Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây du lịch là một trong những ngành kinh tế quan
trọng của nước ta . Nó mang lại một nguồn thu ngân sách lớn không những
thế du lịch còn tạo lên những mối quan hệ và giao lưu văn hoá giữa nước ta
và các nước trên thế giới . Do đó vấn đề phát triển du lịch cần được quan tâm
hàng đầu .
Chúng ta có đủ các điều kiện để đa dạng hoá các loại hình du lịch từ du
lịch thăm quan, nghi mát, tắm biển, leo núi, thể thao đến nghiên cứu khoa học
và có khả năng tiếp nhận một số lượng du khách lớn .
Về mặt tự nhiên Việt Nam có phong cảnh thiên nhiên phong phú với
những cảnh đẹp nổi tiếng được thế giới công nhận như Vịnh Hạ Long, Phong
Nha Kẻ Bàng, Đà Lạt …có đường bờ biển kéo dài trên một nghìn km (thuận
tiện cho việc phát triển du lịch nghỉ biển) với diện tích rừng che phủ lớn và hệ
thống thảm động vật và thực vật đa dạng nhiều chủng loại trong đó có nhiều
loại động vật , thực vật được ghi vào sách vở.
Bên cạnh những tiềm năng tự nhiên, Việt Nam còn có một kho tàng văn
hoá lịch sử phong phú với 4000 năm dựng nước và giữ nữớc của cha ông ta
với những vật chứng lịch sử còn sót lại như các di tích khảo cổ hoc, các di
tích lịch sử qua các triều đại đang được bảo tồn và phát triển , ngoài ra còn có
các giá trị văn hoá truyền thống như các lễ hội: lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ),
hội chùa Dâu (Bắc Ninh), hội chùa Cổ Lễ (Nam Định), chùa keo (Thái Bình) .
Trong hệ thống các nguồn tài nguyên phục vụ cho việc phát triển du lịch
văn hoá có một tài nguyên hết sức quan trọng mà dường như từ lâu đã bị mai
một đó chính là các lễ hội dân gian Việt Nam. Các lễ hội đại diện cho nền văn
minh nông nghiệp lúa nước thể hiện các mặt tinh thần, tín ngưỡng tôn giáo,
vật chất của cư dân công nghiệp.
Với mục tiêu làm rõ ý nghĩa vai trò của lễ hội dân gian trong việc phát
triển du lịch văn hoá ở Việt Nam em chọn đề tài nghiên cứu : “Tiềm Năng
Phát Triển Du lịch Lễ Hội Dân Gian Ở Việt Nam”.
cả những người đi làm ăn xa quê đều quay về để xem hội . Trong lễ hội họ
cầu mong sự tốt lành sẽ đến như mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu… còn
đối với những người làm ăn buôn bán họ cầu mong buôn bán sẽ được thuận
buồm xuôi gió sức khoẻ dồi dào . Lễ hội không chỉ là một hình thức tín
ngưỡng, tôn giáo mà lễ hội còn là dịp để mọi người hướng về những sự kiện
trọng đại của đất nước như ngày 30-4 ,2-9 … do đó lễ hội có tính hấp dẫn cao
đối với du khách . Bất cứ một lễ hội nào cũng bao gồm hai phần : Phần lễ và
phần hội
-Phần lễ (hay con gọi la nghi lễ) : tuỳ theo tính chất của lễ hội mà nội dung
của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng. Có thể phần lễ mở đầu ngày hội mang tính
tưởng niệm hướng về một sự kiện trọng đại, tưởng niệm một vị anh hùng dân
tộc cũng có thể phần lễ là nghi thức thuộc về tín ngưỡng tôn giáo bày tỏ lòng
tôn kính đối với bậc thánh hiền và thân linh cầu mong điều tốt lành trong cuộc
sống
Phần nghi lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng chứa đựng những giá trị
truyền thống tốt đẹp, giá trị thẩm mĩ và triết học sâu sắc của cộng đồng. Nó
mang chọn ý nghĩa hấp dẫn của cả lễ hội đối với du khách . Phần nghi lễ là
phần hạt nhân của cả lễ hội
3
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
-Phần hội: gồm các trò chơi giải trí hết sức phong phú, xét về nguồn gốc
phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ nhưng ước vọng thiêng liêng của
con người nông nghiệp : xuất phát từ ước vọng cầu mưa là các trò chơi tạo ra
tiếng nổ môn phỏng tiếng sấm vào các hội mùa xuân để nhắc nhở trời mưa
như thi đốt pháo, đi thuyền đốt pháo, ném pháo, đánh pháo đất … xuất phát từ
