1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là tương lai của đất nước, là tài sản quý báu, là niềm hạnh phúc
của mỗi gia đình, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha ông. Trẻ em là mối
quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại. Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền
trẻ em tại điều 24 đã ghi rõ trách nhiệm của mỗi quốc gia phải đảm bảo chăm
sóc sức khỏe trẻ em, luôn cố gắng hết sức để trể em được hưởng tiêu chuẩn
sức khỏe ở mức cao nhất có thể [1].
Tình trạng sức khỏe và bệnh tật của trẻ em là tấm gương phản ánh trung
thành về điều kiện môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của nơi đứa
trẻ được sinh ra và lớn lên. Nhờ những đổi mới của nền kinh tế, chính sách của
Đảng, nhà nước và sự quan tâm của toàn xã hội, tình hình sức khỏe bệnh tật trẻ
em đã có những chuyển biến rõ rệt trên toàn quốc [2]. Kinh tế vĩ mô tăng
trưởng ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng duy trì ở mức hợp lí, Việt
Nam chính thức bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình, cho phép
mức đầu tư cho y tế được tăng lên, tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng trẻ em
giảm đáng kể [3]. Tuy nhiên hiện nay, trẻ em vẫn còn phải đối mặt với nhiều
nguy cơ, thách thức từ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, xã hội, môi trường,... [4].
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì
mô hình bệnh tật cũng không ngừng thay đổi và ngày càng đa dạng, phức tạp.
Nhờ chương tình chăm sóc sức khỏe ban đầu, tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng có
xu hướng ngày càng giảm, tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, rối
loạn chuyển hóa,... dần dần có xu hướng tăng lên [5]. Sự đa dạng và phức tạp
này cũng thay đổi theo vùng miền, theo cộng đồng dân cư khác nhau do ảnh
hưởng của thói quen, tập tục văn hóa cũng như điều kiện kinh tế xã hội của
địa phương.
Đối với ngành Y tế, để có được những thông tin cần thiết giúp đánh
giá tình trạng sức khỏe, từ đó giúp đề ra các giải pháp can thiệp cũng như
2.
Khảo sát tình hình điều trị nội trú tại khoa Nhi – Bệnh viện đa khoa
YHCT Hà Nội từ 01/09/2015 đến 31/08/2017.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm về mô hình bệnh tật
Mô hình: Là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ, mô phỏng cấu tạo
và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu; là hình thức diễn đạt
hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối
tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy [6].
Bệnh ở con người: Là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động
không bình thường [6].
Tật ở con người: Là trạng thái bất thường, nói chung là không chữa được
của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc do tai nạn gây nên [6].
Từ đó người ta đã đưa ra khái niệm về mô hình bệnh tật như sau: Mô
hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó là tập hợp
tất cả những tình trạng bệnh tật mắc phải, dưới tác động của nhiều yếu tố,
được phân bố theo những tần suất khác nhau trong một xã hội, một cộng
đồng, một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định [7].
1.2. Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định các chính sách y tế và
quản lý bệnh viện
1.2.1. Vai trò của mô hình bệnh tật hoạch định chính sách y tế
Nguồn tài chính cho sức khỏe còn hạn chế, chủ yếu từ nguồn ngân
sách, vì thế xây dựng kế hoạch đầu tư cho y tế cần phải xem xét đến hiệu quả
em phải nhập viện (21%), tiếp đến là suy dinh dưỡng nặng (14%) và tiêu
chảy (13%) [10]. Tại Mỹ, vào đầu thế kỷ XX, nguyên nhân gây tử vong trẻ em
chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, bạch hầu, sởi, viêm phổi, cúm,...
nhưng đến cuối thế kỷ XX, tỷ lệ bệnh nhi mắc các bệnh truyền nhiễm này giảm
mạnh. Tuy nhiên, tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm, các tổn thương do tai nạn
thương tích lại có xu hướng gia tăng nhanh [11].
