TCNCYH 33 (1) - 2005
105
Mô hình bệnh tật và việc lựa chọn dịch vụ
Tại trạm y tế xã của nhân dân hai xã Tam Hng và Tân
ớc, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây
Khơng Văn Duy và cộng sự
Kết quả nghiên cứu trên 764 gia đình với tổng số ngời tham gia nghiên cứu là 3000
ngời, mô hình bệnh phổ biến ở hai xã Tam Hng và Tân Ước trong 4 tuần qua lf họ và
sốt (2,5%), sốt đơn thuần (2%), thấp khớp (2,7%), cúm (1,4%), loét dạ dày hành tá
tràng (1,2%), đau dây thần kinh (1,2%), bệnh về tai mũi họng (0,8%), viêm phế quản
(0,7%), tiêu chảy (0,7%), cao huyết áp (0,4%) 61,5% số ngời ốm không điều trị và tự
mua thuốc về điều trị, chỉ có 24,2% sử dụng dịch vụ y tế xã. Lý do ngời ốm không sử
dụng dịch vụ y tế xã là trạm y tế xã có Bác sĩ (60,9%) và do trạm cso sẵn thuốc để điều
trị bệnh (21,9%).
I. Đặt vấn đề
Trong hơn 20 mơi năm qua, mô tình
hình bệnh tật trên thế giới đã dần dần
thay đổi chuyển từ bệnh truyền nhiễm
sang bệnh không truyền nhiễm, ở nớc ta
mô hình bệnh tật cũng thay đổi theo
nhng vẫn diễn ra từ từ và nghiêng về
bệnh không nhiễm trùng. Đồng thời với
việc chuyển mô hình bệnh tật thì các dịch
vụ y tế cũng thay đổi và có sự phân cấp
rõ rệt. Các tuyến trên (tuyến tỉnh và tuyến
trung ơng) sẽ thực hiện về lĩnh vực y tế
chuyên sâu, kỹ thuật cao, tuyến huyện và
đặc biệt tuyến xã là cơ sở y tế đầu tiên
của hệ thống y tế, chịu trách nhiệm chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và
đình sống tại hai xã Tam Hng và Tân
ớc, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
2. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp nghiên cứu đợc áp
dụng trong nghiên cứu này là phơng
pháp nghiên cứu cắt ngang (cross-
sectional study), với công thức mẫu nh
sau:
TCNCYH 33 (1) - 2005
n = Z
2
1 -
/2
2
d
qp ì
Trong đó: Z
2
1 -
/2
ở mức tin cậy 95% là
1,96; p ớc lợng tỷ lệ mắc các bệnh
thờng gặp tại cộng đồng là 50% và d là
ớc lợng độ chính xác tuyệt đối của p là
5%. Tra bảng tính đợc n = 384 hộ gia
đình, nhng để đảm bảo hiệu ứng thiết kế
chúng tôi tính n x 2 = 768 hộ gia đình cần
một số thông tin, nên đã đợc loại bỏ, số
phiếu còn lại đợc nhập vào máy vi tính
trên phần mềm EPI-INFO 6.04 là 764
phiếu với số ngời sống trong các hộ gia
đình này là 3000 ngời và sau đó đợc
phân tích trên phần mềm SPSS 11.5.
III. Kết quả nghiên cứu
69.8
30.2
Có
Không
Biểu đồ 1: Tỷ lệ hộ gia đình có ngời
mắc bệnh trong 4 tuần qua
Tình hình các hộ gia đình có ngời bị
ốm đau trong 4 tuần qua, qua phỏng vấn
vợ chủ hộ gia đình cho thấy: trong 764 hộ
gia đình tham gia nghiên cứu đã có
30,2% hộ gia đình có ngời bị ốm. Và mô
hình bệnh tật cấp tính ở hai xã nghiên cứu
trong 4 tuần qua theo thứ tự 10 bệnh có
tỷ lệ mắc cao nhất chủ yếu là bệnh nhiễm
khuẩn đờng hô hấp cấp tính (ho và sốt),
sốt đơn thuần, cảm cúm, bệnh về tai mũi
họng, viêm phế quản, tiêu chảy tai biến
mạch máu não, viêm phổi cấp và tai nạn
(bảng 1).
bắt đầu bị bệnh cũng khác nhau tuỳ từng
đối tợng (bảng 4).
Bảng 2: Tình trạng bệnh nhân khi mắc bệnh
Tam Hng Tân Ước Chung
Tình trạng khi
mắc bệnh
Tần số % Tần số % Tần số %
Nặng 13 9,4 8 6,3 21 7,9
Vừa 41 29,5 44 34,9 85 32,1
Nhẹ 85 61,2 74 58,7 159 60,0
Tổng 139 100,0 126 100,0 265 100,0
Song song với tình hình mắc các bệnh
cấp tính trong 4 tuần qua, một số bệnh
mãn tính nổi bật ở hai xã nghiên cứu
(bảng 3) là các bệnh thấp khớp (2,7%),
loét dạ dày tá tràng (1,2%), bệnh đau dây
thần kinh (1,2%) và hen phế quản (0,8%),
trong khi đó bệnh lao chỉ chiếm có 0,1%
tổng số ngời tham gia nghiên cứu (3000
ngời tham gia nghiên cứu). TCNCYH 33 (1) - 2005
108
Bảng 3: Phân bố tình hình mắc các bệnh mãn tính ở 2 xã Tam Hng và Tân Ước
Tam Hng Tân Ước Chung
TYT xã 25 18,0 39 31,0 64 24,2
Đến các bệnh viện 24 17,3 14 11,1 38 14,3
Tổng cộng 139 100,0 126 100,0 265 100,0
Trong tổng số 265 ngời ốm trong 4
tuần qua: số đối tợng lựa chọn dịch vụ
khám chữa bệnh đầu tiên tại trạm y tế xã
chiếm 24,2% tổng số ngời bị ốm, còn
việc tự mua thuốc về điều trị và không
điều trị chiếm tới 61,5%). Lý do lựa chọn
dịch vụ tại trạm y tế xã đợc mô tả trong
bảng 5.