ước vọng cầu cạn là các trò chơi như thả diều vào mùa hè mong gió lên, nắng
lên để nước lụt mau rút xuống. Xuất phát từ ước vọng phồn thực là các trò
chơi cướp cầu thả lỗ, đánh đáo, ném còn, bắt chạch trong chum … xuất phát
từ ước nguyện luyện rèn sự nhanh nhẹn tháo vác, khéo léo là các trò chơi thi
2.2. Đặc điểm của lễ hội dân gian ở Việt Nam
Việt Nam ở tận cùng phía đông nam nên thuộc loại văn hoá nông nghiệp
điển hình . Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên , nghề trồng trọt buộc
người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên , ra hoa kết trái và thu
hoạch . Do cuộc sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp
có ý thúc tôn trọng và ước vọng sống hoà hợp với thiên nhiên chính vì thế các
lễ hội dân gian ở Việt Nam hình thành từ nền nông nghiệp lúa nước để phục
vụ chính cuộc sống sản xuất , sinh hoạt của người nông dân , do vậy khi nói
đến các lễ hội dân gian của vùng thực chất là nói đến các lễ hội nông nghiệp
và các lễ hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của nhịp điệu mùa sản xuất .Lịch sinh
hoạt của các lễ hội dân gian được xác định bởi nông nghịch của một tiểu vùng
.Các nông lịch lại được hình thành trên cơ sở những đặc điểm của điều kiện
khí hậu ,địa lý tự nhiên lên các lễ hội dân gian ở Việt Nam được diễn ra theo
thời tiết . Lễ hội thường được mở tập trung vào hai mùa quan trọng nhất của
một năm sản xuất nông nghiệp đó là đầu mùa sản xuất (gieo , cấy ) và cuối
mùa sản xuất ( mùa thu hoạch và gặt hái ) .
Lễ hội tái hiện cuộc sống sinh hoạt của người dân .Chúng phản ánh tâm tư
tình cảm và nguyên vọng của những người nông dân trồng lúa Việt Nam hầu
hết các lễ hội được phân bố theo không gian .Ở nông thôn hay thành thị đều
có lễ hội chúng được phân bố đều vào các ngày , tháng trong năm do thời tiết
và các vụ thu hoach ở mỗi vùng khác nhau lên các lễ hội được tổ chức vào
ngày tháng khác nhau vì thế mà ở việt nam ngày nào cũng có lễ hội .
5
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Lễ hội ở Việt Nam mang tính mở nó không chỉ giới hạn ở một địa phương
cụ thể mà nó còn lan rộng ra các địa phương lân cận tạo lên các lễ hội vùng
nhất là các lễ hội lớn như lễ hội đền Hùng, Chùa Hương, hội lim.Lễ hội là nơi
diễn ra các hoạt động giao lưu văn hoá giữa cư dân địa phương vỡi khách du
lịch và ngược lại nó tạo ra sự giao thoa văn hoá giữa các vùng.ngoài ra lễ hội
không phải cho một cái nhân nào đó cũng chính vì điều đó mà lễ hội được lưu
truyền chủ yếu qua trí nhớ chứ không phải chữ viết , nên quá trình sản xuất
(sáng tạo) ra lễ hội cũng đồng thời là quá trình nó được phân phối đến từng
người và tiếp nhận tiêu thụ nó. Lễ hội được ra đời chính là lúc kết thúc các
hoạt động lễ hội .
Tóm lại, do được cấu thành bởi sự tham gia của nhiều chủng loại văn hoá
dân gian khác nhau mà lễ hội mang trong nó mọi đặc điểm đặc thù của văn
hoá dân gian .Vì thế muốn tìm hiểu được văn hoá dân gian Việt Nam chúng ta
không thể không tìm hiểu các lễ hội dân gian ở Việt Nam , và để phát triển
loại hình văn hoá ở Việt Nam không thể bỏ qua được một tài nguyên hết sức
quan trọng đó là lễ hội dân gian .
7
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Phần II : Lễ hội dân gian với phát triển du lịch văn hoá ở
Việt Nam
1.Khái quát về du lịch văn hoá
Theo luật du lịch Việt Nam thì du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào
bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hoá truyền thống mục đích chính của du lịch văn hoá là
nâng cao sự hiểu biết qua các chuyến du lịch về những vùng đất mới, về lịch
sử, kiến trúc, chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của địa phương
đất nước đến .
