bài tập nhóm Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật potx - Pdf 11

BÀI TẬP NHÓM
Nhóm 1
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Minh Phương
Thành viên nhóm
1. Nguyễn Chí Hiếu Lớp 50bCN Sinh Học MSV: 0953023615
2. Trần Thị Vinh Hạnh Lớp 51b1 KHMT MSV : 1053061657
3. Lê Hùng Cường Lớp 50b KHMT MSV: 0953065680
4. Hoàng Trung Anh Lớp 51b2 KHMT MSV: 1053066662
Nghệ An , ngày 9 tháng 11 năm 2012
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
I: Mở đầu
Chất thải nguy hại hiện nay phát sinh ngày càng nhiều bởi quá trình sản
xuất công nghiệp, công tác quản lý , xử lý hiện nay đang còn nhiều bất cập chưa
đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường, việc quản lý và xử lý chất thải
không an toàn, đặc biệt là chất thải rắn công nghiệp nguy hại, để lại những hậu
quả khôn lường về môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cộng
đồng như các điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không
hợp vệsinh, các bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất…Vì vậy, quản lý và xử
lý chất thải nguy hại nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chế
các tác động tiêu cực đến sức khỏe con người là một trong những vấn đề cấp
bách trong công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay.
Trong các ngành sản xuất công nghiệp thì ngành công nghiệp sản xuất
hóa chất bảo vệ thực vật ( BVTV) là một trong những ngành có lượng rác thải
nguy hại có độc tính cao nhất, dễ gây ô nhiễm môi trường nhất bởi tính chất đặc
thù trong các sản phẩm của ngành này là dễ phát tán và có tác dụng trực tiếp
đến sinh vật ( gây chết, ngừng sinh trưởng, gây tê, liệt…)
Trong giai đoạn hiện nay khi quá trình công nghiệp hóa, đo thị hóa tăng
cao làm cho diện tích đất canh tác dần bị thu hẹp, nhưng với áp lực về năng xuất
nên ngành nông nghiệp đã phải sử dụng một lượng lớn phân bón và hóa chất
bảo vệ thực vật nhằm tăng năng suất cây trồng, chính vì vậy đâp lại là áp áp lực

Đến
nay, thuốc
BVTV đă để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của nền
nông nghiệp hiện đại. Mặc dù ngày nay khoa học đã đạt được những thành
tựu to lớn về nhiều mặt như sinh thái học dịch hại, miễn dịch thực vật…
nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại được áp dụng có hiệu quả như lại tạo
các giống chống chịu sâu bệnh, tạo giống sạch bệnh bằng phương pháp nuôi
cấy mô, các biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, quản lý dịch hại tổng
hợp… nhưng thuốc bảo vệ thực vật vẫn có vai trị to lớn trong việc kiểm soát
dịch bệnh trong nông nghiệp. Đặc biệt, đối với người nông dân, sử dụng
thuốc BVTV được coi là phương pháp đơn giản và được áp dụng thường
xuyên.
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
Hình 1 : một số nhãn cảnh báo có trên thuốc BVTV
Khi sử dụng thuốc BVTV, cần biết một số một số khái niệm liên quan để
mua đúng thuốc và hiểu rõ hướng dẫn sử dụng.
 Tên thuốc: Do nhà sản xuất đặt tên để phân biệt sản phẩm của hãng
này với hãng khác. Một loại thuốc có thể mang 3 tên khác nhau: tên
hóa học, tên chung, tên riêng.
 Hoạt chất: Là thành phần chính của thuốc, quyết định đặc tính và
công dụng của thuốc. Cùng một hoạt chất có thể có nhiều tên thương
mại khác nhau.
 Các chất phụ gia: Giúp thuốc phân bố đều khi pha chế, bám dính tốt
và loang trải đều trên bề mặt cây trồng khi phun. Cùng một hoạt chất
nhưng hiệu quả thuốc có thể khác nhau là do bí quyết về các chất phụ
gia của mỗi nhà sản xuất khác nhau.
