Bước đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin trong chấn đoán sớm cơn hen phế quản - Pdf 11

TCNCYH 26 (6) - 2003
Bớc đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin
trong chẩn đoán sớm cơn Hen phế quản

Nguyễn Thị Vân
Đại học Y Hà Nội

Một số lớn bệnh nhân trong nghiên cứu này (81%) có giảm đi một cách có ý nghĩa lu
lợng cũng nh thể tích của phổi trong đó lu lợng giảm nhiều hơn khi chúng tôi tiến
hành test kích thích phế quản không đặc hiệu với Metacholin. Đây là một phơng pháp
đợc sử dụng phổ biến trên thế giới trong việc chẩn đoán hiện tợng tăng tính phản ứng
phế quản ở những bệnh nhân có dấu hiệu Hen tiềm tàng. Sự tìm kiếm tăng tính phản ứng
phế quản không đặc hiệu bằng Metacholin là một kỹ thuật đợc sử dụng thờng xuyên, kỹ
thuật này có giá trị âm tính chính xác cao. Test âm tính cung cấp một giá trị tốt cho việc
loại trừ Hen phế quản giai đoạn đầu. Việc sử dụng test Metacholin để phát hiện sớm hiện
tợng co thắt phế quản, đảm bảo sự an toàn, tiện lợi, cho độ nhạy cao và phơng tiện sử
dụng phù hợp với điều kiện kinh tế của nớc ta.

I. Đặt vấn đề
Test kích thích (Test provocation) là một
thử nghiệm tạo lại bệnh [1]. Đây là một kỹ
thuật đã có từ lâu. Ban đầu ngời ta sử
dụng dị nguyên đặc hiệu khi tiến hành test
này vì vậy đã gây ra nhiều nguy hiểm cho
bệnh nhân. Mặt khác việc sử dụng dị
nguyên đặc hiệu đòi hỏi một quá trình sản
xuất tốn kém, phức tạp. Để khắc phục
những nhợc điểm này hiện nay ngời ta
đã sử dụng Metacholin để tiến hành test
kích thích không đặc hiệu. Metacholin là
một dẫn xuất của acétylcholine nó có thể

II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu:
26 bệnh nhân đến khám và tiến hành
nghiên cứu tại phòng thăm dò chức năng
hô hấp Bệnh viện Cochin - Paris - Cộng
hoà Pháp trong thời gian từ 2001- 2002.

51
TCNCYH 26 (6) - 2003
Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân nh
sau:
+ Có cơn ho kéo dài hơn 1 tháng mặc
dù cha có cơn khó thở.
+ Có tiền sử dị ứng bản thân cũng nh
gia đình rõ nh mày đay, viêm mũi dị ứng
hoặc dị ứng thức ăn.
+ Tuổi từ 15 - 25 tuổi.
+ Không dùng các thuốc sau đây trớc
khi tiến hành làm test:
Kích thích Bêta 2 (12h trớc đó).
Kháng Cholin (12h trớc đó).
Nhóm Xanthin (12h trớc đó hoặc
24h đối với loại chậm).
Kháng Histamin (5 ngày trớc đó).
+ Không tiến hành làm test nếu bệnh
nhân đang điều trị corticoides theo đờng
uống hoặc đang dùng các thuốc ức chế
Bêta (Bêtabloquant).
+ Cần chờ đợi bệnh nhân trong các

tác dụng của các xung đột thần kinh và
của ion Ca++ , chúng đợc giải phóng ra
dới dạng tự do đóng vai trò nh một chất
trung gian hoá học có tác dụng làm chậm
nhịp tim, hạ huyết áp, tăng nhu động ruột,
co thắt phế quản gây ra cơn hen, co thắt
đồng tử, tăng tiết dịch ở niêm mạc phế
quản. Ngời ta sử dụng Metacholin để tiến
hành test kích thích tạo lại bệnh (tạo lại
cơn hen phế quản) trong chẩn đoán sớm
cơn hen vì chúng bền vững hơn
acetylcholin, ít chịu tác dụng của
cholinesterase nên tác dụng kéo dài và
mạnh hơn.
+ Đo đáp ứng: Ngời ta xác định liều
hoặc nồng độ của yếu tố kích thích gây
giảm VEMS 20% so với giá trị lý thuyết
(PD20).
+ Cách làm: Sử dụng máy FDC 88
Medifrom.
Đo VEMS trên máy đo phế lu để
đợc kết quả thực sự hay kết quả ban đầu
của bệnh nhân.
Lấy Metacholin 2% (2ml) vào bình
khí dung.
Cho bệnh nhân thở ra vào bình khí
dung rồi hít thật sâu. Mỗi lần cách nhau từ
1- 2 phút. Liều dùng theo thứ tự:

