Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
Hoa Kỳ.”
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ từ
năm 2000 đến nay
Chương 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang
thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT
MAY VIỆT NAM VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỆT MAY HOA KỲ
1.1. Tìm hiểu chung về xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu
1.1.1. Tìm hiểu chung về xuất khẩu
Trong lý luận Thương mại Quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho
nước ngoài. Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF) thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Nếu các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu trong nước không
đổi, thì giá trị xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và tỉ giá hối đoái. Nếu
như thu nhập của nước ngoài tăng (tăng trưởng của nước ngoài tăng tốc) thì giá trị xuất
khẩu có cơ hội tăng. Nếu tỉ giá hối đoái tăng (đồng tiền trong nước mất giá so với ngoại
tệ) thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng vì giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi.
Trong thời gian qua, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng lên khá nhanh
và bền vững qua các năm.
20.61
2004 26485.0
31.44
2005 32447.1
22.51
2006 39826.2
22.74
2007 48560.4
15.15
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ4
Từ bảng 1.1, có thể thấy giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian
qua tăng trưởng khá nhanh và bền vững.
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
5
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị
sản xuất kinh doanh.
Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời
sống của nhân dân: trước hết, việc sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao động
vào làm việc và có thu nhập không thấp. Đó còn là nguồn tạo vốn để nhập khẩu vật phẩm
tiều dùng phục vụ đời sống và làm phong phú thêm những nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân.
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của đất
nước: Chúng ta có thể thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua
lại và phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Có thể hoạt động
xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điều kiện thúc đẩy các
quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc
đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặc khác, chính các quan hệ
kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng dệt may Việt Nam
Đầu tiên, chúng ta biết Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời trong lĩnh vực
sản xuất hàng may mặc. Lý do đơn giản là vì Việt Nam có chiều dài lịch sử 4000 năm,
hơn nữa Việt Nam lại là nước có khí hậu khá phù hợp để trồng các loại nguyên liệu sản
xuất hàng may mặc.
Thứ hai, Việt Nam có lao động dồi dào và nhân công giá rẻ. Trong khi đó, dệt may
là ngành cần nhiều lao động. Vì thế, đây là một yếu tố có tác động tích cực trong quá trình
sản xuất hàng dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, năng suất lao động trong ngành dệt may
Việt Nam chưa cao. Vì thế không phải lúc nào đây cũng là một lợi thế để chúng ta có thể
cạnh tranh về giá thành sản phẩm.
có rủi ro xảy ra. Nếu rủi ro xảy ra, hoạt động sản xuất ngay lập tức sẽ gặp nhiều khó khăn
và do đó khó có thể duy trì và ổn định trong thời gian tiếp theo.
•
Chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay là thúc đẩy xuất khẩu và dệt
may được xác định là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Do đó hoạt động sản
xuất dệt may cũng gặp nhiều thuận lợi từ các chính sách của Nhà nước.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Đầu tiên, lại là yếu tố lao động, Việt Nam tuy có lao động dồi dào và giá nhân
công rẻ nhưng chất lượng không cao. Kéo theo đó là năng suất thấp nên giờ công trên một
đơn vị sản phẩm có khi lại còn cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Vì vậy trong xuất
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ7
khẩu chúng ta chưa phát huy được tối đa khả năng cạnh tranh về giá thành sản phẩm trên
các thị trường.
Thứ hai, vai trò của các cơ quan xúc tiến thương mại ở Việt Nam cũng như trên
các thị trường nước ngoài chưa được phát huy một cách triệt để. Vì thế nhiều khi các
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam không hiểu rõ về thị trường và luật pháp nước bạn
nên gặp phải một số khó khăn. Trong thời gian tới, hàng dệt may của Việt Nam trên thị
trường Euro (EU) và Hoa Kỳ rất có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị kiện bán phá giá.
Điều này sẽ gây khó khăn lớn cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu thị trường vào loại ít nhất thế giới.
