàng dự báo trước được các khó khăn (như nó bị trói buộc một cách khó khăn về
việc nên giữ tồn kho bao nhiêu và khi nào nên giữ), doanh nghiệp có thể tích trữ
phong phú các loại tồn kho giá rẻ, các cấu thành hoặc các vật liệu mà doanh
nghiệp có thể không mua được cho đến khi có những phát triển nhanh chóng hoặc
chúng được giữ trong thời gian dài đến lúc đặt hàng lại.
4. Các loại chi phí tồn kho
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Trong điều kiện nhất định, tồn kho quá cao sẽ làm tăng chi phí đầu tư vào tồn
kho, tồn kho thấp sẽ tốn kém chi phí trong việc đặt hàng, chuyển đổi lô sản xuất,
bỏ lỡ cơ hội thu lợi nhuận.
Khi gia tăng tồn kho sẽ có hai khuynh hướng chi phí trái ngược nhau: một số
chi phí này tăng, còn một số khác thì giảm. do đó cần phân tích kỹ lưỡng chi phí
trước khi đến một phương thức hợp lý nhằm tối thiểu hóa chi phí liên đến hàng
tồn kho.
4.1. Các chi phí tăng lên khi tồn kho tăng
• Chi phí về vốn: đầu tư vào tồn kho phải được xem xét như tất cả cơ hội

4.2. Các chi phí giảm xuống khi tồn kho tăng
• Chi phí đặt hàng: bao gồm những chi phí trong việc tìm kiếm nguồn
nguyên vật liệu từ nhà cung cấp, các hình thức đặt hàng. Khi chúng ta sản
xuất một lô hàng sẽ phát sinh một chi phí cho việc chuyển đổi quy trình do
sự thay đổi sản phẩm từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau. Kích thước lô
hàng càng lớn thì tồn kho vật tư càng lớn, nhưng chúng ta đặt hàng ít lần
trong năm thì chi phí đặt hàng hàng năm sẽ thấp hơn.
• Chi phí thiếu hụt tồn kho: Mỗi khi chúng ta thiếu hàng tồn kho nguyên
vật liệu cho sản xuất hoặc thành phẩm cho khách hàng, chúng ta co thể
chịu một khoản chi phí như là sự giảm sút về doanh số bán hàng và gây
mất lòng tin đối với khách hàng. Nếu thiếu hụt nguyên vật liệu cho sản
xuất có thể bao gồm những chi phí của sự phá vỡ quy trình sản xuất này và
đôi khi dẫn đến mất doanh thu, mất uy tín với khách hàng. Để khắc phục
tình trạng này, người ta phải có sự dự trữ, bổ sung hay còn gọi là dự trữ an
toàn.
• Chi phí mua hàng: Khi mua nguyên vật liệu với số lượng lô hàng lớn sẽ
làm tăng chi phí tồn trữ nhưng chi phí mua hàng sẽ thấp hơn do chiết khấu
theo số lượng và cước phí vận chuyển cũng giảm.
• Chi phí chất lượng khởi động: Khi chúng ta bắt đầu sản xuất một lô
hàng thì sẽ có nhiều nhược điểm trong giai đoạn đầu, như công nhân có thể
chưa quen với công việc, chưa quen với quy trình sản xuất, vật liệu không
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
đạt tiêu chuẩn, máy móc lắp đặt cần có sự điều chỉnh. Kích thước lô hàng
càng lớn thì có ít sự thay đổi trong năm và ít phế liệu hơn.
Tóm lại, khi tồn kho tăng sẽ có các chi phí tăng theo và ngược lại, sẽ có các
chi phí khác giảm đi, mức tồn kho hợp lý sẽ làm tối thiểu hóa tổng chi phí liên
quan đến tồn kho.
III. Kiểm soát tồn kho

