Báo cáo tốt nghiệp “Hoạt động huy động vốn tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần
Công Thương chi nhánh Hoàng Mai”
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGAN
HÀNG THƯƠNG MẠI, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại 6
1.1.1 khái niệm về NHTM 6
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 8
1.1.3.1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế 8
1.1.3.2 NHTM là cầu nối doanh nghiệp và thị trường 9
1.1.3.3 NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế 9
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của NHTM 10
2.3.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động vốn 43
2.3.2.1 Nguyên nhân chủ quan: 43
2.3.2.2 Nguyên nhân chủ quan: 45
CHƯƠNG III 49
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH HOÀNG
MAI 49
3.1 Vài nét về ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh
Hoàng Mai 49
3.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh 06 tháng đầu năm 51
3.1.2 Công tác tín dụng 52
3.1.3 Định hướng phát triển của ngân hàng công thương chi nhánh
Hoàng Mai 53
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại
Vietinbank chi nhánh Hoàng Mai 55
3.2.1 Phát triển và mở rộng mạng lưới giao dịch 55
3.2.2 Đổi mới hình thức quản lý cho phù hợp và hiệu quả hơn 55
3.2.3 Nâng cao dịch vụ của ngân hàng 56
3.2.4 Tiếp tục nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên 57
3.2.5 Hoàn thiện công nghệ Ngân Hàng 58
3.2.6 Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt 59
3.3 Một số kiến nghị với cơ quan cấp trên 60
3.3.1 Kiến nghị với chính phủ 60
3.3.2 Kiến nghị với Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 62
3.3.3 Kiến nghị với ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam
63
KẾT LUẬN 66
Chương II: Thực trạng về hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng
thương mại cổ phần công thương chi nhánh hoàng mai.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn
tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh hoàng mai.
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGAN HÀNG
THƯƠNG MẠI, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại
1.1.1 khái niệm về NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
các Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có một quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nhiệm vụ hoạt động
của nó rất đơn giản nhưng càng về sau theo đà phát triển của kinh tế hàng
hoá, tổ chức của các Ngân hàng cũng như nhiệm vụ của nó ngày càng phát
triển và hoàn thiện hơn.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động
chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tiếp nhận các khoản tiền nhàn rỗi trong
nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
chính là những người cung cấp đầu vào cho Ngân hàng và họ cũng chính là
người sử dụng sản phẩm đầu ra của Ngân hàng
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại
Ngay từ xa xưa người ta đã biết dùng tiền làm phương tiện thanh toán, làm
trung gian trao đổi hàng hoá. Thông qua tiền, việc trao đổi hàng hoá được tiến
hành một cách thuận lợi, dễ dàng hơn nhiều. Chính vì thế đã kích thích sản
xuất, đưa xã hội loài người ngày càng phát triển.
Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của tiền tệ ngày càng đươc phát
huy.Thương mại phát triển, một tầng lớp thương nhân giàu có ra đời và họ
cần có những nơi an toàn để gửi tiền . Những người nhận tiền gửi chủ yếu là
chủ tiệm vàng, họ nhận thấy: luôn có một lượng lớn tiền và vàng nhàn rỗi do
tiền và vàng người ta gửi vào luôn nhiều hơn tiền rút ra. Mặt khác lại luôn tồn
tại nhu cầu vay mượn để chi tiêu, đầu tư kinh doanh. Và những người giữ hộ
tài sản nghĩ đến việc sử dụng số tiền nhàn rỗi đó để cho vay kiếm lời. Và thay
vì thu phí giữ hộ người ta trả một khoản lãi cho người có tài sản đem gửi. Bên
cạnh đó người giữ hộ tiền cũng cho vay để thanh toán cho một người nào đó
bằng cách ghi nợ cho người vay tiền và ghi tăng tài sản cho người được thanh
toán. Và lúc các nghiệp vụ trên hình thành cũng là lúc ngân hàng xuất hiện.
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế
muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản
xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu về vốn của doanh
nghiệp, cá nhân luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải tìm đến những
nguồn vốn từ bên ngoài. Mặt khác lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình
tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác NHTM là chủ
thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn
vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng.
việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn
tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách
hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan
khác, Ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước
điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế.
Khi nhà nước muốn phát triển một nghành hay một vùng kinh tế nào
đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các
NHTM luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện
chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất, kéo dài thời
hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM Nhà nước cấp vốn
ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định.Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức nhà
nước thông qua NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền
kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc.
Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM thườmg đạt
hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử dụng.
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.4.1 Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng kinh doanh ngoại tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Hoạt động vay - hoạt động tạo nguồn vốn cho
Ngân hàng thương mại - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng
hoạt động của Ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn là hoạt động
thường xuyên của Ngân hàng thương mại. Một Ngân hàng thương mại bất kì
nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc huy động nguồn vốn. Đối
tượng huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn tiền nhàn rỗi trong các
tổ chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất,và chiếm tỷ trọng cao
nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách
hàng.
