tiểu luận: Tiềm năng phát triển du lịch và hiện trạng khai thác tài nguyên ở Hà Tây - Pdf 11


1

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: “Tiềm năng phát triển du lịch và
hiện trạng khai thác tài nguyên ở Hà Tây.” 2
LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, tỉnh Hà Tây đã ý thức được rằng MỤC LỤC

Lời mở đầu 1
I. Tình hình chung của Sở du lịch Hà Tây 3
1. Cơ cấu tổ chức của Sở 4
2. Tổng số doanh nghiệp du lịch và khách sạn của tỉnh Hà
Tây
6
II. Tình hình hoạt động kinh doanh của Sở du lịch Hà Tây các
năm 1997, 1998, 1999.
11
1. Kết quả một số công tác du lịch năm 1999 13
a. Về công tác quy hoạch 13
b. Về công tác kế hoạch 14

4
2. Phương án nhiệm vụ năm 2000 15
III. Tiềm năng phát triển du lịch và hiện trạng khai thác tàI
nguyên ở Hà Tây
16
1. Tiềm năng 16
2.Hiện trạng khai thác tàI nguyên du lịch ở Hà Tây 25


động trong ngành, giữ gìn được bản sắc dân tộc.
1. Cơ cấu tổ chức của Sở du lịch Hà Tây
Sau khi được thành lập thì tổng số cán bộ của Sở chỉ có 9
người, đến nay số cán bộ của Sở là 17 người bao gồm:
 Giám đốc Sở: Phụ trách chung về công việc của Sở
 Hai phó giám đốc:
Phó giám đốc phụ trách về kế hoạch quy hoạch và nghiệp vụ.
Phó giám đốc phụ trách về tổ chức hành chính, nội chính.
 Phòng kế hoạch, quy hoạch và tổng hợp.
 Phòng nghiệp vụ kỹ thuật - thanh tra.
 Phòng tổ chức hành chính.
 Lãnh đạo của Sở bao gồm:
Giám đốc Sở: Là người điều hành công việc theo chế độ một
thủ trưởng, do đó giám đốc Sở chịu trách nhiệm hoàn toàn các hoạt
động của Sở du lịch Hà Tây trước cơ quan chủ quản của mình là Uỷ
ban nhân dân tỉnh và Tổng cục du lịch.
Hai phó giám đốc: Giúp việc cho giám đốc, được giám đốc
phân công trong một số lĩnh vực quản lý chuyên môn. Một phó giám

6
đốc được uỷ nhiệm chịu trách nhiệm về kế hoạch, quy hoạch và
nghiệp vụ, còn một phó giám đốc chịu trách nhiệm về tổ chức cán bộ,
nội chính. Khi thực hiện các công việc của giám đốc giao cho, phó
giám đốc sử dụng quyền hạn của giám đốc để giải quyết công việc và
phải chịu trách nhiệm trước giám đốc về công việc được giao
 Các phòng ban của Sở bao gồm:
Phòng kế hoạch, quy hoạch và tổng hợp phụ trách các công việc:
Xây dựng kế hoạch và quy hoạch phát triển du lịch trên phạm vi
tỉnh; Khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì giám đốc Sở quản lý
và hướng dẫn theo dõi việc kiểm tra thực hiện.

định của Nhà Nước về công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ an ninh quốc
phòng và an toàn trật tự xã hội, công tác phòng cháy chữa cháy và các
mặt công tác khác nhằm đảm bảo an toàn cho cơ quan.
Ngoài những nhiệm vụ chính trên đây, các phòng còn có nhiệm
vụ khác được giám đốc Sở giao cho.
Qua việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở du lịch Hà Tây
có thể thấy rõ bộ máy của Sở được hoạt động theo chế độ một thủ
trưởng. Theo đó, phó giám đốc giữ vai trò giúp việc tham mưu cho
giám đốc. Các phòng ban chịu sự quản lý cũng như chịu trách nhiệm
trực tiếp trước giám đốc về công việc được giám đốc giao cho. Cơ cấu
tổ chức bộ máy của Sở có thể được mô hình hoá như sau:

SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QỦAN
LÝ CỦA SỞ DU LỊCH HÀ TÂY
Giám đốc

8


về tổ chức hành chính,
n

i chính

Phòng nghiệp vụ
kỹ thuật - thanh tra
Phòng t


ch

c
hành chính
Phòng kế hoạch,
quy hoạch và tổng
hợp

9
Công ty dịch vụ du lịch thương mại công đoàn bao gồm các
đơn vị trực thuộc: Tại trụ sở liên đoàn lao động; Nhà nghỉ công đoàn
số 2; Nhà nghỉ công đoàn Chùa Hương.
Công ty TNHH Phú Thọ
Doanh nghiệp khách sạn Sông Nhuệ.
Nhà hàng ăn uống Cầu An.
 Tại Mỹ Đức bao gồm :
Công ty du lịch thắng cảnh Hương Sơn.
Nhà nghỉ Hoàng Long.
Công ty thuỷ sản và dịch vụ du lịch Mỹ Đức.
 Tại Sơn Tây bao gồm :

đời thì các nhà khách, nhà nghỉ đó của Hà Tây cũng được chuyển sang
kinh doanh khách sạn du lịch. Theo đó, các nhà khách, nhà nghỉ đều
phải đảm bảo được các điều kiện như:
Phải có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ,
công nhân viên theo đúng quy định của quyết định trên.
Được hoạt động theo giấy phép thành lập doanh nghiệp
được quy định tại nghị định 388/HĐBT/ ngày 20/11/1991.
Trong danh sách quản lý của Sở du lịch Hà Tây có một doanh
nghiệp liên doanh với Thái Lan là công ty TNHH Thung Lũng Vua
(Sơn Tây). Đây là kết qủa tất yếu của cơ chế mở cửa của nước ta hiện
nay nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài và Việt Nam để khai thác
một cách có hiệu quả các tiềm năng du lịch của nước ta, góp phần tích
cực vào phát triền nền kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng,
đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay của
Đảng và Nhà Nước ta.

11
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀN NGÀNH DU LỊCH HÀ TÂY CÁC NĂM 1997, 1998, 1999
.
BẢNG 1: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HÀ TÂY QUA CÁC NĂM 1997, 1998, 1999. TT Chỉ tiêu



885.000

771.742

87,2

999.900

1.002.440

100,3

Trong đó:
Khách quốc tế Lượt 27.350

45.400

166,0

46.000

thu
Triệu 85.000

89.136

104,9

106.000

102.464

96,7

120.000

123.000

102,5

Trong đó:
Khu vực NN Triệu 7.000

94.464

98,4

108.000

109.800

102,0

3 Nộp ngân sách Triệu 2.971

3.900

131,3

5.000

4.150

89,0

6.000

7.540

125,7 13

2. Kết quả một số công tác du lịch năm 1999.
Năm 1999 là năm thứ 6 kể từ khi Sở du lịch Hà Tây bẵt đầu chính thức
đi vào hoạt động. Sau 6 năm hoạt động, đặc biệt từ khi chuyển về trụ sở chính
thức từ năm 1996 thì nhìn chung các chỉ tiêu của ngành đều tăng theo các
năm. Điều này cho thấy sự tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực quản lý du lịch về
mặt Nhà Nước của Sở trong những năm qua.
a. Về công tác quy hoạch.
Trong những năm qua, Sở du lịch Hà Tây đã kết hợp với Sở kế hoạch
và Đầu tư, các Sở, Ban, Ngành và Uỷ ban nhân dân các huyện, thi xã tiến
hành hoàn chỉnh các quy hoạch chi tiết phát triển du lịch tại các vùng, các địa
phương trong tỉnh; Đôn đốc các huyện, thị xã và các doanh nghiệp khẩn
trương xây dựng các dự án khả thi làm hạt nhân cho việc khai thác có hiệu
quả nguồn tài nguyên du lịch của mỗi địa phương.
Khu vực Ba Vì : Đã hoàn thành quy hoạch phát triển du lịch huyện Ba
Vì mà trung tâm là hồ Suối Hai; Đề nghị tỉnh phê duyệt quy hoạch du lịch
huyện Ba Vì và tham gia ý kliến xây dựng quy hoạch khu du lịch sinh thái
Suối Mơ, Thiên Sơn Thác Ngà, vườn quốc gia Ba Vì.
Khu vực thị xã Sơn Tây : Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển thị xã Sơn
Tây; Xây dựng dự án phát triển khu du lịch Đồng Mô đến năm 2010; Dự án
khả thi trùng tu thành cổ, làng Việt cổ, Đường Lâm - đền Phùng Hưng, lăng
Ngô Quyền.
Thị xã Hà Đông : Hoàn chỉnh khách sạn Sông Nhuệ đưa vào hoạt động
tháng 12/1999, đề nghị Uỷ ban nhân dân thị xã xây dựng tuyến du lịch Sông
Nhuệ và khu nghỉ dưỡng hồ Văn Quán.
Huyện Quốc Oai : Đã xây dựng xong quy hoạch tổng thể khu du lịch
chùa Thầy thời kỳ năm 2000 - 2010 trình tỉnh phê duyệt; Đẩy nhanh tiến độ
thực hiện dự án sân golf (Phú Mãn).