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
 Tính độc: Biểu thị bằng LD 50 là liều lượng cần thiết gây chết 50% cá
thể thí nghiệm (chuột bạch, thỏ, chó, chim hoặc cỏ…) tính bằng đơn vị
mg/kg thể trọng. LD 50 càng nhỏ th́ì độ độc càng cao.

bãi thải hoặc qua hệ thống nước thải đổ trực tiếp ra sông, hồ mà chưa qua sử
lý, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng môi trường ngiêm trọng.
Đa phần các con sông, rạch dẫn qua các nhà máy sản xuất hóa chất BVTV
này đều có các chỉ số như chất hữu cơ, BOD
5
, COD, NH
4
, N,P cao hơn chuẩn cho
phép nhiều lần, nguy cơ nước sinh hoạt và ô nhiễm sản xuất ở các vùng có nhà
máy sản xuất vì thế mà càng trở nên trầm trọng.
Như tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có nhiều
cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật nhất, số lượng vi phạm sả thải từ các cơ sở
này rất nhiều, các dòng kênh đi qua các cơ sở này lâu nay đã trở thành các dòng
kênh nước đen hôi thối vì ô nhiễm do các chất hữu cơ phân hủy, Vụ khoảng 20
tấn cá chết tại Quận 7 –TP HCM là một trong những hệ lụy của việc không quản
lý được việc sả thải bừa bãi của các cơ sở này.
Hình 2 : Lấy mẫu nước thải của nhà máy hóa chất Tân Bình
Nước biển ven bờ tại TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm
nghiêm trọng. Hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh,
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
hóa chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt tiêu chuẩn từ 2-5 lần, đặc biệt qua
khảo sát của các nhà quản lý môi trường thì các khu vực này đều gần các nhà
máy sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật, như nhà máy hóa chất quận Tân Bình,
TP Hồ Chí Minh. Hàng ngày người dân xung quanh khu vực này thường xuyên
tiếp xúc với mùi hóa chất khó chịu từ phía nhà máy này gây ra, đó là chưa kể tới
những công nhân làm việc trực tiếp trong nhà máy.
Tại Miền Bắc thì số lượng nhà máy hóa chất BVTV ít hhơn ở Miền Nam,
nhưng cũng có một số nhà máy hóa chất BVTV hoạt động, điển hình là nhà máy
hóa chất BVTV Hòa Bình, đóng tại Thạch Thất – Hà Nội,từ khi nhà máy đi vào
hoạt động năm 2008 thì người dân thôn Nội,thôn Bách Kim, xã Phú Kim không

Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
Thuốc bảo vệ thực vật tiềm ẩn nhiều nguy hại với môi trường.Thống kê,
cả nước hiện có 98 cơ sở sản xuất thuốc BVTV, tập trung chủ yếu tại các khu
công nghiệp phía Nam. Nhiều nhất là ở TP Hồ Chí Minh với 66 cơ sở. Nhưng hầu
hết các cơ sở sản xuất trong tình trạng gia công, sang chai, đóng gói ra thành
phẩm thuốc BVTV, không có cơ sở nào trực tiếp sản xuất nguyên liệu thuốc
BVTV, đa số nguyên liệu nhập khẩu và 90% là nhập từ Trung Quốc, rất khó kiểm
soát thành phần.Khó hơn nữa là việc quản lý mạng lưới cửa hàng kinh doanh
thuốc BVTV. Hiện cả nước có 16.659 doanh nghiệp kinh doanh buôn bán thuốc
BVTV, tức trung bình mỗi tỉnh có 265 cơ sở. Song nhiều cơ sở tại các khu vực
đông dân cư xen kẽ thì không thể kiểm soát nổi.Qui trình hoạt động từ sản xuất
như vận hành máy móc, cho tới các khâu vệ sinh dụng cụ, trang thiết bị sản xuất
thuốc BVTV đều phát tán vào môi trường nhiều chất thải nguy hại nhưng giám
sát cho thấy, từ những khâu gia công, sang chiết, đóng gói thuốc BVTV ở các cơ
sở đều thiếu ý thức hoặc có ý thức nhưng cố tình không chịu đầu tư xây dựng hệ
thống xử lý nước thải, xả thẳng ra môi trường. Bên cạnh đó, các loại bao bì, vỏ
chai, lọ, thuốc BVTV lại chưa được coi là chất thải nguy hại nên không được xử
lý đúng qui trình. Trong nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cho biết, lượng
thuốc còn bám lại trên vỏ bao bì trung bình chiếm tới 1,85 % tỉ trọng bao bì.
