TIỂU LUẬN:
Báo cáo thực tập tổng quan tại
Công ty Xây Dựng Quốc tế
Lời nói đầu Xây dựng cơ bản là quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố
định của nền kinh tế quốc dân thuộc các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất.
Ngành công nghiệp xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. ở nước
ta công nghiệp xây dựng là ngành sản xuất vật chất lớn nhất. Nó quyết định quy mô
và trình độ kĩ thuật của xã hội, của đất nước nói chung và sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay nói riêng. ý thức được tầm quan trọng và
mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này, em đã mạnh dạn đăng kí thực
tập tại Công ty Xây dựng Quốc tế trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội.
Trong thời gian tìm hiểu hoạt động thực tế của Công ty em đã có cơ hội trau
dồi kiến thức các môn học chuyên ngành cũng như bước đầu làm quen với việc
phân tích đánh giá tình hình kinh doanh thực tiễn.
Thời gian 5 tuần đến thực tập tại Công ty Xây Dựng Quốc tế là một khoảng
thời gian ngắn đối với một sinh viên để có thể nắm bắt tất cả các nội dung tổng hợp
và chuyên sâu về những lĩnh vực quản trị kinh doanh ở cơ sở.
Tuy nhiên, được sự giúp đỡ tạo điều kiện của Công ty em đã thực hiện tốt
nghiệm cùng đông đảo đội ngũ công nhân lành nghề, Công ty Xây dựng Quốc Tế
đã xây dựng một số công trình lớn như : Bảo tàng Cay-xon-phom-vi-han -
CHDCND Lào, UBHC Tỉnh Xiêng Khoảng - CHDCND Lào, Làng Quốc Tế Thăng
Long, Khu nhà ở của cán bộ công nhân viên - Trường Đại học Thương mại Hà
Nội… Thành tích ấy có được do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng uỷ, Ban Giám đốc Công ty và sự tham gia đóng góp có hiệu quả của các phòng ban chức năng trong
đó có Phòng Tài chính Kế toán.
Tiền thân của Công ty Xây dựng Quốc Tế là Công ty Xây dựng số 209 được
thành lập từ năm 1991 là đơn vị thành viên của Tổng công ty Xây dựng Hà Nội.
Địa bàn hoạt động khi bắt đầu thành lập từ năm 1991 - 1994 chủ yếu tại tỉnh Xiêng
Khoảng - CHDCND Lào với các công trình: Khách sạn Mường Phuôn, Khách sạn
Hữu Nghị, UBHC tỉnh Xiêng Khoảng, Ngân hàng AlunMay, Trường học Nọng
Tằng, Các chợ Khọng Khay, Lạt Khai…
Để hỗ trợ cho sự phát triển thị trường sản xuất kinh doanh ở Lào, Công ty triển
khai các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước từ năm 1994 – 1995 với các
công trình: Khách sạn Sông Cầu Thái Nguyên, Trung tâm Thương mại Đông Anh,
Khu dụ lịch Nam hồ Núi Cốc…
Với sự phát triển của Công ty Xây dựng 209, năm 1995 Tổng công ty Xây
dựng Hà Nội đã sáp nhập Công ty Xây dựng 209 và một số đơn vị trong nước hình
thành nên Công ty Xây dựng số 5 với địa bàn hoạt động ở cả trong nước và nước
CHDCND Lào.
Từ năm 1995 – 2000 Công ty đã thi công các công trình: Nhà hát lớn, Công ty
Liên doanh 30 Nguyễn Du, Bệnh viện Quốc Tế, Cục Quản lý Vốn và Tài sản Nhà
nước, Trụ sở Công an tỉnh Cao Bằng, Viện Lão Khoa, Làng trẻ em SOS…
Đến năm 2000, Công ty Xây dựng số 5 được đổi tên thành Công ty Xây dựng
Quốc Tế trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội theo Quyết định số 396/QĐ-
BXD ngày 08/03/2000 của Bộ Xây dựng. Địa bàn hoạt động được mở rộng sang
Campuchia.