Bảng 5: Lý do chính đa ngời ốm tới TYT xã khám và điều trị
Tam Hng Tân Ước Chung
Lý do chính đa ngời
ốm đến TYT x khám
Tần số % Tần số % Tần số %
Trạm có bác sĩ 22 88,0 17 43,6 39 60,9
Y bác sĩ tận tình 2 8,0 7 17,9 9 14,1
Đủ trang thiết bị 0 0 1 2,6 1 1,6
Có sẵn thuốc 1 4,0 13 33,3 14 21,9
Mua chịu đợc thuốc 0 0 1 2,6 1 1,6
Tổng cộng 25 100,0 39 100,0 64 100,0
Lý do những ngời ốm tại hai xã Tam
Hng và Tân Ước lựa chọn trạm y tế xã
để sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh chủ
yếu là ở trạm y tế xã vì: có đội ngũ y bác
TCNCYH 33 (1) - 2005
109
sĩ làm việc tại trạm trực tiếp khám chữa
1. Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật của hai xã Tam Hng
và Tân Uớc cũng nh các nghiên cứu
Trơng Việt Dũng [7], Đỗ Hồng Cuông
[6], Trần Thị Trung Chiến [5] và Niên
giám thống kê của Bộ Y tế năm 2002 [4]
các bệnh nhiễm trùng và truyền nhiễm đã
bị không chế, nhng đồng thời các bệnh
không truyền nhiễm lại đang tăng lên.
Mặc dù các bệnh nhiễm trùng đã giảm,
song các bệnh cơ bản ở nớc ta nói
chung và ở 2 xã nói riêng là các bệnh
nhiễm trùng đờng hô hấp, bệnh về tai
mũi họng, tiêu chảy Xu hớng chung về
mô hình bệnh tật ở hai xã là các bệnh
nhiễm trùng và truyền nhiễm đang giảm
dần (nhiễm khuẩn hô hấp cấp, sốt đơn
thuần) chuyển dịch dần sang các bệnh
không nhiễm trùng (thấp khớp, loét dạ
dày hành tá tràng, đau dây thần kinh, hen
phế quản), đặc biệt một số bệnh không
nhiễm trùng đã xuất hiện tại 2 địa phơng
trên nh bệnh về tim mạch và ung th.
Và Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp
với các cuộc điều tra khác tại cộng đồng
và của Trần Thị Trung Chiến và cộng sự:
"các bệnh và chứng bệnh phổ biến nhất
là ho, sốt, cúm, tai nạn thơng tích nằm
trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây
mắc bệnh ở cộng đồng" [5].
gia đều hớng dẫn điều trị sớm, điều trị
tại nhà, các chơng trình này đã phần
nào tăng hiểu biết của ngời dân về bệnh
tật, giúp ngời dân có thể tự điều trị sớm
bệnh khi bệnh còn nhẹ.
Để tăng cờng chất lợng khám chữa
bệnh và thu hút ngời dân đến sử dụng
dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã,
điểm quan trọng hàng đầu đó là yếu tố
nhân lực, những ngời dân lựa chọn trạm
y tế xã để sử dụng dịch vụ là trạm có đối
ngũ thày thuốc, đặc biệt là y bác sĩ đã thu
hút họ đến trạm y tế (60,9%), đồng thời
trạm y tế xã phải có đủ thuốc và trang
thiết bị cần thiết giúp cho việc khám,
chẩn đoán và điều trị (21,9%).
V. Kết luận
1. Mô hình bệnh tật chủ yếu ở hai xã
Tam Thanh và Tân Ước là các bệnh
nhiễm khuẩn đờng hô hấp (ho và sốt),
cảm cúm, tiêu chảy, bệnh về khớp, loét
dạ dày tá tràng, đau dây thần kinh và hen
phế quản
2. Tỷ lệ ngời ốm đau trong 4 tuần qua
sử dụng dịch vụ tại trạm y tế chỉ chiếm
24,2% và tỷ lệ không điều trị và tự mua
thuốc về điều trị chiếm 61,5%.
3. Tỷ lệ ngời dân chấp nhận dịch vụ y
tế tại trạm y tế xã là do trạm y tế có bác sĩ
(60,9%) và do trạm có sẵn thuốc để điều
111
Summary
Pattern of the diseases and health services selected by
people at Tam Hung and Tan Uoc commune health stations, Thanh
Oai district, Ha Tay province
The result of 764 households with 3000 participants, the patterns of popular
diseases at Tam Hung and Tan Uoc communes in last 4 weeks are cough and fever
(2.5%), simple fever (2.0%), rheumatic (2.7%), influenza (1.4%), stomachache (1.2%),
nervous disorders (1.2%), ENT (0.8%), bronchial asthma (0.8%), bronchitis (0.7%),
diarrhea (0.7%0, hypertensive (0.4%)… 61.5% patients are self-buying drugs for
treatment-treatment and using non drug method, only 24.2% of them used health
services at commune health stations. The main reasons of the patients don’t use health
services at commune health station is not serious diseases (51.7%) and not enough
time (12.4%). The main reason to attract the patients go to CHS, because the CHS has
medical doctors worked (60,9%) and available drugs for treated (21.9%).