nhận dạng các mặt hàng khác nhau trong từng loạt.
Hàng hóa nên được kiểm tra có hệ thống về chất lượng, nhận ra các lỗi, thiếu
sót và sự ảnh hưởng của loạt được loại bỏ ra ngoài. Điều này sẽ cho phép doanh
nghiệp đề xuất bất cứ vấn đề nào với nhà cung cấp của doanh nghiệp và đồng thời
cho phép doanh nghiệp chứng minh về sự an toàn và chất lượng hàng hóa của
mình.
Với hệ thống kiểm soát chất lượng bằng việc lưu trữ thông tin về hàng hóa
trong máy tính sẽ phần nào theo giõi một cách minh bạch tương đối. Phương pháp
kiểm soát tồn kho bằng sổ sách có thể sử dụng các mã để theo giõi có hệ thống và
thực hiện nó dễ dàng hơn để phát hiện ra những loạt cá biệt.
Phần mềm nhận dạng bằng tần số radio có thể được sử dụng để dự trữ thông
tin về một sản phẩm hay cấu thành của một kỳ sản xuất, để bảo đảm rằng nó sẽ
được bán hoặc được sử dụng gia công chế biến trong cùng thời gian. Hệ thống
này cũng có thể được sử dụng để phát hiện những sản phẩm bị sai hỏng một cách
nhanh chóng và hiệu quả.
Và để có thể kiểm soát chất lượng tồn kho các nhà quản lý cần phải:
2.1. Quản trị kiểm soát tồn kho
Có nhiều công việc quản lý được kết hợp với kiểm soát tồn kho. Điều đó phụ
thuộc vào quy mô và sự phức tạp của công việc kinh doanh của doanh nghiệp,
chúng có thể được thực hiện như một phần công việc của nhà quản lý, hoặc bằng
một chuyên gia về kiểm soát chất lượng.
Các đặc trưng của công việc giấy tờ bao gồm:
• Phân phát và cung cấp các ghi chú cho những hàng hóa nhập kho.
• Các đơn đặt hàng thu mua, biên lai và các phiếu.
• Giấy báo nợ.
• Bảng tiêu chuẩn đòi hỏi và các chú thích cho ra của hàng hóa xuất kho.
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Tồn kho có thể có mối liên hệ với một phần vốn của doanh nghiệp, vì thế

12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một phương pháp nhất định hoặc hỗn hợp hai
hay nhiều phương pháp cùng lúc nếu doanh nghiệp có nhiều loại hàng hóa khác
nhau.
3.1. Nhập trước, xuất trước (FIFO)
Đây là một hệ thống để đảm bảo rằng loại tồn kho dễ hỏng được sử dụng hiệu
quả với mục đích không làm giảm giá trị. Tồn kho được nhận dạng bằng cách
nhận biết thời hạn và dịch chuyển thông qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất
trong đơn đặt hàng chính xác.
Theo phương pháp này, hàng hóa tồn kho được tính giá thực tế xuất kho trên
cơ sở giả định hàng hóa nào nhập kho trước thì xuất dùng trước và tính theo đơn
giá của những lần nhập trước.
Như vậy nếu giá cả có xu hướng tăng lên thì giá trị hàng tồn kho cao và giá trị
vật liệu xuất dùng nhỏ nên giá thành sản phẩm giảm, lợi nhuận tăng. Ngược lại,
nếu giá cả có xu hướng giảm thì chi phí vật liệu trong kỳ sẽ lớn dẫn đến lợi nhuận
trong kỳ giảm.
Phương pháp này thích hợp dùng trong thời kỳ lạm phát tăng và áp dụng với
những doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư, số lần nhập kho của mỗi danh điểm
không nhiều.
Ưu điểm của phương pháp này là cho phép kế toán và những nhà quản lý hàng
hóa tồn kho có thể tính giá hàng hóa xuất kho kịp thời, phương pháp này cung cấp
một sự ước tính hợp lý về giá trị hàng hóa cuối kỳ. Trong thời kỳ lạm phát tăng,
phương pháp này sẽ cho lợi nhuận cao, do đó có lợi cho các công ty cổ phần khi
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trước cổ đông làm cho các nhà đầu tư yên
tâm và kỳ vọng vào cổ phiếu của công ty, từ đó giúp giá cổ phiếu của công ty tăng
lên.
Tuy nhiên nhược điểm của nó là các chi phí phát sinh hiện hành không phù
hợp với doanh thu phát sinh hiện hành. Doanh thu hiện hành có được là do các chi
phí nguyên vật liệu nói riêng và hàng tồn kho nói chung vào kho từ trước. Như