Điều này sẽ gây trở ngại lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như hoạt động xuất
khẩu dệt may của Việt Nam ra thị trường thế giới nếu có bất cứ một trục trặc nào. Do
chính thức của WTO vào ngày 11/01/2007, Việt Nam cũng được Hoa Kỳ dỡ bỏ hạn
ngạch. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam càng có cơ hội lớn để đẩy mạnh xuất khẩu
hàng dệt may sang những thị trường này.
1.3. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
1.3.1. Đặc điểm của ngành dệt may
1.3.1.1. Phân loại sản phẩm của ngành
Ngành công nghiệp dệt may bao hàm rất nhiều các ngành hàng: từ khâu đầu cung
cấp nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng là sợi, vải, hàng may mặc, các chuyên ngành
phục vụ cho công nghiệp dệt may như hóa chất, thuốc nhuộm, máy móc thiết bị Ba loại
sản phẩm chính của ngành là sợi, vải, và hàng may mặc.
a. Phân loại sản phẩm sợi theo nguồn gốc
- Sợi có nguồn gốc thực vật:
• Sợi bông (sợi 100% cotton) gồm hai loại: Sợi chải kỹ, chi số cao và sợi chải thô, chi
số thấp.
• Tơ tằm.
• Sợi tổng hợp hay sợi nhân tạo (ví dụ: sợi Polyeste, xơ visco) được sản xuất chủ yếu
từ phụ phẩm của ngành hóa dầu.
• Sợi pha (sợi pha bông với các thành phần khác như PE, PA, PV…).
b. Phân loại sản phẩm vải
- Có thể phân loại theo loại sợi cấu thành vải (tương tự như phân loại sợi ở trên) thành vải
sợi bông, vải sợi tơ tằm, vải sợi tổng hợp… Cũng có thể phân loại theo kiểu dệt như sau:
• Vải dệt thoi
• Vải dệt kim
• Vải không dệt
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
đoạn nhỏ, chi tết (cắt, ráp, may) hoàn toàn bằng máy một cách chính xác trên loại nguyên
liệu mềm và dễ xô lệch như vải là rất khó khăn và nếu có làm được thì chi phí cũng rất
cao.
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ10
Do đó, ngành dệt may là ngành thu hút rất nhiều nhân công, ở Việt Nam số lượng
lao động hoạt dộng trong ngành dệt may lên đến 2 triệu người, tức là khoảng hơn 4% lực
lượng lao động cả nước và chiếm khoảng 27% lao động công nghiệp trên toàn quốc
1.3.1.4. Hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Công nghiệp dệt may Việt Nam là ngành công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư không
lớn, công nghệ không quá phức tạp, suất đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh rất phù hợp với tổ
chức quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ, vì thế công nghiệp dệt may so với các
ngành công nghiệp khác có suất đầu tư thấp hơn rất nhiều (đặc biệt thấp hơn hàng chục
lần so với các ngành công nghiệp nặng như điện, cơ khí, luyện kim…). So sánh ngay
trong ngành công nghiệp sản xuất ra hàng tiêu dùng, suất đầu tư của ngành dệt may (đặc
biệt là ngành may) cũng thấp hơn nhiều so với các ngành khác như ngành giấy, ngành da
giày…
Hơn nữa, do tính đặc thù sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm trong thời gian ngắn
nên thời hạn thu hồi vốn đầu tư đối với ngành dệt may cũng ngắn hơn nhiều so với những
ngành khác. Thông thường, thời gian thu hồi vốn đối với ngành dệt là 12 – 15 năm, ngành
may là 5 – 7 năm, trong khi đó đối với các ngành công nghiệp khác thời gian thu hồi vốn
là trên 15 năm, thậm chí là hàng chục năm, chẳng hạn như công nghiệp thép. Hơn nữa,
lĩnh được thị trường về tiêu dùng thiết yếu ở trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu như chế
biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, da giầy, điện tử và một số sản phẩm cơ khí và hàng
tiêu dùng trong toàn quốc…”
Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người
dân trong nước, mặc dù Việt Nam là một nước đông dân và nhu cầu về hàng may mặc rất
lớn.