Ngày nay xu thế quốc tế hoá và hội nhập ngày càng cao trong đó có lĩnh
vực văn hoá việc phát huy và bảo tồn nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản săc
dân tộc, tiếp thu nền văn hoá mới là việc làm quan trong đối với mỗi quốc gia.
Nhu cầu tìm kiếm kiến thức văn hoá nhân loại về những miền đất lạ là một
nhu cầu bức thiết đối với nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội .
Du lịch văn hoá vừa là phương tiên vừa là mục đích của kinh doanh du
lịch. Du lịch văn hoá nhằm chuyển biến các giá trị văn hoá, các giá trị vật chất
rất ít . Thể loại du lịch cụ thể của loại hình du lịch này la du lịch công vụ
Tuy nhiên việc phân loại du lịch văn hoá thành các loại hình trên chi là
tương đối. Vì trong một chương trinh du lịch thường được kết hợp nhiều hoạt
động khác nhau như kết hợp du lịch dã ngoại với du lịch văn hoá, or du lịch
săn bắn… Trong một chuyến hành trinh nhằm tránh gây cho khách cảm giác
nhàm chán .
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch tiềm năng vì nó ít chịu sự chi phối của
yếu tố thời vụ du lịch (thời tiết, khí hậu) nhưng nó phụ thuộc vào đặc điểm
của nhân khẩu học: Trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo
của du khách .
+Trình độ học vấn : Những người có trình độ học vấn cao họ thường có
nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh nâng cao sự hiểu biết nên động cơ đi du
lịch văn hoá cao không những thế họ còn là những người có khả năng thanh
toán cao vì họ thường có địa vị cao trong xã hội, thu nhập cao… khi phuc vụ
9
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
đối tượng này các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch phải chú ý
đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ
+Độ tuổi: Thăm quan chủ yếu các chuyến du lịch văn hoá vẫn là các khách
có độ tuổi cao và thanh niên. Đối với kháck có độ tuổi cao họ thường có thời
gian rảnh rỗi có kinh nghiệm trong việc đi du lịch, họ thích tìm hiểu về âm
nhạc nghệ thuật quần chúng, các món ăn đậm đà tính dân tộc… và họ quan
tâm rất nhiều đến chất lượng dịch vụ. Đối với khách du lịch là thanh niên đây
là nhóm có số lượng đông, có các đặc trưng như :ưa khám phá, thích tìm tòi,
muốn thử sức mình, thích đi xa, thích tự do, thích thay đổi điểm du lịch và đi
thành nhóm lẻ…do đó họ có xu hướng tính mới mẻ đa dạng trong dịch vụ du
lịch, họ có khả năng thanh toán thấp, có ít kinh nghiệm trong khi đi du lịch,
họ thường quan tâm đến giá cả nhưng ít quan tâm đến vấn đề chất lượng dịch
vụ. Đối với khách có độ tuổi trung niên họ thường là những người có khả
Thông qua những chương trình du lịch lễ hội nhằm giới thiệu với du khách
một cách khá sinh động hơn về đất nứớc con người Việt trong quá khứ và
hiện tại, giới thiệu những nét đặc trưng những giá trị văn hoá tín ngưỡng được
thể hiện trong lễ hội .Đến với lễ hội du khách được cộng hưởng niềm vui với
cái vui của lễ hội, được hoà mình vào phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp đươc
chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc cách đây hàng thế kỷ
Ở Việt Nam lễ hội là hoạt động sinh hoạt tổng hợp mang tính du lịch có từ
ngàn đời nay . Du lịch lễ hội phát triển sẽ góp phần quan trọng trong việc dữ
gìn và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc . Những yếu tố di sản văn hoá được
khuyến khích trong du lịch sẽ là cơ sở phát triển du lịch bền vững và tạo điều
kiện thu hút khách du lịch ngày càng đông
3. Một số lễ hội tiêu biểu ở Việt Nam
3.1.Lễ hội đền Hùng
11
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba
Câu ca dao trên đã ăn sâu vào tâm trí của những người dân Việt Nam . Là
người Việt Nam dù ở quê hương hay phiêu bạt nơi đâu cứ mỗi độ xuân sang,
ai cũng hướng lòng mình về miền đất tổ vùng đất trung du thơ mộng thuộc xã
Huy Cương , huyện Phong Châu, Phú Thọ, nơi cội nguồn của dân tộc, nơi cả
năm con cháu cả nước về dự giỗ tổ Hùng Vương
Trước lúc vào hội mời bạn đến thăm những di tích lịch sử cổ kính của một
quần thể kiến trúc tuyệt vời trên ngọn núi nghĩa lĩnh này . Ngọn núi từ bao đời
nay được con cháu từ khắp mọi miền nhắc đến với một niềm súc động dào
dạt, hướng về nơi chôn rau căt rốn của mình
Dưới những cây trò xanh cao vút , mát rượi , bước theo các bậc đá sạch sẽ
từ cổng chính đi lên , chẳng mấy chốc đến tới đền Hạ. Theo truyền thuyết nơi
trưng, bánh giầy .