• Xem xét lại tồn kho: Khi áp dụng phương pháp này doanh nghiệp cần xem
xét tồn kho một cách thường xuyên. Với mỗi lần xem xét lại
4. Vai trò của kiểm soát tồn kho
Tồn kho là cần thiết trên các phương diện sau:
• Tồn kho để giảm thời gian cần thiết đáp ứng nhu cầu.
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
• Làm ổn định mức sản xuất của đơn vị trong khi nhu cầu biến đổi.
• Bảo vệ đơn vị trước những dự báo tháp về nhu cầu.
Trên một khía cạnh khác, tồn kho bao giờ cũng được coi là nguồn nhàn rỗi do
đó khi tồn kho càng cao thì càng gây ra sự lãng phí. Vậy tồn kho bao nhiêu là hợp
lý?
Các nhà quản trị tài chính muốn giữ mức tồn kho thấp và sản xuất mềm dẻo để
doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu nhưng sẽ hạ thấp mức đầu tư vào tồn kho.
Thực tế tồn kho như một lớp đệm lót giữa nhu cầu và khả năng sản xuất. Khi nhu
cầu biến đổi mà hệ thống sản xuất có điều chỉnh khả năng sản xuất của mình, hệ
thống sản xuất sẽ không cần đến lớp đệm lót tồn kho. Với cách nhìn nhận như vậy
các nỗ lực đầu tư sẽ hướng vào một hệ thống sản xuất linh hoạt, điều chỉnh sản
xuất nhanh, thiết lập quan hệ rất tốt với nhà cung ứng để có thể đặt hàng sản xuất
và mua sắm thật nhanh với quy mô nhỏ.
Các nhà quản trị sản xuất muốn có thời gian vận hành sản xuất dài để sử dụng
hiệu quả máy móc thiết bị, lao động. Họ tin rằng hiệu quả sản xuất, đặt hàng quy
mô lớn có thể bù đắp những lãng phí mà tồn kho cao gây ra. Điều này dẫn đến tồn
kho cao.
Mặc dù mục tiêu giảm thấp các phí tổn liên quan đến tồn kho, song cách nhìn
nhận về vấn đề có thể theo những hướng khác nhau. Rõ ràng, trong những điều
kiện nhất định lượng tồn kho hợp lý cần được xem xét một cách toàn diện.
Kiểm soát tồn kho hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp xác định được cần giữ tồn
kho bao nhiêu vào thời điểm nào và tại vị trí nào. Vai trò của kiểm soát tồn kho là

SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Trong thời gian này, quân đội ta đánh thắng đến đâu thì lực lượng hậu cần của
Công ty đến đó và tiến hành thành lập Tổng kho lương thực ở Huế, Đà Nẵng, Quy
Nhơn, Nha Trang. Cho đến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng Công ty đã tiến
hành vận chuyển 650000 tấn lương thực từ hậu phương ra chiến trường, đóng góp
một phần xứng đáng vào sự thắng lợi vĩ đại của công cuộc kháng chiến chống Mỹ
cức nước của dân tộc ta.
Từ năm 1976-1982 có tên gọi " Công ty lương thực cấp I Đà Nẵng ": để đáp
ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới trong giai đoạn khôi phục lại sau chiến tranh, Công
ty được đổi tên thành Công ty lương thực cấp I Đà Nẵng được thành lập theo
quyết định số 04/LTTP/LĐ ngày 3/1/1976 của Bộ lương thực.
Nhiệm vụ của Công ty trong giai đoạn này là tiếp nhận lương thực từ nguồn
nhập khẩu và điều hoà lương thực ở các tỉnh để cân đối cung cấp cho quân đội,
các tỉnh duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên và một phần cho các tỉnh phía Bắc. Ở
giai đoạn này bộ máy quản lý của Công ty đã được sắp xếp gọn nhẹ phù hợp với
hoạt động từ địa bàn Bình Trị Thiên đến Thuận Hải và Tây Nguyên.
Từ năm 1983-1989 có tên gọi " Công ty lương thực Miền Trung " được thành
lập theo quyết định số 789LT-CB ngày 30/08/1982 của Bộ lương thực, nhiệm vụ
của giai đoạn này là mở rộng thêm sản xuất chế biến lương thực, phục vụ chủ
trương đưa màu vào cơ cấu bữa ăn, xay xát chế biến phục vụ chăn nuôi các
nghành công nghiệp khác.
Đến năm 1987 Công ty trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và CNTP, nhiệm vụ của
Công ty chuyển từ điều hành, phân phối lương thực sang huy động giao nộp sản
phẩm cho trung ương về thuế nông nghiệp, quan hệ mua bán sản phẩm lương thực
hàng hoá vói các hợp tác xã theo giá thoả thuận.
Từ năm 1990 - 1996 có tên gọi " Công ty lương thực Trung Ương III " được
thành lập theo quyết định số 20NN/TCCB/QĐ ngày 18/01/1990 của Bộ Nông
nghiệp & PTNT. Trong thời kỳ này, Công ty hoạt động theo cơ chế thị trường có