• Phục vụ nhu cầu tiêu dùng to lớn trong nước
Việt Nam là quốc gia có dân số đông thứ 13 thế giới (hơn 80 triệu người). Vì thế
nhu cầu về hàng dệt may của Việt Nam vô cùng lớn. Tuy vậy, do thu nhập thấp nên nhu
cầu hàng may mặc của Việt Nam chủ yếu là những loại hàng hóa thông thường, giá phải
chăng. Nắm bắt nhu cầu đó, trong thời gian gần đây, ngành dệt may không ngừng mở
rộng sản xuất, nâng cao năng suất, số lượng và chất lượng cũng như tìm cách hạ giá thành
sản phẩm, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước.
• Tạo sản phẩm xuất khẩu chủ lực
Phương hướng của hầu hết các nước trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa là phát
triển những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, Việt Nam cũng không phải là
ngoại lệ. Ngành dệt may Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò ngành hàng xuất khẩu chủ lực
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ12
trong những năm qua. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua
tăng trưởng nhanh và ổn định. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong nhiều năm
qua luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Không chỉ có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu, việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng dệt may còn góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia
Bên cạnh đó, phát triển ngành dệt may một cách đồng bộ có bao gồm phát triển các
vùng nguyên liệu mà cụ thể ở nước ta là các vùng trồng bông, trồng dâu nuôi tằm. Đây là
những loại cây công nghiệp quan trọng, việc phát triển nó không những đảm bảo nguyên
liệu cho ngành dệt mà còn tạo điều kiện đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng trong nông nghiệp, vá vỡ tình trạng độc canh về cây lúa, chuyển sang trồng các
loại cây công nghiệp có giá trị cao hơn trong điều kiện tự nhiên của địa phương. Bên cạnh
đó, nghề trồng dâu, nuôi tằm cũng là nghề truyền thống lâu đời của nhân dân ta, vì vậy
phát triển nguyên liệu tơ tằm là hoàn toàn có tính khả thi. Sợi tơ tằm là loại sợi có giá trị
cao trên thị trường cả trong và ngoài nước, phát triển các vùng trồng dâu nuôi tằm không
chỉ giúp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp mà còn giúp
phục hồi và phát triển các làng nghề truyền thống với những sản phầm dệt may độc đáo,
đặc trưng của vùng và có giá trị rất cao trên thị trường. Ngoài ra phát triển các vùng trồng
nguyên liệu sẽ tạo điều kiện phát triển công nhiệp chế biến nguyên liệu thô như dập, cán
bông.
1.4. Giới thiệu chung về thị trường dệt may Hoa Kỳ
1.4.1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ
Trong thời gian đầu và khoảng giữa thế kỷ XX, trong khi nền kinh tế châu Âu và
châu Á bị tàn pháp nặng nề do hậu quả của hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ 2,
thì kinh tế Hoa Kỳ lại phát triển mạnh.
Kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Hoa Kỳ
chiếm 42% GNP toàn cầu, đồng thời Hoa Kỳ cũng chiếm tới 54.6% về tổng sản lượng
công nghiệp, 24% xuất khẩu và 74% dự trữ vàng so với toàn thế giới.