5
Theo nghiên cứu về các nguyên nhân tử vong trẻ em trên toàn cầu, quốc
gia và khu vực năm 2008, ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nguyên nhân tử vong hay
gặp nhất là do viêm phổi và tiêu chảy, tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng cao hơn so
với các bệnh không nhiễm trùng. Tỷ lệ tử vong sơ sinh so với tử vong ở trẻ
dưới 5 tuổi khác nhau ở từng khu vực. Ở châu Phi, tỷ lệ tử vong sơ sinh là
29%, tỷ lệ trẻ em 1 – 5 tuổi tử vong do tiêu chảy cao nhất với 19%, tiếp đến là
sốt rét với 16%. Ở các nước khu vực Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á, tỷ
lệ tử vong do viêm phổi và tiêu chảy cao nhất, các bệnh truyền nhiễm như sốt
rét, ho gà, viêm não cũng chiếm một tỷ lệ nhất định. Ở các châu lục phát triển
như châu Mỹ và châu Âu, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao (58%), chủ yếu do các
biến chứng sinh non và các bất thường bẩm sinh của trẻ, tỷ lệ tử vong của trẻ 15 tuổi do các bệnh không nhiễm trùng cao (14%), viêm phổi vẫn là vấn đề đáng
ngại với tỷ lệ tử vong 14% ở trẻ dưới 5 tuổi và 3% ở trẻ dưới 1 tháng tuổi.
Tương tự với Tây Thái Bình Dương là khu vực các nước đang phát triển, tỷ lệ
tử vong do viêm phổi cao nhất (16%), tiếp đến là các bệnh không lây nhiễm
(10%), tai nạn thương tích cũng là một nguyên nhân lớn đáng lưu ý (8%) [12].
Theo nghiên cứu tại các quốc gia trên toàn thế giới, tỷ lệ tử vong trẻ em
dưới 5 tuổi trên toàn thế giới giảm 52% trong vòng 25 năm (từ 1990 đến
2015), tỷ lệ này giảm mạnh trong giai đoạn 2000-2015 so với giai đoạn 19902000. Các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em năm 1990 được ghi nhận
là nhiễm trùng đường hô hấp dưới, đẻ non, tiêu chảy, sốt rét, sởi, suy dinh
dưỡng, đến năm 2015, tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng hô hấp
vùng miền núi khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên. Mặt khác ở thành thị, tỷ lệ
trẻ thừa cân béo phì tăng đến khoảng 3,5% ở năm 2015. Đây là gánh nặng kép
về dinh dưỡng trẻ em ở nước ta. Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển
khai đã góp phần đẩy lùi nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bại liệt được
thanh toán vào năm 2005, uốn ván sơ sinh cũng không còn thấy từ năm 2005,
các bệnh khác như bạch hầu, ho gà, sởi,... đều có tỷ lệ mắc bệnh rất thấp [17].
7
1.4. Tổng quan về ICD-10 [18]
Mô hình bệnh tật được xây dựng từ những hồ sơ bệnh tật riêng rẽ. Trong
mỗi cách phân loại bệnh tật, mô hình bệnh tật có những sắc thái khác nhau.
Thời cổ đại Arestee đã đưa cách phân loại bệnh tật dựa vào thời gian
kéo dài bệnh (cấp tính và mạn tính), hiện tượng lan rộng (bệnh địa phương và
toàn cầu), vị trí bệnh (bệnh nội và bệnh ngoại)...
Cuối thế kỉ XVIII, phân loại bệnh được dùng nhiều nhất là phân loại
của Welliam Cullen (1710 – 1790) ở Edinburgh được công bố năm 1789.
Từ năm 1837, William Farr (1807 – 1883) đã nỗ lực để có được bảng
phân loại về bệnh tật tốt hơn Cullen và sử dụng đồng nhất trên toàn thế giới.
Năm 1855, Farr trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hội
nghị thống kê quốc tế lần thứ 2 tại Paris. Bảng phân loại này gồm các nhóm
bệnh: Bệnh dịch, bệnh nói chung, bệnh địa phương được bố trí theo vị trí cơ
thể, bệnh tiến triển và bệnh là nguyên nhân trực tiếp của bạo động.
Song song với việc ngày càng hoàn thiện danh sách nguyên nhân tử
vong, bệnh tật thì phân loại bệnh tật cũng được coi trọng.
Để tạo tính thống nhất trên toàn thế giới về việc xây dựng các thông
tin y tế, Tổ chức y tế thế giới đã xây dựng bảng phân loại quốc tế bệnh tật.
Bảng phân loại này được tổ chức y tế thế giới triển khai xây dựng từ tháng
09 năm 1983. Phân loại bệnh tật đầu tiên được chấp nhận năm 1990. Trong
thực đạo thông vào phủ vị. Hầu chứng tương ứng với các chứng bệnh hay gặp
ở hầu họng như viêm amydal, viêm thanh quản, viêm họng,... của YHHĐ.