Các Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức
Một trong những nguồn vốn không kém phần quan trọng, là nguồn vốn
phát hành kì phiếu, trái phiếu. Việc phát hành kì phiếu hay trái phiếu phụ
thuộc vào quy mô vốn cần huy động , thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và
tài sản của Ngân hàng.
Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ
của Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các
nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng. Quy mô và cơ cấu
nguồn vốn quyết định đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó quản lí nguồn vốn
phù hợp và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược đối
với mỗi Ngân hàng
1.1.4.2 Hoạt động sử dụng vốn
Khi đã huy động được vốn rồi, nắm trong tay một số tiền nhất định thì
các Ngân hàng thương mại phải làm như thế nào để hiệu quả hoá những
nguồn này, nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi,
đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Và
hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng bằng những cách sau: Ngân hàng đã tài
trợ lại cho nền kinh tế dưới dạng các thành phần kinh tế vay, hoặc Ngân hàng
đầu tư trực tiếp, Ngân hàng tham gia góp vốn cùng kinh doanh hay cho thuê
tài sản,Ngân hàng gửi tiền tại các Ngân hàng khác- tại Ngân hàng Nhà nước-
những tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng đầu tư trên thị trường chứng khoán ,
Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho Ngân hàng
và có thể bán đi để ra tăng ngân quỹ khi cần thiết Những đối tượng tài trợ
không chỉ có các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động trong lĩnh vực thương
mại mà còn có cả các cá nhân tiêu dùng, thậm chí Chính phủ cũng được Ngân
hàng tài trợ dưới những hình thức : Ngân hàng thương mại mua tín phiếu kho
bạc, trái phiếu của chính phủ trên thị trường tiền tệ. Sự phát triển của hoạt
động cho vay, đã giúp Ngân hàng có vị trí ngày càng quan trọng trong sự phát
triển của nền kinh tế. Hơn nữa thông qua hoạt động cho vay, Ngân hàng
thương mại có khả năng “tạo tiền” hay mở rộng lượng tiền cung ứng. Tuy
nhiên hoạt động cho vay của Ngân hàng chứa đựng nhiều yế tố rủi ro nên
uỷ thác của khách hàng.
1.1.4.3 Ngân hàng thực hiện các dịch vụ tài chính trung gian
Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động sử
dụng vốn thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian
cho khách hàng của mình. Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian
bởi vì khi thực hiện các hoạt động này Ngân hàng không đứng vai trò là con
nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về
dịch vụ mà khách hàng cần.
Ngày nay, các dịch vụ của Ngân hàng không ngừng phát triển cả về số
lượng và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng. Hoạt động trung gian
gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách
hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản
này từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một Ngân hàng hay ở hai
Ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính,
dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch vụ chi lương cho các doanh
nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động. Đây là những khoản chi thường
xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời
gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt.
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát
triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện
nghiệp vụ trung gian mang tính dịch sẽ đem lại cho Ngân hàng những khoản
thu nhập khá quan trọng. Điều cần lưu ý là dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp Ngân
hàng phát triển toàn diện.Tại các nước phát triển, các Ngân hàng thương mại
cạnh tranh với nhau bằng con đường “phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ
mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng, không ngừng tìm tòi những dịch vụ
mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển,
thể hiện xã hội càng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển. Lợi nhuận
các Ngân hàng không chỉ ở nghiệp vụ cho vay, mà phân nửa từ các hoạt động
dịch vụ mang lại, nhưng lại là lĩnh vực ít rủi ro.
vốn lớn sẽ có thế mạnh trong kinh doanh. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên
trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Ngoài vai trò là cơ sở để ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh,
vốn còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và các
hoạt động khác của NHTM. Vốn tự có của ngân hàng ngoài viẹc sử dùng để
mua sắm TSCĐ, trang thiết bị, góp vốn liên doanh Vốn tự có của ngân hàng
là căn cứ để giới hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ bao gồm cả hoạt động
tín dụng. Việc quy định tỷ lệ cho vay, tỷ lệ huy động vốn trên vốn tự có của
NHTƯ thể hiện vai trò quản lý, điều tiết thị trường của nhà nước, để đảm bảo
an toàn hệ thống ngân hàng và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người
gửi tiền.
Qua những quy định của NHTƯ đối với NHTM ta thấy vốn tự có quyết
định đến khả năng cấp tín dụng, huy động vốn của NHTM vì thế những
NHTM có vốn tự có lớn thì quy mô tín dụng càng lớn và ngược lại. Không
những vốn tự có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà vốn huy động cũng
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng và hoạt động khác .Vốn tự có rất
quan trọng nhưng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, vốn huy
động chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng tiến hành
các hoạt động kinh doanh do đó ngân hàng nào có nguồn vốn huy động càng
lớn thì khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và các hoạt động khác càng
được mở rộng.