- Tổng thầu tư vấn và quản lý các dự án xây dựng; - Tư vấn, xây dựng các khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp và các công
trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, đường dây và trạm biến
thế điện và công trình kĩ thuật hạ tầng bao gồm: lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu,
thí nghiệm, thẩm định dự ná đầu tư, thẩm tra thiết kế tổng dự toá, kiểm định chất
lượng, quản lý dự án (không bao gòm thiết kế công trình);
- Xây dựng thực nghiệm
- Trang trí nội, ngoại thất;
- Đầu tư, kinh doanh, phát triển nhà và hạ tầng;
- Thi công các công trình kĩ thuật, hạ tầng nông nghiệp và nông thôn;
- Dịch vụ các công trình thể dục thể thao, bể bơi, sân quần vợt, nhà tập thể dục
thể hình và tổ chức vui chơi giải trí (trừ loại hình vui chơi giải trí Nhà nước cấm);
- Kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn (không bao gồm kinh doanh vũ trường, quán
bar, phòng hat karaoke);
- Khoan phụt xử lý nền và các công trình đê, đập, kè và hồ chứa nước;
- Khoan khai thác nước ngầm;
- Khai thác, chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng (trừ khoáng sản
Nhà nước cấm)./.
b. Nhiệm vụ
- Công ty có quan hệ gắn bó với các thành viên và Tổng công ty về kinh tế,
nghiên cứu công nghệ, cung ứng dịch vụ đào tạo, tiếp thị, cùng hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng, nhằm mục đích thực hiện tích tụ tập trung, phân công, chuyên môn
hoá, hợp tác hoá sản xuất để hoàn thành nhiệm vụ của Tổng công ty giao, nâng cao
khả năng và hiệu quả kinh doanh cho đơn vị mình và toàn Công ty, đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế.
- Công ty được Tổng công ty giao quản lý, sử dụng phần vốn, nguồn lực, và có
trách nhiệm phải bảo toàn và phát triển vốn. Ngoài nguồn vốn được giao, Công ty
còn được phép huy động thêm các nguồn vốn khác để kinh doanh và xây dựng cơ
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
1 Mặt hàng sản phẩm Các dịch vụ, công trình, hạng mục công trình
2 Sản lư
ợng (tính theo số hợp
đồng đã thực hiện)
25
21
33
39
45
3 Doanh thu 19.783
22.756
25.018
32.352
35.409
7 Tổng lợi nhuận trước thuế 356
483
653
818
1.213
8 Thuế thu nhập doanh nghiệp
100
135
183
229
340
9 Lợi nhuận sau thuế 256
348
470
25.295
28.830
12
Số lao đ
ộng bình quân trong
năm
253
266
287
308
384 Các số liệu trên cho thấy lợi nhuận sau thuế của Công ty năm sau đều cao hơn
năm trước, đặc biệt cao nhất vào năm 2006 với 873 triệu đồng, gấp 3,5 lần so với
năm 2002. Như vậy có thể đánh giá tình hình kinh doanh và sử dụng chi phí của
Công ty là tốt. Hiện nay, Công ty tiếp tục triển khai nhiều biện pháp để tìm kiếm
thị trường kinh doanh có hiệu quả và tăng cường uy tín với khách hàng trong và
ngoài nước.
Các công trình hàng năm Công ty thực hiện không trùng lặp nên việc tổng hợp
chi phí sản xuất dựa theo từng công trình cụ thể. Sau đây là chi phí của một số công
trình đã thi công trong quý IV năm 2006.
95.399.708
622
Chi phí nhân công tr
ực
tiếp
65.
816.282
29.606.582
Tháng 10 65.816.282
10.507.450
Tháng 11 0
10.502.887
Tháng 12 0
8.596.245
623
Chi phí s
ử dụng MTC
2.644.660
388.490.722 Phần III
Công nghệ sản xuất
3.1. Dây chuyền sản xuất
Quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng được khái quát qua sơ đồ: Trước đây để tạo ra sản phẩm xây dựng cụ thể và trực tiếp, người ta dùng thuật
ngữ kĩ thuật thi công (KTTC). Quá trình nghiên cứu và thể nghiệm nhiều năm con
người đã cố gắng tìm tòi những mối quan hệ, những nguyên tắc của các khâu trong
ựng
mục khác, trong mỗi hạng mục thì công việc theo công nghệ khác nhau nối đuôi
nhau được thực hiện. Cách tổ chức theo dây chuyền phải đảm bảo được trên mặt
bằng sản xuất luôn có người lao động và người lao động luôn luôn tham gia sản
xuất không bị ngừng việc. Điều này phản ánh tính điều hoà và liên tục.