Các dòng người cuồn cuộn theo sau đoàn đại biểu dâng hương đi đầu là
các vị đại diện cho nhà nước, tiếp đến một trăm thanh niên nam nữ với y phục
dân tộc tượng trưng cho con rồng cháu tiên xếp hàng trước đền Thượng. Từ
khắp các ngả đường, những đám rước nô nức dồn về. Đám rước voi với ý
nghĩa muôn loài quy phục các vua Hùng, rước cỗ tray, bánh trưng bánh giầy
một mặt để nhắc lại sự tích Lang Liêu, mặt khác để nhớ ơn các vua hùng đã
dạy dân trồng lúa
Dưới chân núi các cô gái mường duyên dáng trong bộ quần áo dân tộc
ngày hội biểu diễn tiết mục đâm đuống, một nhạc cụ dân gian của đồng bào
mường . Trên hồ Đa Vao cạnh núi Nghĩa những cặp thuyền rồng đua nhau
lướt sóng trên mặt nước trong tiếng hò reo cổ vũ của hàng vạn người. Cả một
vùng rộng lớn quanh chân núi Nghĩa được sắp đặt xen kẽ những rạp hát chèo,
tuồng, những đặc sản của Phú Thọ, những quán ăn hàng thủ công mỹ nghệ
phục vụ khách lễ hội. Cứ như vậy đền Hùng diễn ra trong không khí sôi động
về mùa xuân với bao điều ước vọng về một tương lai tốt đẹp.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác được một cách có hiệu quả lễ hội
đền Hùng và biến nó thành một sản phẩm hấp dẫn đối với du lịch. Các biện
pháp cơ bản đó là: Nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội, đa dạng hoá các loại
hình vui chơi giải trí đi kèm, tổ chức tuyên truyền quảng cáo , nâng cao chất
lượng quản lý của nhà nước và ngành du lịch… tất cả điều đó là cần thiết, tuy
nhiên cho dù có làm tốt đến đâu thì lễ hội đền Hùng cũng chỉ thu hút được
một số lượng hạn chế các du khách do chính sự hạn hẹp của không gian và
thời gian lễ hội. Do vậy cần tiếp cận lễ hội đền hùng một cách toàn diện hơn,
lễ hội đền Hùng phải được đặt trong không gian lịch sử của thời đại Hùng
Vương, cần phải xúc tiến một chương trình du lịch hướng về cội nguồn với
đầy đủ các yếu tố nội dung và lịch sử, con người và văn hoá của nước Văn
Lang, một giai đoạn lịch sử huyền thoại của dân tộc .
14
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
vào chùa này để từ giã cảnh hương Sơn. Đi tiếp chúng ta sẽ đến bến Trò (bến
đò ngoài chùa). Chùa ngoài được gọi là chùa Thiên Trù (bếp nhà trời ) được
xây dựng cách đây ba thế kỷ nằm lọt giữa một thung lũng nhỏ chung quanh
có 3 quả núi màu xanh thẫm, trong trí tưởng tượng người xưa đó là 3 chân
bếp của nhà trời .
Sau khi nghi ngơi ăn uống ở Thiên Trù , những dòng người chen trúc nhau
trên con đường đá men theo sườn núi trên tay họ là những cây gậy cây mía đi
vào động Hương Tích.Tiếp đó là nối rẽ lên chùa tiên, chùa này thực chất là
16
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
một hang động rộng rãi nhưng cửa ra vào lại là một khe nứt giữa một quả núi
đá chỉ vừa người lách qua. Trong chùa có những pho tượng bằng đá và nhũ đá
khi gõ vào kêu như tiếng chuông tiếng khánh. Đặc biệt có pho tượng đá khi
đặt ngọn đèn phía sau tượng thì cả pho tường trong suốt như một khối hồng
ngọc. Sau chùa tiên là chùa giải oan, trong chùa có một giếng nhỏ do mạch
nước ngầm từ trong suối chảy ra, nước mát lạnh và trong vắt khách thập
phương lưu truyền uống nước giếng giải oan tâm hồn sẽ thanh thản, lỗi oan
nghiệt sẽ tiêu tan vì theo truyền thuyết nơi đây đức phật đã tắm ở đây để tẩy
sạch bụi trần. Từ chùa giải oan ta thăm tiếp Am Phật Tích, Động Tuyết
Quỳnh, qua núi Chấn Xong có đền Cửa Vọng .