Vốn là một nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nhất là trong hoàn cảnh nước ta có nền kinh tế kém phát triển và khoa học kĩ
thuật còn lạc hậu so với thế giới thì vốn lại càng đặc biệt quan trọng. Đảng ta
đã nhận định không chỉ trông chờ vào vốn bên ngoài mà phải “phát huy cao
độ nguồn nội lực” để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng nền
kinh tế phát triển mạnh và cân đối giữa các nghành. Mục tiêu tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với xây dựng một thị trường tài chính hoạt động có hiệu
quả, trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế, thông
qua chức năng là trung gian luân chuyển và huy động vốn cho đầu tư phát
lựa chọn khéo léo cách thức tạo vốn tối ưu cho nền kinh tế "mở" đang tăng
trưởng tích cực ở nước ta. Vì thế cần xác định rõ ràng nguyên nhân của các
hạn chế và thành công trong quá trình tạo vốn cho công nghiệp hoá- hiện đại
hoá ở một số nước không nằm trong việc sử dụng nguồn vốn nào mà chính
việc chọn mô hình tăng trưởng kinh tế và hoạch định thực thi các chính sách
kinh tế vĩ mô trong đó có chiến lược huy động vốn và sử dụng vốn mà nước
đó theo đuổi.
Hơn bao giờ hết, nhiệm vụ tạo vốn phục vụ cho công nghiệp hoá- hiện đại
hoá đất nước đang là thách thức rất lớn đối với tất cả các ngành, các cấp trong
đó có ngành ngân hàng. Khó khăn đối với nền kinh tế nước ta hiện nay là
ngân sách Nhà nước vẫn còn bị thâm hụt, thị trường tiền tệ phát triển chậm
chạp, một lượng vốn nhàn rỗi khá lớn trong nền kinh tế mà ngân hàng vẫn
chưa tận dụng khai thác hết; mức độ đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro
trong hoạt động kinh doanh tiền tệ còn thấp, môi trường pháp lý chưa kiện
toàn hoàn chỉnh; trình độ quản lý nợ và viện trợ nước ngoài, đầu tư xây dựng
cơ bản còn bất cập; sức cạnh tranh về hàng hoá về thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam trên thị trường quốc tế còn hạn chế. Do vậy để khắc phục
những khó khăn trên, chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá mà ngân
hàng tiếp tục triển khai sẽ căn cứ vào quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay về công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Trong đó vấn đề phát triển khoa
học công nghệ trên cơ sở dựa vào nguồn lực trong nước, đi đôi với mở rộng
và hợp tác quốc tế nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực bên ngoài mà quan
trọng nhất là cần đa dạng hoá mọi nguồn vốn cho công nghiệp hoá- hiện đại
hoá theo định hướng đề ra.
1.2.2 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại.
1.2.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu.
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng ( được pháp luật cho phép) chủ ngân
hàng phải có một lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử
dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn
Vay thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định cao
cho ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các dự án, tài
trợ cho trang thiết bị và bất động sản của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và ổn định vĩ
mô, sau đến là các kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo tính thanh
khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay. Mặc dù lãi suât
thường cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng vẫn phải sử dụng phát hành
giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp ứng được những yêu cầu như
ổn định, quy mô đủ lớn trong thời gian xác định.
1.2.2.3 Huy động qua phát hành các lạo giấy tờ có giá.
Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu
tố không thể thiếu được. Các NHTM cạnh tranh nhau về lãi suất huy động
đến lãi suất cho vay. Trong lĩnh vực huy động vốn các NHTM phải luôn luôn
tìm các biện pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu
cầu sử dụng vốn của mình. Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền
thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để
huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu,
trái phiếu ngân hàng đã ra đời. Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác
nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ. Kỳ phiếu được phát hành
thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6 12 tháng. Trái phiếu thường có kỳ
hạn lớn hơn 1 năm.
Việc phát hành kỳ phiếu , trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy
động được đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử
dụng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao
do ngân hàng phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống.
1.2.2.4 Huy động qua tiền gửi của các tổ chức kinh tế
a)Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân
hàng nhưng khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn
đảm bảo yêu cầu này.
lãi rất cao cho nguồn vốn này.
1.2.2.6 Các Quỹ
Ngân hàng có nhiều các quỹ khác nhau, mỗi quỹ được sử dụng vào những
mục đích nhất định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng. Các
quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn hình thành các
quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:
- Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cường số vốn tự có ban
đầu.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quỹ này được
trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
- Ngoài ra còn có các quỹ đặc biệt khác như: quỹ khen thưởng, quỹ
phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ giám đốc,…
Dự phòng rủi ro: Dự phòng rủi ro tín dụng được các NHTM trích lập từ
thu nhập trước hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia) theo một tỷ lệ
nhất định nào đó. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết cho hoạt
động Ngân hàng, vì trong nền kinh tế thị trường không thể tránh khỏi những
rủi ro bất khả kháng có thể xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để
bù đắp.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI
NHÁNH HOÀNG MAI
2.1 Tổng quan về ngân hàng công thương
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Vietinbank
Ngân hàng công thương Việt Nam tên viết tắt là Vietinbank, là ngân