Các dạng dây chuyền xây dựng:
- Theo cơ cấu dây chuyền: Dây chuyền chuyên môn hoá, dây chuyền công
trình, dây chuyền liên hợp.
- Theo tính chất nhịp nhàng: Dây chuyền nhịp nhàng và không nhịp nhàng.
- Theo mức độ chi tiết phân nhỏ: Dây chuyền phân nhỏ một phần, phân nhỏ
hoàn toàn.
- Theo mức độ tiến triển: Dây chuyền ổn định, dây chuyền không ổn định
Tuỳ theo từng công trình cụ thể mà Công ty sử dụng các dạng dây chuyền phù
hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Theo sơ đồ trên có thể hiểu một cách đơn giản 1
sản phẩm xây dựng được tạo thành như sau: Người lao động sử dụng các phương
tiện, công cụ tác động vào vật liệu xây dựng, sử dụng vật liệu xây dựng thông qua
ảnh hưởng của công nghệ sản xuất cuối cùng tạo ra sản phẩm.
3.2. Đặc điểm công nghệ sản xuất
3.2.1.Một số khái niệm
Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, là cứu cánh của
mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp. Công nghệ thường được hiểu là tập hợp các yếu tố
và điều kiện để tiến hành sản xuất ra sản phẩm. Các điều kiện và yếu tố bao gồm:
Công cụ lao động (thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển…), đối tượng lao
động (năng lượng, nguyên vật liệu), lực lượng lao động có kĩ thuật, các kiến thực,
kinh nghiệm tích luỹ được, hệ thống thông tin- tư liệu cần thiết, cơ chế tổ chức và
quản lý…Nói cách khác, công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm trong sự
Công nghệ xây lắp chủ yếu là quá trình áp dụng các quá trình cơ học để giải
quyết vấn đề vận chuyển ngang và vận chuyển lên cao, Tuy nhiên việc áp dụng tự
động hoá quá trình xây lắp còn phát triển chậm, tỷ lệ lao động thủ công chiếm cao. 3.2.2. Đặc điểm quy trình công nghệ
Công ty Xây dựng Quốc Tế là tổ chức sản xuất kinh doanh hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng. Do vậy, về cơ bản, điều kiện tổ chức hoạt động sản xuất cũng
như sản phẩm của Công ty có sự khác biệt khá lớn so với những ngành sản xuất vật
chất khác. Sự khác biệt này quy định đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty.
Sản phẩm của Công ty có tính đơn chiếc nơi thi công là nơi nghiệm thu sản
phẩm, mỗi sản phẩm làm ra theo thiết kế kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật, giá cả riêng
biệt. Thanh toán bên giao thầu cho Công ty chỉ thanh toán theo giai đoạn, điểm
dừng tạm ứng… Thanh toán toàn bộ khi có biên bản nghiệm thu, bàn giao và thanh
toán công trình trừ đi chi phí bảo hành tuỳ theo dự án. Những đặc điểm đó đòi hỏi
phải có quy trình riêng phù hợp theo trình tự sau:
- Nhận thầu thông qua hình thức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.
- Hợp đồng giao nhận thầu xây dựng với chủ đầu tư công trình.
- Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, Công ty tổ
chức quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm.
- Công trình được hoàn thành với sự giám sát của chủ đầu tư công trình về kỹ
thuật và tiến độ thi công. Bàn giao công trình hoàn thành và quyết toán hợp đồng
xây dựng.