Như vậy, dựa trên số lượng thuốc BVTV sử dụng hàng năm thì môi trường Việt
Nam đã ngẫu nhiên "đón nhận" khoảng 195 tấn thuốc BVTV. Lượng chất độc
này nếu đem ra cân đong đo đếm về tác hại tới sức khỏe con người là không thể
tính được. Song cả nước hiện có duy nhất 1 công ty đảm nhiệm việc xử lý chất
thải từ hóa chất độc hại này. Ngoài ra khi kiểm tra phát hiện không ít cơ sở sản
xuất thuốc BVTV sử dụng nguyên liệu nhập trôi nổi, ngoài danh mục cho
phép.Và rất phổ biến việc sử dụng công nghệ thiết bị lạc hậu, dây chuyền cũ kỹ,
chắp vá và thiếu đồng bộ, phát triển tự phát. Đáng lo ngại là việc lạm dụng
trong sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu trong nông dân vẫn tồn tại mà chưa thể
khắc phục.Vẫn còn có từ 30-60% mẫu rau còn tồn dư lượng hóa chất BVTV vượt
ngưỡng cho phép.

ra để giảm tác động của chất nguy hại cho con người và cho môi trường. Sau xử
lý, lượng chất thực sự phải thải bỏ cuối cùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ
sinh và an toàn. Do vậy ở mỗi giai đoạn phải có biện pháp quản lý thích hợp để
giảm thiểu tối đa nguồn chất thải nguy hại
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
III.1.1. Quản lý nguồn phát sinh chất thải ( giảm thiểu tại nguồn).
Giảm thiểu tại nguồn là giảm về số lượng hoặc độc tính của bất kỳ một
chất thải nguy hại nào đi vào dòng thải trước khi tái sinh, xử lý hoặc đưa vào
môi trường. Thông thường, có hai biện pháp chính để giảm thiểu chất thải tại
nguồn: thay đổi cách quản lý, vận hành sản xuất và thay đổi quá trình sản xuất.
Những cải tiến căn bản trong quản lý và vận hành sản xuất. Cải tiến
cách thức vận hành cần thực hiện trong tất cả các lĩnh vực: sản xuất, bảo trì
thiết bị, sử dụng và lưu trữ nguyên vật liệu thô, bảo quản sản phẩm; lưu trữ và
quản lý chất thải. Các nội dung cải tiến trong quản lý và vận hành sản xuất gồm:
Quản lý, lưu trữ nguyên vật liệu và sản phẩm.
Hình5: cán bộ Quản lý thị trường kiểm tra sản phẩm
Những cải tiến về điều độ sản xuất.
Tăng cường các phương pháp để quản lý khí thải, chất thải rắn, nước
thải trong nhà máy, như các nhà máy phải xây dựng một hệ thống xử lý khí thải,
các khâu khuấy trronj chiết chai cần được thực hiện trong hệ thống kín. Tại nhà
máy cần có hệ thống phan loại chất thải rắn, còn đối với vấn đề xử lý nước thải
thì toàn bộ nước thải nhà máy bvtv chứa hầu như bao gồm các loại thuốc bvtv
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
được sản xuất tại xí nghiệp do vậy chứa rất nhiều clo hữu cơ. Photpho hữu cơ…
nên cẩn có biện pháp xử lý thích hợp.
 Ngăn ngừa thất thoát và chảy tràn.
 Tách riêng các dòng chất thải.
 Huấn luyện nhân sự.