kim loại và phương tiện vận tải. Trong tương lai doanh nghiệp sẽ cho ra những
sản phẩm dịch vụ thông qua dự án cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại và căn
hộ cao cấp tại 58 Bạch Đằng, thành phố Đà Nẵng.
Mặt khác công ty cũng tư vấn thiết kế, giám sát, quy hoạch và xây dựng các
công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi và xây lắp điện; đại lý vận
tải tàu biển và kinh doanh dịch vụ bốc xếp, vận tải thủy bộ trong và ngoài nước.
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Công ty đã sử dụng hệ thống dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại
của Italia và các nước để chế biến bột mỳ và các sản phẩm xuất khẩu theo hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000 đạt chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng.
Công ty FOODINCO cũng đã quan tâm đầu tư các dự án mới như: chế biến
thức ăn chăn nuôi, kho, silo chứa lương thực, hàng hóa, xây dựng cao ốc văn
phòng và kho ngoại quan Châu phi, Ukraine để xuất khẩu gạo, nhập khẩu nguyên
liệu gỗ, hạt điều, lúa mỳ…
Hiện nay Công ty đã đứng vững trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định
hướng theo sự quản lý của nhà nước, từng bước phát triển và mở rộng quy mô
hoạt động của Công ty.
2. Cơ cấu bộ máy tổ chức
2.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của công ty có dạng cơ cấu tổ chức phòng ban, những công
việc chung của các phòng ban như phân bổ tài chính, vấn đề liên quan đến pháp
luật, tổ chức hành chính nhân sự,… sẽ được thực hiện ở cấp công ty. Các chiến
lược theo cơ cấu tổ chức phòng ban giúp dễ xác định được ảnh hưởng của kết quả
hoạt động của từng bộ phận đến lợi nhuận chung của công ty, đồng thời cũng phù
hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn và có số lượng sản phẩm nhiều, xét ở
góc độ marketing, dạng cơ cấu này tạo lợi ích và tập trung vào từng phân đoạn thị
trường và sản phẩm cụ thể. Tuy nhiên, các chức năng bị lặp lại ở các phòng ban

6.TVTK&XD
NHÀ MÁY
1.BỘT MỲ
VIỆT Ý
2. CHẾ BIẾN
GẠO XUẤT
KHẨU
CHI NHÁNH &
V/P ĐẠI DIỆN
1. GHANA
2.UKRAINE
3. LÀO
BAN KIỂM
SOÁT
CÁC PHÓ
TGĐ
Phòng
TCKT
Phòng
CN&ĐT
Phòng
KD LT&NS
TỔNG GIÁM
ĐỐC
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ
ĐÔNG
Phòng
KD VTPB
CTY CP
1. FOODINCO

chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hoá,
chuyên môn cho cán bộ nhân viên.
2.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
• Đại hội đồng cổ đông(ĐHĐCĐ): là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của
Tổng công ty. ĐHĐCĐ có quyền và nhiệm vụ được quy định tại điều 14
Điều lệ Tổng công ty. Thể thức triệu tập, các điều kiện tiến hành, biểu
quyết thông qua quyết định của ĐHĐCĐ thực hiện theo điều 17, điều
18, điều 19, điều 20, điều 21 Điều lệ Tổng công ty.
• Hội đồng quản trị(HĐQT): Do ĐHĐCĐ bầu ra, quyền hạn và nhiệm vụ
của HĐQT được quy định tại điều 25 Điều lệ Tổng công ty. Các cuộc
họp, nội dung chương trình họp, biên bản, nghị quyết cuộc họp của
HĐQT thực hiện theo điều 28 Điều lệ Tổng công ty.
• Ban kiểm soát Tổng công ty(BKS): Do ĐHĐCĐ bầu ra, quyền hạn và
nhiệm vụ của BKS được quy định tại điều 82.2 Luật doanh nghiệp và
điều 36, điều 37 Điều lệ Tổng công ty.
Tổng mức thù lao của HĐQT và BKS do ĐHĐCĐ quyết định. Các chi phí
hoạt động của HĐQT và BKS được Tổng công ty chi trả theo quy định.
• Tổng giám đốc(TGĐ): Do HĐQT bổ nhiệm, là người đại diện theo pháp
luật của Tổng công ty. TGĐ trực tiếp điều hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh của Tổng công ty theo Nghị quyết ĐHĐCĐ và HĐQT. TGĐ
có quyền hạn và nhiệm vụ được quy định theo điều 31 Điều lệ Tổng công
ty.
• Các Phó tổng giám đốc(PTGĐ): Do HĐQT bổ nhiệm theo đề nghị của
TGĐ. Các PTGĐ giúp TGĐ thực hiện một số nội dung công việc cụ thể
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
trong quản lý, điều hành công ty theo sự phân công hay ủy quyền của
TGĐ.
• Trách nhiệm và nghĩa vụ của Ban tổng giám đốc(BTGĐ)