15
Huyện Chương Mỹ : Đã xây dựng xong quy hoạch khu du lịch Núi

Nộp NSNN : 8.000.000.000đ. Biện pháp thực hiện:
Sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà Nước kinh doanh du lịch theo tinh
thần chỉ thị 20/1998/CT-TTg ngày 21/04 của Thủ tướng chính phủ
Lập phương án, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà Nước về du lịch trên
địa bàn toàn tỉnh. Trước hết, cần tập trung lai các trung tâm du lịch của tỉnh là
Đồng Mô - Sơn Tây, Hương Sơn - Mỹ Đức và thị xã Hà Đông đã tổ chức
thành một số doanh nghiệp Nhà Nước làm nền tảng trên thương trường du
lịch của tỉnh, có đầy đủ sức mạnh về tài chính, vật chất để tham gia có hiệu
quả vào thị trường du lịch trong tỉnh, trong nước và trong khu vực.
Đồng thời với việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà Nước cần củng cố
và giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà Nước trong ngành du lịch, đẩy
mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà Nước về du lịch theo tinh thần nghị
định 43 của Chính phủ.
Phối hợp với các ban ngành có liên quan và các cấp chính quyền địa
phương nghiên cứu cơ chế quản lý đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh tham gia kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh đảm bảo sự thống nhất
quản lý về mặt Nhà Nước; Khai thác một cách tối đa nhân lực của các thành
phần kinh tế nhằm xã hội hoá ngành du lịch; Giúp đỡ và thu hút các tập thể,
cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vốn vào du lịch Hà Tây.
Đẩy mạnh xúc tiến du lịch, quảng bá tuyên truyền về du lịch Hà Tây.
Phối hợp với các ngành văn hoá thông tin; Báo; Đài phát thanh truyền
hình tỉnh, huyện, thị xã và các cơ quan tuyên truyền nhằm quảng bá các
chương trình và hoạt động về du lịch của Hà Tây .
Triển khai quy chế phối hợp liên ngành du lịch Việt Nam văn hoá
thông tin.

17

a. Khí hậu: Khí hậu của Hà Tây chịu ảnh hưởng của nền khí hậu
chung của miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông
khô lạnh với các đặc trưng chế độ chính sau đây:
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động trong khoảng
23oC - 24oC. Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm nay đến tháng 3 năm sau với
nhiệt độ trung bình xấp xỉ 23oC. Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 - tháng 10, với
nhiệt độ trung bình khoảng trên 23oC, nhiệt độ cao nhất vào khoảng 41oC,
nhiệt độ trung bình cao nhất khoảng 28,3 oC.
Chế độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình từ 80% - 85%. Trong vùng,
tháng ẩm nhất là tháng 3 và tháng 9 với độ ẩm trung bình cao nhất từ 86% -
89%. Các tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11 và tháng 12 với độ ẩm khoảng
80% - 81%, độ ẩm cao nhất tuyệt đối là 92% và độ ẩm thấp nhất tuyệt đối là
12%.
Chế độ bốc hơi: Lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng núi từ
1600mm đến 1800mm. Còn ở vùng đồng bằng tả sông Tích và phía đông các
huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức khoảng 1.400mm đến 1.600mm.
Lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian, thấp
nhất ở Hà Đông và cao nhất ở Yên Bình. Hoạt động của gió mùa trong vùng
đã phân chia thành 2 mùa là mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 - tháng 6, lượng mưa mùa này thường rất
lớn, chiếm 85% - 90% lượng mưa cả năm. Mưa lớn thường tập trung ở các
tháng 8, tháng 9, tháng 10.
Mùa khô: Kéo dài từ tháng 7 - tháng 9. Lượng mưa mùa này chỉ chiếm
từ 10% - 15% lượng mưa của cả năm, tháng mưa ít nhất là tháng 1 và tháng 2.
Tuy vậy, do đặc điểm địa mao nên Hà Tây được chia thành 3 vùng có
khí hậu khác nhau tương đối rõ rệt.