Hình 6: Một lớp tập huấn về thuốc BVTV
III.1.2. Thay đổi quá trình sản xuất

sản phẩm đã qua sử dụng để dùng tiếp, hoặc sử dụng một sản phẩm vào nhiều
mục đích.Có thể tái sử dụng bao bì tuy nhiên các bao bì được tái sử dụng cần
phải đảm bảo các yêu cầu về tính năng và các chi tiết kỹ thuật . Bao bì nào có
biếu hiện giảm độ bền thì không được sử dụng.
Tái sinh hoặc tái chế. Tái sinh, tái chế là quá trình chế biến chất thải tạo
thành sản phẩm mới được sử dụng như nguyên vật liệu của sản xuất hay sản
phẩm tiêu dùng nhằm tạo ra lợi nhuận và hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi
trường…Đó là quá trình tái chế bao bì thành bao bì mới nhưng có nhiều ưu
điểm vượt trội hơn như khả năng chịu được rung đọng hoặc hạn chế các phản
ứng xảy ra khi bị rò rỉ.
Phục hồi. Phục hồi là quá trình tạo lại các tính năng sử dụng của bao bì
phân bón, hoặc nắp chai thuốc bvtv như ban đầu.
Lợi ích
Tái sinh có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và nhiều
ngành công nghiệp do mang lại nhiều lợi ích như:
 Bảo tồn nguồn lực sản xuất, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm
nhu cầu sử dụng nguyên liệu thô cho sản xuất, làm giảm chi phí sản
xuất.
 Ngăn ngừa sự phát tán những chất thải độc hại vào môi trường.
 Cung cấp nguồn nguyên vật liệu có giá trị cho công nghiệp.
 Kích thích phát triển những quy trình công nghệ sản xuất sạch hơn.
 Tránh phải thực hiện các quá trình mang tính bắt buộc như xử lý
hoặc chôn lấp chất thải.Khi giảm nhu cầu xử lý sẽ dẫn đến giảm chi
phí xử lý chất thải.
Thứ tự ưu tiên lựa chọn phương pháp tái chế: Lựa chọn phương pháp tái
chế theo thứ tự sắp xếp ưu tiên dựa trên mức rủi ro có thể xảy ra như sau:
1. Tái chế hay tái sử dụng trong nhà máy
2. Tái sinh bên ngoài nhà máy
3. Bán cho mục đích tái sử dụng
4. Tái sinh năng lượng

- Ghi chép chỉ rõ nhãn hiệu và thành phần chính của thuốc cũng như thuốc
dùng cho loại côn trùng nào.
- Ghi rõ tên chủng của loại sâu, bệnh hay cỏ cần diệt.
- Ghi rõ thông tin về cán bộ kỹ thuật đề xuất sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
- Hồ sơ ghi rõ số lượng thuốc sử dụng hoặc lượng nước (hay các chất pha
chế khác), và liều lượng tính bằng g/l hay các đơn vị đo lường khác được
quốc tế công nhận.
- Ghi chép đầy đủ và chi tiết các loại máy móc sử dụng (nếu nhiều loại, cần
ghi riêng từng loại), và phương pháp sử dụng (đeo trên vai, lượng lớn,
U.L.V., qua hệ thống thuỷ lợi, rắc, phun sương, phun từ trực thăng hay
phương pháp khác.
- Ghi rõ ngày đầu của vụ thu hoạch. Ghi đầy đủ thời gian con người tiếp cận
lại vườn cây sau khi phun thuốc.
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
- Có các phương pháp để người dân nhận biết khi vào lại vườn sau khi
phun thuốc. Các loại thuốc BVTV và phân bón chỉ được lưu trữ tạm thời
trong những vị trí, khu vực đã được quy định.
- Các phương tiện bảo quản thuốc BVTV phải tuân thủ luật pháp và quy tắc
của nước sở tại và của địa phương.
- Kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật phải có cấu trúc tốt, có hệ thống khoá
an toàn, đủ thoáng khí để tránh hơi độc tích tụ trong trường hợp con
người phải vào kho) và phải có dủ ánh sáng tự nhiên cũng như nhân tạo
để bảo đảm cán bộ phụ trách có thể dễ dàng đọc nhãn hiệu khi vẫn để
nguyên sản phẩm trên giá.