Nhờ có nền kinh tế hùng mạnh và phát triển, Hoa Kỳ đã bỏ vốn thành lập các tổ
chức tài chính tiền tệ như Ngân hàng thế giới (WB), quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), sau đó
thành lập công ty Tài chính Quốc tế IFC vào năm 1954, Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA)
năm 1960, Ngân hàng Á châu (ADB) vào năm 1966, Công ty đầu tư đa biên (MIGA) năm
1990…
Với sự tài trợ của Hoa Kỳ, nhiều tổ chức hoạt động kinh tế và thương mại ra đời
như GATT, các tổ chức khác của Liên hợp quốc: UNDP, FAO, UNIDO…
d. Về dịch vụ
Ngành dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong GDP của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là
nước chi phối nhiều loại hình dịch vụ trên thế giới như dịch vụ tài chính, thông tin, du
lịch, giải trí (các sản phẩm âm nhạc của Hoa Kỳ chiếm đến 30% tổng giá trị giao dịch các
sản phẩm này trên thế giới), đồ ăn nhanh, giải khát…
e. Chính sách đối ngoại
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ15
Hoa Kỳ xây dựng hệ thống thương mại và thị trường thế giới trên cơ sở các nguyên
tắc, sáng kiến của Hoa Kỳ, các nguyên tắc ngày được thể chế hóa bằng các hiệp định của
WTO. Hoa Kỳ dùng cơ chế của WTO buộc các nước khá phải thực hiện các cam kết song
phương và đa phương, thực hiện mở của các thị trường mà Hoa Kỳ có lợi thế cạnh tranh
hoặc Hoa Kỳ độc quyền.
Đối với các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang trong quá trình
chuyển đổi như Nga, Việt Nam, Trung Quốc, các nước SNG, các nước Đông Âu cũ…
Hoa Kỳ thi hành chính sách “cây gậy và củ cà rốt”, vừa gây sức ép, vừa có những chính
sách hỗ trợ ưu đãi để thông qua các hiệp định song phương và đa phương buộc các nước
này cải tổ nền kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, đẩy nhanh hội nhập để đảm bảo lợi ích
ổn định và lâu dài về tài chính, thương mại, đầu tư cho Hoa Kỳ.
f. Vài nét về thị trường Hoa Kỳ
Có thể nói, Hoa Kỳ là một trong những thị trường lớn nhất toàn cầu, với dân số
đông thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Trong năm 2006, thu nhập bình quân
đầu người của Hoa Kỳ đạt khoảng 38.200 USD/người/năm (theo US Cencus Bureau), và
với GDP là 13.194,7 nghìn tỷ USD (theo Bureau of Economic Analysis). Hoa Kỳ là một
2001
10.128,0 3,17
2002
10.469,6 3,37
2003
10.960,8 4,69
2004
11.685,9 6,62
2005
12.433,9 6,5
2006
13.194,7 6,03
2007
13.843,8 3,78
(Nguồn: US Bureau of Economic Analysis)
Nhìn vào bảng số liệu trên, chúng ta có thể thấy tốc độ tăng GDP của Hoa Kỳ
trong giai đoạn 2000 – 2007 rất ổn định. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ
trong hai năm 2001 và 2002 có thấp hơn so với các năm khác. Nguyên nhân chính là vì
ảnh hưởng của vụ khủng bố ngày 11/9/2001. Nhưng điều này cũng cho thấy khả năng ổn
định nền kinh tế rất tốt của Hoa Kỳ, bằng chứng là ngay sau đó, tốc độ tăng trưởng GDP
của Hoa Kỳ lại ổn định và còn vượt mức trước khi bị khủng bố.
Hoa Kỳ cũng là nước có GDP cao nhất trên thế giới. Hoa Kỳ luôn là nước đứng
Hoa Kỳ khác với dân châu Âu, người Hoa Kỳ vốn rất thực dụng, nên họ vẫn rất ưa
chuộng những hàng hóa giá rẻ. Hơn nữa, mức sống của người dân Hoa Kỳ cũng rất đa
dạng, Hoa Kỳ là một đất nước giàu có nhưng không phải không có người nghèo, thậm chí
rất nhiều. Đây lại là một điểm khiến cho Hoa Kỳ là một thị trường có thể tiêu dùng nhiều
loại mặt hàng với chất lượng khác nhau và chủng loại cũng vô cùng phong phú. Vì thế, đó
chính là cơ hội cho tất cả các đối tác buôn bán và làm ăn với Hoa Kỳ.