đạo về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ hoạt động trong sản xuất kinh doanh của
khối doanh nghiệp, vận tải sản xuất, chế biến lương thực thực phẩm và
phát triển các dự án đầu tư; lập kế hoạch quản lý kinh tế kỹ thuật ngành
sản xuất công nghiệp và các kế hoạch phát triển dự án đầu tư mở rộng
quy mô sản xuất; lập và quản lý hồ sơ về nhà cửa kho tàng, máy móc,
thiết bị, phương tiện của công ty; lên kế hoạch duy trì bảo dưỡng máy
móc thiết bị theo khả năng hiện có của công ty.
• Phòng kinh doanh lương thực nông sản: Có nhiệm vụ tham mưu giúp
việc cho TGĐ Công ty thực hiện việc quản lý, chỉ đạo việc thực hiện về
lĩnh vực kinh doanh lương thực và nông sản; xây dựng và tổ chức thực
hiện kế hoạch kinh doanh hằng năm; nghiên cứu tổng hợp thông tin thị
trường trong và ngoài nước về lương thực và nông sản; chỉ dạo và hướng
dẫn các đơn vị việc lập kế hoạch, triển khai kế hoạch có hiệu quả.
• Phòng kinh doanh vật tư – phân bón: Có nhiệm vụ tham mưu giúp việc
cho TGĐ Công ty thực hiện việc quản lý, chỉ đạo việc thực hiện về lĩnh
vực kinh doanh vật tư phân bón trong toàn Công ty; chủ động nắm bắt
thông tin thị trường trong và ngoài nước về mặt hàng vật tư phân bón
nhằm thực hiện việc lập kế hoạch kinh doanh ngắn và trung hạn, báo cáo
cho lãnh đạo Công ty phê duyệt thực hiện.
• Các đơn vị trực thuộc: hoạt động theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của
Công ty. Đứng đầu đơn vị trực thuộc là Giám đốc đơn vị, do TGĐ Công
ty ủy quyền chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của đơn vị. Tùy theo quy
mô hoạt động các đơn vị có thể tổ chức các phòng ban nghiệp vụ chuyên
môn.
II. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty
1. Báo cáo tài chính của công ty qua các năm
Bảng 1 : Bảng cân đối tài sản thu gọn
ĐVT : 1.000 đ
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
24

461.928.297 100 501.920.283 100 485.922.643 100
NGUỒN VỐN
A. Nợ phải trả
398.118.297 86,20 444.513.635 88,56 403.887.166 83,12
1. Nợ ngắn hạn
376.498.752 81,51 423.658.652 84,41 385.621.754 79,36
2. Nợ dài hạn
21.689.545 4,70 20.854.983 4,16 18.265.412 3,76
B. Nguồn vốn chủ
sở hữu
63.740.000 13,80 57.406.648 11,44 82.035.477 16,88
1. Vốn chủ sở hữu
48.564.978 10,51 41.956.324 8,36 42.897.139 8,83
2. Nguồn kinh phí
và quỹ khác
8.370.769 1,81 9.829.961 1,69 26.550.469 4,46
3. Lợi nhuận chưa
phân phối
6.804.253 1,47 5.620.363 1,12 12.587.869 2,59
SVTH: Nguyễn Xuân Trường – Lớp B13QTH Trang:
25

Trích đoạn MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT TỒN KHO ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỄ HỎNG TẠI CÔNG TY FOODINCO Thay đổi chính sách phát hành hàng tồn kho
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status