3.2.3. Tình hình sử dụng trang thiết bị
Trong quá trình kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật và máy móc công nghệ có
một ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, khả năng cạnh tranh cũng như hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kỹ thuật công nghệ nói chung và xây dựng nói riêng không ngừng phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các doanh
Máy hàn biến áp 2003 20c -
Máy trộn vữa 1999 11c -
Đầm dùi 2003 29c -
Đầm bàn 1998 10c -
Máy bơm nước 2000 12c -
Cần cẩu XDK 13,5 1995 1c Sử dụng 80% công suất
Cần cẩu KC 2561 1994 1c Sử dụng 70% công suất
Ô tô JIN 130 1997 5c Vẫn sử dụng tốt
Ô tô Maz 2004 2c -
Súng kiểm tra bê tông 1998 1c - Máy xúc ủi Belaut 1995 1c -
Dàn máy vi tính 2003 9c -
Máy khoan đứng 1995 1c Sử dụng 70% công suất
Máy ép cọc 1999 2 Vẫn sử dụng tốt
Máy vận thăng 2001 5 -
Giàn giáo thi công 2000 10 -
Xe lu ba bánh sắt 1995 1 Sử dụng 80% công suất
Máy hàn 1997 3 Sử dụng 80% công suất
Máy ca 2002 1 Vẫn sử dụng tốt
Máy tời 2003 4 -
Máy ủi C100 1999 3 -
Máy ủi Caterpillar 2004 2 -
3.2.4. Đặc điểm về mặt bằng, thông gió, ánh sáng
a. Mặt bằng xây dựng
Tổng mặt bằng xây dựng bao gồm mặt bằng khu đất được cấp để xây dựng và
các mặt bằng lân cận khác, trên đó bố trí các công trình sẽ được xây dựng, các máy
móc thiết bị thi công, các công trình phụ trợ, xưởng sản xuất và các công trình
Xây dựng Quốc tế luôn cố gắng hoàn thành nhiều bộ phận ngoài địa điểm xây dựng
sau đó vận chuyển các bộ phận này đến đó để lắp ráp, tiếp tục hoàn thành.
b. Thông gió, ánh sáng
Đặc điểm về bố trí mặt bằng quyết định đặc điểm của thông gió và ánh sáng.
Đối với các Doanh nghiệp xây lắp nói chung, Công ty Xây dựng Quốc tế nói
riêng, thông gió chủ yếu là thông gió tự nhiên.
Thông gió tự nhiên có những đặc điểm sau:
- Lưu lượng không khí trao đổi lớn
- Kinh tế, tiết kiệm chi phí vì không tốn kém đường ống, quạt, điện. - Không mất công bảo quản trang thiết bị, không phải quản lý vận hành.
- Phụ thuộc vào thiên nhiên, không chủ động được quá trình thông gió, không đưa
khí tới một số nơi có nhu cầu.
- Khi có sự xâm nhập của vi trùng hay các chất hoá học, hệ thống thông gió tự
nhiên hoạt động kém hiệu quả.
Trong những trường hợp cần thiết, Công ty còn sử dụng biện pháp thông gió
nhân tạo như dùng quạt làm mát, điều hoà không khí, hệ thống ống dẫn không khí
và các thiết bị điêù chỉnh hoặc hệ thống thông gió thổi– hút cục bộ.
Hệ thống chiếu sáng để đảm bảo chế độ ánh sáng cần thiết và đầy đủ là một
trong những yếu tố quan trọng trong việc thi công công trình. Công ty sử dụng ba
loại chiếu sáng sau đây:
- Chiếu sáng tự nhiên: chiếu sáng bên qua cửa sổ, chiếu sáng bề mặt qua hệ
thống cửa mái và chiếu sáng hốn hợp .
Mỗi loại chiêú sáng có hiệu quả khác nhau, chiếu sáng bề mặt có sự phân bố
ánh sáng đều hơn cả, chiếu sáng hỗn hợp là tốt nhất: cửa bên nhiều lớp, cửa mái
nhiều dải.
- Chiếu sáng nhân tạo: Công ty sử dụng chiếu sáng nhân tạo khi yêu cầu công
việc phải thực hiện vào buổi tối, buổi đêm hay những khu vực, vị trí mà ánh sáng tự
nhiên không lọt vào được.
động hoá trong thiết kế, áp dụng các thành quả tính toán của lĩnh vực cơ học xây
dựng, nâng cao chất lượng của công tác thăm dò khảo sát phục vụ thiết kế.