Có thể nói, Hoa Kỳ là một thị trường đầy hứa hẹn, một thị trường tiềm năng mà
nhiều quốc gia vươn tới.
1.4.2. Tổng quan về thị trường dệt may Hoa Kỳ
1.4.2.1. Về thị trường
Hoa Kỳ là một đất nước có rất nhiều tầng lớp dân cư sinh sống, đó chính là một
điểm khác biệt lớn so với thị trường EU hay Nhật Bản và các thị trường khác. Do có nhiều
STT
Quốc gia GDP (triệu USD)
1 Hoa Kỳ 13.201.819
2 Nhật Bản 4.340.133
3 Đức 2.906.681
4 Trung Quốc 2.668.071
5 Anh 2.345.015
6 Pháp 2.230.721
7 Italia 1.844.749
8 Canađa 1.251.463
Singapore lại giảm. Cho đến nay, Việt Nam đang là nước đứng thứ 7 về xuất khẩu hàng
dệt kim vào thị trường Hoa Kỳ.
Sau khi hạn ngạch hàng dệt may được bãi bỏ, nhập khẩu từ các nước xuất khẩu
hàng dệt may có chi phí thấp như Trung Quốc và Ấn Độ tăng mạnh. Bên cạnh hàng nhập
khẩu từ Trung Quốc, hàng may mặc dệt kim nhập khẩu từ Ấn Độ cũng tăng 37,91% so
với năm 2004, lên 937 triệu USD.
Cũng theo US Department of Commerce, nhập khẩu hàng may mặc dệt thoi vào thị
trường Hoa Kỳ trong năm 2005 đạt 37.514 tỉ USD, tăng 6,3% so với năm 2004. Trung
Quốc cũng là nước đứng đầu về xuất khẩu hàng may mặc dệt thoi vào thị trường Hoa Kỳ
với kim ngạch xuất khẩu đạt 10.231 tỉ USD, tăng 54,57% so với năm 2004, chiếm
27,27% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc dệt thoi của Hoa Kỳ. Tiếp theo là
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ19
Mêhicô và Ấn Độ với kim ngạch xuất khẩu tương ứng đạt 3.841 tỉ USD và 2.121 tỉ USD.
Trong khi xuất khẩu của Mêhicô giảm 7,13%, thì xuất khẩu của Ấn Độ lại tăng tới
32,75% so với năm 2004.
• Dung lượng thị trường
Doanh thu bán lẻ hàng may mặc trên thị trường Hoa Kỳ năm 2003 đã tăng 1,9% so
với năm 2002, đạt 115,5 tỉ USD và tăng khoảng 2,1%/năm trong giai đoạn 2004 – 2008,
lên 121,2 tỉ USD.
Dù mức tăng lượng hàng tiêu thụ bị chững lại do xu hướng suy giảm thu nhập
nhưng giá sản phẩm dệt may cũng có xu hướng giảm do một số nhà sản xuất Hoa Kỳ đã
1.4.2.2. Về tình hình sản xuất và lao động trong ngành dệt may Hoa Kỳ
Ở Hoa Kỳ, nếu như trong 10 năm (từ 12/1984 đến 12/1994), sản lượng ngành dệt
tăng 32,3%, may mặc tăng 2,2%, thì trong 10 năm 10 tháng tiếp theo đó (từ 12/1994 đến
10/2005), ngành dệt đã giảm 22%, may mặc giảm tới 51,7% (Theo Bộ Công nghiệp Việt
Nam).
Về lao động, từ 12/1994 đến 10/2005, 2 ngành này đã mất tới 907.900 việc làm
(giảm 58,3%). Tính đến tháng 10/2005, dệt may Hoa Kỳ chỉ còn duy trì được tổng cộng
648.600 việc làm.