19
Vùng đồng bằng: Do độ cao trung bình từ 5m - 7m, có chế độ khí hậu
của đồng bằng sông Hồng. Vùng này chịu ảnh hưởng của gió biển, khí hậu

Địa hình Núi + Karst sót: Khu vức Ba Vì với đỉnh cao nhất là 1.287m,
núi đá vôi phân bố thành những cụm nhỏ trong khu vực núi Che xóm Mít,
suối Ma.
c. Thuỷ văn
Nước mặt: Được sông Hồng bao bọc ở phía Đông, sông Đà ở phía
Bắc,với lượng nước tính toán sơ bộ hàng năm khoảng 180 tỷ m3 - 200 tỷ m3.
Các dòng sông lớn chủ yếu chảy ra Hà Tây như: Hệ thống sông Đà, sông
Đáy, sông Tích, sông Thanh Trà.
Nước ngầm: Vùng đồng bằng nước ngầm dồi dào, vùng đồi núi chưa có
đầy đủ được tư liệu về nước ngầm, song sơ bộ nhận thấy vùng này nằm trong
vùng địa chất thuỷ văn Tây Bắc Bộ nên lượng nước ngầm tương đối theo từng
hệ địa chất. Khoan thăm dò thuỷ địa chất ở Hoà Lạc cho thấy ở độ sâu 70m -
80m đã gặp tầng nước ngầm.
Nước dưới đất trong các lỗ hổng của Trầm Tích nguồn gốc của sông Lũ
Tích chủ yếu phân bố ở Chương Mỹ, Trung Sơn và Xuân Mai.
Nước dưới đất trong các khe nứt - Cactơ của Trầm Tích triat thống
trung, điệp đồng giao.
Nhìn chung tài nguyên nước của Hà Tây là rất dồi dào, có khả năng
khai thác tốt phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. Việc khai thác
nước phục vụ du lịch chủ yếu tập trung ở các hồ như hồ Đồng Mô, hồ Ngãi
Sơn, hồ Suối Hai, hồ Quan Sơn và một số các dòng sông.
Khó khăn chủ yếu là lượng nước phân bố không đồng đều trong năm và
mâu thuẫn giữa một số ngành trong việc sử dụng nước hồ.
d. Sinh vật.
Hà Tây có các ngành thực vật đó là: Ngành lá Thông, ngành Dương Xỉ,
ngành Hạt Trầm, ngành Hạt Kín.

21
Theo thống kê của viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, thực vật Hà
Tây chủ yếu ở vùng Ba Vì và Hương Sơn 164 họ, 577 chi và 937 loài.