- Đối với công tác quản lý: Các khâu thu nhận, bảo quản và xử lý thông tin,
chỉ đạo điều hành tác nghiệp, lựa chọn các giải pháp tối ưu đã được tự động hoá. 3.2.6. Đặc điểm về an toàn lao động Ngành xây dựng giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đây là
một ngành mà điều kiện lao động có nhiều đặc thù riêng: Địa điểm làm việc của
công nhân luôn thay đổi, phần lớn công việc phải thực hiện ngoài trời, chịu ảnh
hưởng của khí hậu thời tiết xấu, nhiều công việc nặng nhọc, phải thi công ở những
vị trí không thuận tiện, có nhiều yếu tố nguy hiểm có hại dễ gây ra tai nạn lao động
và làm suy giảm sức khoẻ thậm chí gây bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Lâu nay xây dựng vốn là một trong các ngành chiếm tỉ lệ cao nhất về tai nạn
lao động, kể cả tai nạn chết người. Trong những năm gần đây, ngành xây dựng đã
có nhiều cố gắng thục hiện các biện pháp tổ chức và công nghệ nhằm cải thiện điều
kiện lao động, ngăn ngừa hạn chế tai nạn lao động và bảo vệ sức khoẻ cho người
lao động. Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động xảy ra vẫn còn là mối quan tâm lo
ngại cho nhiều người lao động. Một trong những vấn đề quan trọng để phòng ngừa
tai nạn lao động là nguời lao động phải hiểu biết về an toàn – vệ sinh lao động, các
tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn – vệ sinh lao động và những biện pháp an toàn cụ
thể trong công việc của mình. Chính vì vậy, khi tuyển dụng lao động vào làm việc,
các Công ty nói chung và Công ty Xây dựng Quốc tế nói riêng xem việc huấn luyện
về an toàn – vệ sinh lao động cho họ là nhiệm vụ của Công ty.
Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp khoa học kỹ
thuật, tổ chức kinh tế – xã hội để hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, độc hại,
tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động để ngăn ngừa tai nạn lao động, bảo vệ
sức khoẻ, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao
phòng chấn thương, Công ty đã trang bị cho công nhân các dụng cụ thủ công cầm
tay đảm bảo chất lượng tốt như găng tay, bao tay. Găng tay và bao tay được làm
bằng vải bò và vải bạt, găng tay cách điện là găng tay cao su.
- Phương tiện bảo vệ chân: gồm các kiểu giầy và ủng để chống các tác động
cơ học như dẫm phải đinh và các vật sắc nhọn, vật liệu rơi vào chân vv…
Như vậy, có thể nói Công ty Xây dựng Quốc tế luôn đề cao công tác bảo hộ
lao động đảm bảo an toàn cho công nhân làm việc trong Công ty, đặc biệt là công
nhân trên công trường. Phần IV
Tổ chức sản xuất và kết cấu sản xuất
4.1. Tổ chức sản xuất
4.1.1. Loại hình sản xuất
Loại hình sản xuất là sự mô tả cách sử dụng những phương tiện nhân lực và vật
chất để biến nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng.
Sản phẩm của Công ty được sản xuất theo phương pháp đơn chiếc, nơi thi công
là nơi nghiệm thu sản phẩm theo đơn đặt hàng chủ đầu tư thông qua hình thức chọn
thầu. Việc sản xuất theo đơn đặt hàng này rất có lợi vì Công ty không phải dự trữ
thành phẩm, không bị phí tổn mất giá do không tốn chi phí lưu kho.
4.1.2. Đặc điểm sản xuất
Đặc điểm sản xuất của Công ty mang đặc điểm của ngành sản xuất xây dựng.
Sản xuất xây dựng lại mang đặc thù của sản xuất công nghiệp (công nghiệp chế
tạo). Bởi vậy, nó cũng có những đặc điểm của sản xuất công nghiệp: quá trình biến
đổi, kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm với giá trị và giá trị sử dụng
mới. Tuy nhiên, nếu xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng, sản xuất trong
nhau, chúng sẽ có cách cấu tạo và công nghệ chế tạo khác nhau.