- Kho giữ thuốc bảo vệ thực vật phải được xây bằng nguyên liệu chống cháy
(yêu cầu tối thiểu là chống được trong vòng 30 phút.
- Kho lưu trữ thuốc bảo vệ thực vật cách xa các nguyên liệu khác.
- Kho thuốc bảo vệ thực vật được trang bị hệ thống giá để không thấm
nước để tránh tình trạng xuống cấp do ẩm như: kim loại hoặc nhựa cứng.
- Kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật có các thùng chứa chống rò rỉ hoặc

đon vị vận chuyển và lưu trữ xử lý nếu không có giấy phép hợp lệ.
- Trước khi vận chuyển hay giao nhận các loại thuốc BVTV và phân bón
phải được đóng gói và dán nhãn theo quy định.
- Các cơ sở này cũng phải giao hàng đến đơn vị tiếp nhận tronh thời gian
ngắn nhất.
- Đơn vị dùng xe của mình để vận chuyển các sản phẩm phải tuôn thủ
nghiêm túc những quy định chung( rò rỉ, đổ vỡ và xảy ra tai nạn.)
- Đơn vị vận chuyển có nhiệm vụ làm sạch chat rơi vãi trên đường.
- Đơi với các phương tiện vận chuyển phải có nguyên tắc đặc thù riêng.
III.1.6. Quản lý việc lưu trữ tại các đại lý.
- Phải có khoảng cách an toàn từ khu lưu trữ đến khu nhà ở
- Không được lưu hóa chất cùng với thực phẩm
- Phải đảm bảo các tiêu chuẩn về phòng chống cháy nổ khi thiết kế kho lưu
trữ, vật liệu xây dựng kho phải có tính chịu lửa, có chỗ thoát hiểm, khoảng
cách an toàn ngăn cách cháy, có hệ thống báo cháy, phòng chữa cháy, đối
với vật liệu bằng thép phải được cách lửa.
- Kết cấu kiến trúc của kho lưu trữ phải có hệ thống thông gió tốt như các
hệ thống quạt, ống lùa, ống thông gió trên trần, tường, sàn.
- Sàn nhà khi lưu trữ phải có kết cấu chống thấm thích hợp, dễ lau chùi, hệ
thống thoát nước thích hợp.
- Người quản lý kho phải thuộc bảng hướng dẫn về công tác an toàn, công
tác an toàn trong kho, phải thuộc quy tắc an toàn và ứng cứu khi có sự cố.
- Có công tác bảo trì kho định kỳ, công việc này làm tăng tính an toàn tại
kho lưu trữ nhằm hạn chế các sự cố.
- Buôn bán thuốc phải có chứng chỉ hành nghề.
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
Hình 10 : Kiểm tra kinh doanh thuốc BVTV
Ngiêm cấm
- Buôn bán thuốc BVTV không có cửa hàng và kho chứa thuốc, hoặc có cửa
hàng nhưng không có kho chứa.

Cần có những quy định riêng đối với ngành sản xuất đặc thù này, từ
trước đến nay đều có tư duy chạy theo sau, tức là chỉ biết được hiện trạng gây ô
nhiễm môi trường khi nhà máy đã gây hậu quả, và tính hướng khắc phục, chứ
hầu như chưa có cái nhìn tổng quan kể từ khi cho phép xây dựng, bắt đầu di vào
hoạt động của nhà máy. Trước khi xây dựng một công trình thì hiện nay các nhà
quản lý môi trường có công cụ là đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nếu các
chỉ số đánh giá vượt chuẩn cho phép thì bắt buộc ngừng cấp hoặc không cấp
phép đăng ký kinh doanh, không được vì mục tiêu phát triển kinh tế trướt mà bỏ
qua việc ảnh hưởng đến môi trường.