Trong những tháng nửa sau 2005, sản xuất dệt may nội địa Hoa Kỳ đã có một số
dấu hiệu phục hồi yếu ớt. Sản lượng dệt tháng 10/2005 tăng 2,4% kể từ 5/2005; sản lượng
may mặc tháng 9/2005 tăng 4,3% kể từ 5/2005. Đây cũng là mức tăng lớn nhất (tính theo
chu kỳ 4 tháng) kể từ tháng 6/1994. Một trong những nguyên nhân có thể do Chính phủ
Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp tự vệ đối với 10 cat hàng dệt may của Trung Quốc (tháng
4/2005). Với việc đạt được thoả thuận về dệt may với Trung Quốc vào đầu tháng
11/2005, sản xuất trong nước của Hoa Kỳ còn hồi phục nhẹ trong năm 2006.
Số liệu thống kê của Hoa Kỳ năm 2005 cho thấy ưu thế trên thị trường hàng dệt
may nhập khẩu Hoa Kỳ sau thời điểm 1/1/2005 đã thuộc về các quốc gia châu Á như
Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Hàn Quốc, các nước ASEAN và thị phần
của ngành sản xuất dệt may nội địa Hoa Kỳ luôn trên đà thu hẹp.
Như vậy, thấy trước nguy cơ khó cạnh tranh được với nhập khẩu dệt may từ các
nước đang phát triển thuộc châu Á, Phi và Mỹ Latinh có chi phí nhân công thấp, giá thành
rẻ, Hoa Kỳ đã từ rất sớm thực hiện các chính sách kiềm chế nhập khẩu. Tuy thế các chính
sách này đã không cứu được sản xuất dệt may trong nước khỏi liên tục sa sút trước sức
cạnh tranh quá mạnh của hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển.
Toàn cầu hóa khiến sụt giảm sản xuất trong nước ở những ngành cần lao động giản
đơn như may mặc là một xu thế tất yếu ở những nước phát triển như Hoa Kỳ. Các chính
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
Thuế hàng hóa nhập khẩu được tính trên các cơ sở:
- Mã hàng hóa tính thuế
- Thuế suất
- Trị giá tính thuế
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ22
1.5.1.1. Danh mục điều hòa thuế quan Hoa Kỳ
Mã hàng hóa tính thuế và thuế suất đối với các hàng hóa nhập khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ được xác định thông qua “Danh mục điều hòa thuế quan Hoa Kỳ” (Harmonized
Tariff Schedule of the United States of America (HTS)). HTS giải thích hệ thống mô tả và
mã số hàng hóa, liệt kê tất cả các loại thuế suất của tất cả các loại hàng hóa đánh vào tất
cả các nước. Để xác định chính xác thuế suất áp dụng cho mặt hàng cần tìm, cần xác định
đúng mô tả hàng hóa và thuế suất áp dụng cho mặt hàng đó.
Thuế suất nhập khẩu vào Hoa Kỳ được xác định theo một trong ba phương pháp cơ
bản sau:
- Thuế suất trị giá (ad varolem rate): Là một tỷ lệ % xác định của trị giá hàng hóa, đây
là loại thuế suất được áp dụng phổ biến nhất.
- Thuế suất đặc định (specific rate): là thuế suất thể hiện bằng một số tiền nhất định
trên mỗi đơn vị số lượng hoặc trọng lượng, loại thuế suất này được áp dụng cho hàng
nông sản.
- Thuế suất phối hợp (compound rate): là loại thuế suất áp dụng kết hợp cả hai phương
pháp trên.
Mức thuế suất HTS được chia thành hai cột:
- Cột 1: hàng hóa có xuất xứ từ các nước đang được hưởng quan hệ thương mại bình
1.5.1.2. Giá tính thuế
Giá tính thuế là giá giao dịch (theo quy định của GATT). Giá giao dịch ở đây
không phải là giá trên hóa đơn mà phải cộng thêm nhiều chi phí khác như chi phí đóng
gói, tiền hoa hồng cho trung gian nếu người mua phải trả, tiền máy móc thiết bị nhà nhập
khẩu cung cấp cho nhà sản xuất… Giá giao dịch để tính thuế không tính phí vận chuyển
và bảo hiểm lô hàng nên hàng hóa mua trên cơ sở CIF thì phần chi phí cho bảo hiểm và
vận tải sẽ được trừ đi trong giá tính thuế của hàng hóa.