52

* Nguyên tắc: Sau khi test kích thích
dơng tính cho bệnh nhân khí dung với liều
tăng dần của thuốc dãn phế quản (kích
thích
2
). Chúng ta thu đợc sự tăng dần
của VEMS.
+ Chỉ định làm test kích thích với
Metacholin:
* Đo đáp ứng: Ngời ta nhận thấy rằng
sự đảo ngợc hoàn toàn hoặc từng phần
hiện tợng tắc nghẽn phế quản sau khi khi
dùng
2
adrenergique hoặc
anticholinergique đợc xác định bởi tăng
VEMS 12% so với giá trị lý thuyết và
200 ml so với giá trị tuyệt đối ban đằu (các
giá trị DEP, DEMM 25-75% của CVF cũng
đợc tính đến nh VEMS).
Ngời có tiền sử dị ứng nhng cha
có cơn hen rõ chỉ có ho kéo dài trên 3
tuần, có cảm giác khó chịu trong đờng
thở khi thay đổi thời tiết.
Ngời bệnh nhân có kết quả thăm
dò chức năng phổi giảm so với giá trị lý
thuyết mà cha có dấu hiệu lâm sàng về
hen.
III. Kết quả
+ Đánh giá:

tuyệt đối
% Giá trị
tuyệt đối
% Giá trị
tuyệt đối
%
Trớc dùng
Metaholin
5,120,32
114
6,100,15
110
5,310,44
111
Sau dùng
Metaholin
4,020,25
80%
(-34%)
4,530,63
80
(-29%)
3,930,1
84
(-26,85%)
Sau dùng
dãn PQ
4,820,53
120
(+40%)

HPQ. Sau khi khí dung Metacholin (một
dẫn chất của acetylcholin) ngời ta nhận
thấy có sự xuất hiện co thắt phế quản, một
biểu hiện của tiền hen. Điều đó thể hiện rõ
nét ở việc sụt 12% so với giá trị lý thuyết
và 200ml so với giá trị tuỵêt đối ban đầu
của VEMS, DEP, CVF.
Chúng ta gặp một tần suất cao của việc
giảm VEMS, DEP (81%) sau khi dùng
Metacholin. Đó là kết quả của việc làm
tăng tính phản ứng PQ của Metacholin.
Hơn nữa qua việc so sánh các thời điểm
trớc và sau khi dùng Metacholin ngời ta
cũng nhận thấy một sự khác nhau rõ rệt
của các thông số trên một cách có ý nghĩa
thống kê. Sự giảm VEMS (-34%), DEP (-
29%), CVF (-26%) sau khi khí dung
Metacholin.

54
TCNCYH 26 (6) - 2003
Sau khi test kích thích dơng tính,
chúng tôi đã tiến hành phục hồi khả năng
thông khí phổi bằng Salbutamol. Hầu hết
các bệnh nhân này đều có đáp ứng tốt với
các thuốc dãn phế quản bởi vì chúng ta
nhận thấy một sự gia tăng có ý nghĩa của
VEMS, DEP và CVF sau dùng Salbutamol:
Với VEMS: + 40%, DEP: + 30,3%, CVF:
+ 24,8%.

làm test một cách lu động điều này phù
hợp với việc quản lý bệnh nhân hen tại
cộng đồng ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Aubier, Pariente. R (1996):
pneumologie 1996 - medecine sciences
flammarion. 731-740.
2. Cremmoux. H, Defouilloy.C (1993):
lasthme de ladulte, astra france -ed,
1993, 2-8.
3. Tillie - Leblond. I (1996): les
asthmes allergique - rev. Prat. Paris,
1996, n
0
8 , 949-945.
Résumé
Test metacholin dans le dianostique précese de
lasthme
Un nombre important de patient dans létude (81%) présentait une chute significative
des débits et volumes respiratoire (VEMS, DEP, CVF) dans le test provocation avec
Metacholine.
Cest un meilleur méthode dans le diagnostique dune hyperréactibilité bronchique. La
recherche un HRB non spécifique est la technique le plus souvent utilisé. Cette méthode
a une valeur pédictif négatif élevés qui fournit un bon argument contre une maladie
asthmatique.55


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status