Dùng các công cụ pháp luật để thực thi công tác bảo vệ môi trường, có
những chế tài đủ mạnh để nhằm răn đe, không tái phạm khi có những vụ vi
phạm môi trường sảy ra, nhưng biện pháp về kinh tế, thị trường như việc dừng
lưu thông hàng hóa khi nhà máy vi phạm môi trường, dừng tất cả các hoạy
động kinh doanh hay tước giấy phép kinh doanh khi vi phạm. Thực hiện các nghị
định, thông tư hướng dẫn của chính phủ, của các bộ, ban ngành liên quan một
cách sát sao, cần năm bắt kịp thời, thường xuyên kiểm tra các cơ sở sản xuất,
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
sang chiết thuốc BVTV, nắm bắt kịp thời những thông tin do người dân phản
ánh để kịp thời đưa ra biện pháp khắc chế được những hành vi vi phạm môi
trường.
Hình13 : Kiểm tra tem, nhãn đối với sản xuất thuốc BVTV
III.3.2 : Quản lý môi trường đối với người sử dụng:
Nhìn chung đa số đối tượng sử dụng thuốc là người nông dân, do đó họ
không có sự hiểu biết đúng đắn về mức độ nguy hiểm của thuốc BVTV đến con
người và sinh vật là như thế nào. Do vậy, khi đứng trên phương diện là nhà
quản lý thì cần phải có những việc làm đúng đắn.
Giáo dục , tuyên truyền sâu rộng hơn nữa cho nông dân về các loại thuốc
trừ sâu cũng như nhược điểm của chúng. Tác hại của việc dùng không đúng
thuốc, các phương pháo an toàn khi sử dụng thuốc và phun thuốc
Khuyến khích dử dụng các phương pháp phòng trừ dịch hại IPM để hạn

Hiện nay, khi mà đất nước đã có những cải thiện đáng kể về điều kiện kinh
tế, xã hội, thì việc chạy theo số lượng dần được người dân bỏ qua, thay vào đó là
việc quan tâm đến chất lượng cuộc sống ra sao, từ các sản phẩm dùng hàng
ngày như tốt ra sao, độc như thế nào cho đến không khí để thở, nước để uống…
đó chính là nhu cầu về một cuộc sống chất lượng, hay nhu cầu về một môi
trường chát lượng.
Ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay về cơ bản đang sử dụng một ngành
nông nghiệp sinh thái,nhưng còn nhiều lệ thuộc vào phân bọn và hóa chất BVTV,
Quản lý CTNH ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật.
vậy cần phải có cuộc cách mạng để cho nền nông nghiệp Việt Nam trở thành
một nền “ nông nghiệp xanh “ đúng nghĩa, ít lệ thuộc vào phân bón và hóa chất
BVTV, từ đó làm giảm thiểu áp lực lên ngành hóa chất sản xuất BVTV và sẽ có
kết quả là hạn chế hoặc không còn sự ô nhiễm do các nhà máy này gây ra nữa,
áp dụng các hình thức sản xuất xanh, sạch hơn, sử dụng các sản phẩm trừ sâu
từ thiên nhiên hay thân thiện hơn, có hàm lượng chất sám cao hơn, ví dụ như
việc chuyển đổi gen kháng sâu vào các giống cây trồng, sử dụng các loài thiên
địch như ong mắt đỏ, bọ rùa, bướm, chim để diệt sâu bọ, từ đó tạo dựng một nền
nông nghiệp hữu cơ bền vững, kể cả đối với môi trường và con người.
Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình Quản lý chất thải nguy hại : NXB Quốc gia TP HCM, Viện môi
trường và tài nguyên – IER: GS.TS. Lâm Minh Triết – TS. Lê Thanh Hậu
- Giáo trình sử dụng thuốc BVTV - PGS.TS. Nguyễn Trần Oánh (Chủ
biên)NXB : Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng trên rau
NXB : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Ô nhiễm đất NXB : Trường Đại học Cần Thơ, 2008
- Ebook: IPM - Hiểu biết về thiên địch ( nguồn internet: chưa xác định)
- Công nghệ sản xuất thuốc BVTV : Phan Phước Hiền Trường ĐH Nông lâm
TP HCM
- Luật bảo vệ môi trường của nước CHXHCN Việt Nam, 52/2005/QH11.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status