+ Việc xác định thống nhất giá cho một đơn vị sản phẩm cuối cùng (tức là các
công trình) không thể thực hiện được. Giá cả sản phẩm (công trình xây dựng) phải
được xác định trước ngay khi sản phẩm ra đời khi tiến hành đấu thầu xây dựng. - Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp đòi hỏi phải có nhiều lực lượng hợp
tác tham gia thực hiện. Khác với nhiều ngành khác, trong xây dựng, các đơn vị
tham gia xây dựng công trình phải cùng nhau đến công trình xây dựng với một diện
tích làm việc thường là hạn chế để thực hiện phần việc của mình theo một trình tự
nhất định về thời gian và không gian. Đặc điểm này đòi hỏi:
+ Phải coi trọng công việc thiết kế tổ chức xây dựng, đặc biệt là phải bảo đảm
sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia xây dựng ăn khớp với nhau theo trình tự
thời gian và không gian;
+ Phải coi trọng công tác điều độ thi công, có tinh thần và trình độ tổ chức phối
hợp cao giữa các đơn vị tham gia xây dựng công trình.
- Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời và chịu nhiều ảnh hưởng của thời
tiết. Đặc điểm này đòi hỏi:
+ Khi lập kế hoạch xây dựng phải tính đến yếu tố thời tiết và mùa màng trong
năm, có các biện pháp tranh thủ mùa khô và tránh mùa giá bão;
+ Phải có các biện pháp khắc phục ảnh hưởng của thời tiết tối đa, giảm bớt thời
gian ngừng việc do thời tiết xấu gây ra, cố gắng bảo đảm sử dụng năng lực sản xuất
điều hòa theo bốn quý, áp dụng kết cấu lắp ghép được chế tạo sẵn một cách hợp lý
để giảm thời gian thi công tại hiện trường, nâng cao trình độ cơ giới hoá xây dựng
+ Phải chú ý cải thiện điều kiện lao động cho người làm công việc xây dựng;
+ Phải bảo đảm độ bền chắc và độ tin cậy của các thiết bị, máy móc xây dựng;
+ Phải chú ý tới nhân tố rủi ro do thời tiết gây nên;
+ Phải phát triển phương pháp xây dựng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.
- Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây
dựng đem lại. Cùng một loại công trình nếu nó được tiến hành xây dựng ở những
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ được bố trí ở ngoài diện tích đã quy định để
xây dựng các công trình, không gây cản trở đến quá trình xây dựng, hoặc phải phá
đi làm lại nhiều lần.
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ nếu có điều kiện nên tập trung vào một khu để
tiện quản lý và cung cấp các dịch vụ như điện, nước, khu này càng gần công trình
xây dựng càng tốt để giảm các chi phí vận chuyển.
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ nên hợp khối theo tính năng công nghệ và theo
dây chuyền sản xuất có liên quan.
- Các xưởng sản xuất và phụ trợ phải được thiết kế và quy hoạch theo các tiêu
chuẩn xây dựng, an toàn lao động, phòng chống cháy, nổ, vệ sinh môi trường,
- Để giảm giá thành xây dựng, cố gắng sử dụng một phần công trình đã xây
dựng để làm các xưởng sản xuất và phụ trợ.
4.2.4. Tổ chức vận chuyển và hệ thống giao thông trên công trường
Bất kỳ một công trình xây dựng nào cũng cần phải vận chuyển một số lượng
vật liệu và thiết bị máy móc lớn. Công tác vận chuyển kể cả việc bốc xếp chiếm tới
50% tổng khối lượng công tác ở công trường và khoảng 30% giá thành xây dựng
công trình. Vì vậy, công tác vận chuyển đến công trường đóng một vai trò hết sức
quan trọng. Nếu tổ chức vận chuyển và thiết kế hệ thống giao thông công trường tốt
sẽ cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu, thiết bị theo yêu cầu, đảm bảo cho công trường
xây dựng đúng tiến độ, đồng thời đóng góp một phần làm hạ giá thành xây dựng, an
toàn lao động và vệ sinh môi trường.
Hệ thống giao thông công trường trong Công ty Xây dựng Quốc tế bao gồm hệ
thống đường tạm, được xây dựng dùng cho việc thi công công trường bao gồm:
đường ngoài công trường và đường trong công trường.
Mạng lưới đường trong công trường (mạng lưới đường nội bộ) được thiết kế để
phục vụ cho việc chuyên chở hàng trong mặt bằng công trường, di chuyển của các
loại xe, máy thiết bị và người trong công trường. Mạng lưới đường này có vai trò
hết sức quan trọng, giúp cho việc vận chuyển nguyên vật liệu đến tận chân công