yếu là dân tộc Mường.
Lao động 1,1 triệu người trong dó gần 80% lao động, tốc độ phátt riển
lao động hàng năm là 2%/năm. 1/3 dân số có nghề thủ công nghiệp với
117.000 lao động có tay nghề.
Trong suốt quá trình lịch sử của đất nước và của dân tộc, thời kỳ nào ở
Hà Tây cũng xuất hiện những con người kiệt xuất cho dân tộc như: Hai Bà
Trưng (những năm 40), Lý Bí (thế kỷ 6), Phùng Hưng, Phùng KhảI (thế kỷ 8),
Ngô Quyền (thế kỷ 10), Tô Hiến Thành (thế kỷ 12), Nguyễn Phi Khanh,
Nguyễn Trãi (thế kỷ 14), Ngô Sĩ liên (thế kỷ 15), Đốc Ngữ, Lương Văn Can,
Phạm Dung Tốn (thế kỷ 19), Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn
Văn Huyền (thế kỷ 20).
Theo thống kê của bộ văn hoá thông tin năm 1998 thì tỉnh đứng thứ ba
trong cả nước về số lượng di tích lịch sử (sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà
Nội) với 326 di tích đã được xếp hạng, 2.388 di tích các công trình đương đại.
Điều quan trọng hơn là nhiều di tích lịch sử quý giá gắn với lịch sử phát triển
của dân tộc trong đó nổi bật là hệ thống chùa chiền và đền thờ cổ, các làng
nghề truyền thống. Mật độ di tích được thông qua bảng sau theo số liệu của
năm 1993.
BẢNG 2: SỐ LƯỢNG VÀ MẬT ĐỘ DI TÍCH CỦA TỈNH HÀ
TÂY NĂM 1993 PHÂN THEO HUYỆN THỊ.

STT Các huyện thị Diện tích
(km2)
Số lượng
(di tích)
Mật độ
(di tích/km2)
1 Hà Đông 16,47 10 60,7
2 Hoài Đức 124,09 39 31,4
3 Đan Phượng 76,59 20 26,1

Ngoài ra còn có làng nghề truyền thống về khảm trai, chạm khắc,
sơn điển hình là làng Chuông (Chương Mỹ - Phú Xuyên)

24
Hà Tây cũng là nơi có vốn văn hoá truyền miệng và văn học viết tay
phong phú gắn với vùng đất văn hoá lịch sử. Đặc biệt là nghệ thuật múa rối
nước ở hội chùa Thầy mang bản sắc dân tộc độc đáo, tạo điều kiện thu hút du
khách.
Sự phân bố các danh lam thắng cảnh di tích của Hà Tây mà nổi bật là 2
vùng quần thể là Hương Sơn và Ba Vì rất hấp dẫn du khách.
Cụm thắng cảnh Hương Sơn với hệ thống kiến trúc từ thế kỷ 17,
18 như: Chùa Tháp, Thiên Trù, Thiên Thuỷ, Long Vân, Tuyết Sơn, Động
Hương Tích, Thiên Bồng Hương Sơn đang có quy hoạch đề nghị UNESCO
công nhận Hương Sơn là một trong những danh thắng của thế giới.
Cụm thắng cảnh Ba Vì với những địa danh như: Núi Ba Vì cao
hơn 1000m với diện tích đền thờ Tản Viên Sơn Thánh, thác Ao Vua gắn với
huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, hồ Suối Hai là nơi nghỉ mát đẹp, hồ Đồng
Mô với hệ thống khách sạn, sân golf. Trong tương lai đây là khu văn hoá du
lịch của các di tích Việt Nam.
Cả hai quần thể trên đây đều gần đường giao thông, cách Hà Nội 50km.
Cùng với hai quần thể đó, ở trên 6 huyện thị còn có hàng trăm di tích,
đền, chùa, tháp, thành quách nổi tiếng như:
Ba Vì: Đình Tây Bằng, đình Chu Quyền, đình Thanh Luỹ.
Thị xã Sơn Tây: Thành Sơn Tây, lăng Ngô Quyền, lăng Phùng
Hưng, đền Giang Văn Minh, đình Đường Lâm.
Huyện Thạch Thất: Đình Tường Phiên, đình Hạ Hiệp, đình
Phùng, đình Song Phượng, chùa Tây Phương, chùa Hữu Bằng, chùa Một Mái,
chùa Trăm Gian, chùa Dương Liên, đền Sấu Giá.
Quốc Oai: Quần thể chùa Thầy, động Hoàng Xá.
Chương Mỹ: đình Tốt Động, đình Yên Nhân, đình An Thượng,

nhiều diễn biến đáng lo ngại, nếu không có biện pháp ngăn chặn và tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status