“Đệ nhất động “ là danh hiệu cao quý mà người xưa đã tặng cho động
chùa Hương Tích . Từ cửa đồng vào phía trong ta ngắm nhìn nhiều nhũ đá
như những công trình điêu khắc của thiên nhiên . Nhũ đá ở đây có khối to
khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái đẹp ở dáng dấc, có cái rủ từ trên trần
xuống, có cái mọi từ dưới đất lên . Tất cả chúng đều theo hình thù mà chúng
được đặt cho những cái tên rất nôm na trần thế
Ngoài công trình kiến trúc do thiên nhiên ban tặng Hương Sơn còn có các
công trình kiến trúc nhân tạo đó là pho tượng phật Bà Quan Âm bằng đá xanh
khôi phục và tổ chức thành lễ hội quốc gia với sự tham gia đông đảo du khách
trong nước và quốc tế
Dù ai buôn đâu bán đâu
18
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu
Sự quyến rũ sẽ tạo ra sự quyến rũ, cũng như nét đẹp bí ẩn luôn tạo ra sức
hút của những ý muốn khám phá và tìm kiếm. Người ta có thể nói như vậy
với hội chọi trâu ở Đồ Sơn vùng được phục hồi và mở rộng về quy mô tổ
chức, từ năm 90 đến nay, từ một hội làng hội chọi trâu đã trở thành lễ hội
vùng. Giữ nguyên nét độc đáo và cuốn hút, có năm hội đón đến 25 000 người
từ khắp nơi trong cả nước đổ về thăm quan. Chính hội diễn ra vào ngày 9-8
âm lịch, tiễn chính hội vào 8-6 âm lịch. Ở các phường có trâu chọi bao giờ
cũng có lễ vật khẩn cầu cho khí thiêng các núi sông, trời đất phục hộ cho các
ông trâu thắng cuộc. Bởi các “ông trâu” thắng cuộc là báo hiệu sự hưng thịnh
của địa phương .
Khi các “ông trâu “ vào cuộc chiến, những tiếng côm cốp, luỵch quỵch của
sừng trâu ngoằn vào nhau bên cạnh đó là những tiếng reo hò inh ỏi trên khán
đài .Người dân Đồ Sơn gắn bó với chọi trâu vân luôn nhớ tới “Phần xăm khẩn
đáy” –Phần thưởng cho nơi nào có trâu thắng cuộc trong các hội chọi trâu
ngày xưa. Khi đó, trên diện tích bao la của ngư trường, người ta để chỗ nào
đẹp nhất lại có rất nhiều tôm cá dành cho làng có trâu thắng cuộc ,ngày nay
không phải là “phần xăm khẩn đáy “ nữa thay vào đó là thưởng trực tiếp bằng
hiện vật hoặc tiền và theo phong tục địa phương ,những miếng thịt trâu (dù là
trâu thắng cuộc hay thua cuộc ) đều được chia cho mọi nhà thưởng thức để
gian truyền thống đã và đang có sưc thu hút rất lớn.Các lễ hội nổi tiếng của ba
miền đất nước như:chùa Hương,phủ Giầy,hòn Chén,Tháp Bà,núi Bà…hàng
năm đã thu hút hàng triệu khách hành hương.
Tuy nhien,câu hỏi đặt ra là cần phải khai thác lễ hội như thế nào để vừa
phục vụ đươc phát triển du lịch,vừa bảo tồn được những giá trị chuẩn xác của
lễ hội dân gian truyền thóngtrong giai đoạn hiện nay.
Lễ hội hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi một vùng,một địa
phương,nói chung mà toả sang các vùng lân cạn trở thành lễ hội của các
vùng,thậm chí có tính chất toàn quốc
Không gian và thời gian của lễ hội không còn bó hẹp như trước nữa.Bên
cạnh nhưng hoạt động mang tính truyền thống thì còn có sự tham gia của đội
ngũ ca sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp với sự hỗ trợ của các phương tiện biểu diễn
hiện đại,tạo lên nhiều trò giải trí vui chơi hấp dẫn.