Ngoài thuế nhập khẩu ra hải quan Hoa Kỳ còn thu các loại phí sau:
- Phí xử lý hàng hóa: 0,21% trị giá hàng hóa
- Phí cầu cảng: 0,125% trị giá hàng hóa
1.5.2. Hạn ngạch nhập khẩu
1.5.2.1. Khái niệm, phân loại và cách thực hiện hạn ngạch nhập khẩu
Đối với các nhà xuất khẩu có ý định xuất hàng sang Hoa Kỳ, nhất là các sản phẩm
dệt may, một trong những điều cần quan tâm đầu tiên là hàng của mình có bị hạn chế
không cho nhập hay chỉ cho nhập một số lượng giới hạn nào đó mà thôi.
Hạn ngạch nhập khẩu là những quy định của Chính phủ nhằm kiểm soát và giới
hạn số lượng hay giá trị một loại hàng hóa nào đó được nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ
trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân SơnGiải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ24
Có hai loại hạn ngạch: Hạn ngạch tuyệt đối (absolute quota) và hạn ngạch thuế
quan (tariff – rate quota).
- Hạn ngạch tuyệt đối giới hạn số lượng một loại hàng hóa nhất định được phép nhập
khẩu hàng năm. Nếu số lượng nhập đã lên đúng chỉ tiêu cho phép thì số hàng hóa vượt
25
Nếu số lượng hàng hóa cập cảng ít hơn số lượng ghi trong visa thì hàng vẫn được
phép nhập khẩu và số lượng hàng nhập khẩu thực tế sẽ được trừ vào hạn ngạch áp dụng.
Số lượng chênh lệch không được tính cho lô hàng khác.
Hàng hóa sẽ không được nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nếu: số hiệu visa,
chủng loại hàng, số lượng hàng hóa, đơn vị tính, chữ ký, ngày cấp visa không đầy đủ, bị
thay đổi, không hợp lệ hoặc thiếu chính xác.
Visa không được chấp thuận sẽ cần có một visa mới, phù hợp do cơ quan có thẩm
quyền trực thuộc Chính phủ Việt Nam cấp, hoặc có văn bản miễn trừ visa (visa waiver).
Văn bản miễn trừ visa do Bộ Thương mại Hoa Kỳ cấp theo yêu cầu của Đại sứ quán Việt
Nam tại Washington.
Hải quan Hoa Kỳ sẽ không trả lại visa không được chấp thuận sau khi hàng hóa đã
được nhập khẩu. Tuy nhiên, sẽ cung cấp một bản sao có giá trị của hóa đơn thương mại đã
được cấp visa.
1.5.3. Quy định về xuất xứ hàng dệt may
1.5.3.1. Các quy tắc chung
a. Hoàn toàn được sản xuất: Xuất xứ là nơi sản phẩm dệt hoặc may 100% được sản xuất
hay chế tạo ở nơi đó.
b. Sợi bao gồm cả sợi đơn và sợi tổng hợp: Xuất xứ sợi, chỉ, sợ xe, hay dây tết… được
xác định như sau:
- Đối với xơ sợi chưa xử lý – là địa điểm xe sợi.
- Đối với sợi tơ – là nơi sợi được sản xuất ra.
c. Vải: xuất xứ vải là nơi vải được dệt, đan, kết, ép… lại qua các quy trình sản xuất vải
khác.
d. Các sản phẩm dệt may khác: xuất xứ của tất cả mọi sản phẩm dệt may khác là nơi mà
các thành phần của nó được lắp ráp hoàn chỉnh (trừ các bộ phận nhỏ như khuy, chuỗi hạt,
… hoặc các bộ phận lắp ráp nhỏ như cổ, cổ tay áo, túi…).
e. Quy tắc áp dụng trong trường hợp sản xuất ở nhiều nước