Số lượng người đi chơi hội càng đông,thành phần trảy hội cũng khác xưa
ngươi đi trảy hội không còn chỉ là những ngươi nông dân mà bao gồm cả học
sinh ,sinh viên tri thức,những người làm ăn buôn bán.Ngay cả kiều bào ở xa
tỏ quốc và các du khách nước ngoài cũng đi xem hội
21
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Các công ty du lịch,các hãng lữ hành đã và đang quan tâm đến vấn đề khai
thác mảng du lịch lễ hội họ đã có nhưng đầu tư đang kể và các cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ du khách tham quanvà tìm hiểu lễ hội
Các lễ hội đã được duy tri và củng cố theo đúng cái vốn có của nó.Đến với
lễ hội du khách có thể được xem cách tổ cgức lễ hội các vai diễn trình tự rước
tế, các trang phục và đươc hiểu biết về cội nguồn lịch sử của nó.Đến với lễ
họi cũng là đến với các danh lam thắng cảnh,các di tích,được thương thức
nhiều giá trị văn hoá tổng hợp bởi vì hầu hết các lễ hội đều diễn ra ở các điểm
đó
Trong việc phát triển du lịch lễ hội chúng ta không thể hiểu đơn giản rằng
Lễ hội với những giá trị của nó tự thân đã có sức thu hút khách thập
phương.Chủ trương của đảng và nhà nước ta đã và đang tổ chức thực hiện
viêc khôi phục lại một số lễ hội tiêu biểu nhằm thu hút khách du lịch trong
nước và quốc tế đến với lễ hội nhiều hơn.
23
Đề án môn Kinh tế Du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân
Phần IV:Thực trạng và giải pháp khai thác các giá trị văn hoá
trong du lịch lễ hội ở Việt Nam
1.Thực trạng khai thác các giá trị trong du lịch lễ hội ở Việt Nam
1.1 Những nét làm được
Cùng với việc phát triển du lich việt nam trong những năm qua,các giá
trị văn hoá,các lễ hội cũng không ngừng được khai thác đem vào phát triển du
lịch.Nhiều di tích được sửa chữa,nhiều tuyến điểm du lịch được thành
lập,nhiều lễ hội dân gian được phục hồi và phát triểnnhư lễ hội chùa
Hương,Đền Hùng,lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn,lễ hội thánh Gióng…đăc biệt vào
năm 1992 đến nay cùng với sự nhạy bén của nền kinh tế thị trường các di tích
lịch sử các loại hình nghệ thuật truyền thống được phát huy triệt để các lành
nghề truyền thống đươc khôi phục và phát triểnđể tạo lên những sản phẩm du
lịch.Hầu hết ở mỗi vùng mỗi tỉnh mỗi thành phố đều có khu di tích,các lễ hội
đươc tổ chứccùng với nó là hệ thống nhà hàng ,khách sạn,các khu vui chơi
giải trí hình thành để phục vụ nhu cầu khám phá tham quan,nghi ngơi của du
khách.
Trong khi đó du nghành du lich Việt Nam còn non trẻ,khối lượng các tua
còn chưa nhiều,các dịch vụ còn ít nhưng thái độ phục vụ của nhân viên du
lịch Việt Nam lại rất chu đáo.Hầu hết khach du lịch đén với Việt Nam đều
đánh giá rất cao lòng mến mộ,sự phục vụ tận tình chu đáocủa người Việt
Nam.Đó chính là sự phát huy truyền thống cởi mở của dân tộc.Dây chính là
dấu hiệu tốt về sự phát triển du lich trong tương lai.
Ngoài ra việc thực hiện nghị định 87/cp của chính phủ chỉ thị 64ct/tư củ
mới mẻ lạ lẫm ,lam say mê sự ham hiểu biết của họ.
Việt Nam co 54 dân tộcvới mau sắc văn hoá khác nhau nhưng chỉ mới có
nhuũng lễ hội của những người kinh là được khai thác phổ biến trong du
lịch,còn các lễ hội của các dân tộc khác đã khai thác nhưng còn rất ít. Các lễ
hội của các dân tộc thiểu số như lễ hội Nồng Tồng, lễ hội của người Mường,
người Hơ Mông người Giao … Cần được bảo tồn khôi phục và phát triển vì
nó còn mang đậm nét nguyên sơ ít bị pha tạp bởi các giá trị văn hoá khác .
25