Bệnh ở hầu họng có thể là do nguyên nhân ngoại cảm như phong, hàn, thấp,
nhiệt, cũng có thể là do rối loạn chức năng sinh lý tạng phủ phế, tỳ, vị, can,
thận. Điều trị bệnh hầu họng cần chú ý nếu do ngoại cảm chứng thực thì nên
sơ tiết, không nên công phạt kẻo nhiệt độc hãm vào trong, nếu do trong bị âm
9
hư nên dùng thuốc tư nhuận mà không nên phát tán kẻo tân dịch hao tổn đến
không cứu được. Trong chữa bệnh hầu họng thì các phương pháp điều trị tại
chỗ như thổi thuốc, xông thuốc, ngậm thuốc, bôi thuốc, châm cứu, chích nặn
máu,... cũng rất quan trọng, mang lại hiệu quả rõ rệt [21], [22].
1.5.3. Háo suyễn
Háo nói về tiếng thở trong cổ họng, suyễn nói về hơi thở. Háo là thở có
tiếng kêu. Suyễn chỉ tình trạng khó thở thì hít vào hay thở ra hoặc cả thì hít
vào và thở ra, nếu nặng thì phải há mồm, so vai ưỡn cổ hay ngồi dậy để thở,
khó thở là nói đến khí ra vào khi thở rất khó khăn. Háo và suyễn hay đi kèm
với nhau gọi là chứng Háo suyễn. Liên hệ với YHHĐ, chứng háo suyễn gặp
trong bệnh hen phế quản.
Bệnh chủ yếu do cảm nhiễm ngoại tà cùng với đờm trọc ở bên trong cơ
thể và các tạng phế tỳ thận hư yếu mà gây nên. Nội thương là gốc của bệnh,
ngoại tà và các yếu tố thuận lợi và điều kiện cần thiết khiến cho phát bệnh,
trong đó, đa phần phát bệnh là do ngoại cảm hàn tà gây nên [23].
1.5.4. Lâm chứng
Lâm chứng là do thận hư, bàng quang thấp nhiệt làm cho khí hóa thất
điều, thủy đạo bất lợi mà gây ra hay buồn đi tiểu, đái buốt, đái rắt, bụng dưới
tức, đau âm ỉ. Theo YHHĐ, lâm chứng nằm trong phạm vi bệnh nhiễm trùng
tiết niệu, sỏi, u đường tiết niệu, đái dưỡng chấp... Lâm chứng được chia thành
trẻ em chủ yếu là tỳ vị hư nhược [23].
1.5.6. Cam chứng
Cam chứng là chứng bệnh mãn tính ở trẻ nhỏ, nguyên nhân là do tiên
thiên bất túc, hoặc do nuôi dưỡng không đầy đủ hoặc do bị bệnh thời gian dài
làm tổn thương tỳ vị, khí dịch bị hao tổn không thể nuôi dưỡng được tạng
phủ, kinh mạch, cân cốt, cơ phu. Liên hệ với YHHĐ, Cam chứng tương ứng
với bệnh suy dinh dưỡng của YHHĐ. Vị trí bị bệnh là ở tỳ vị nhưng có liên
quan tới ngũ tạng. Triệu chứng thường gặp trên lâm sàng là trẻ người gầy yếu,
11
cơ nhục teo nhẽo, sắc mặt nhợt, lông tóc khô gãy, tinh thần uể oải hoặc phiền
nhiễu, ăn uống kém, đại tiện thất thường. Nguyên tắc điều trị cam chứng
chính là kiện vận tỳ vị, thông qua điều lý tỳ vị để trợ nạp hóa, tư dưỡng khí
huyết, cơ nhục, tạng phủ. Ngoài ra, cần phải bổ sung dinh dưỡng hợp lí, sửa
thói quen ăn uống không khoa học, điều trị các bệnh nguyên phát nếu có [23].
1.5.7. Tiện bí
Tiện bí là tình trạng đại tiện bí kết không thông, đi ngoài phải ngồi lâu,
muốn đi ngoài nhưng phân khó ra. Liên hệ với YHHĐ chứng tiện bí gặp trong
bệnh táo bón mạn tính chức năng ở trẻ em. Tiện bí phát sinh do rối loạn chức
năng vận chuyển của đại trường bởi nhiều nguyên nhân:
•
Tích trệ: Trẻ bú sữa mẹ mà mẹ ăn uống không điều độ, ăn nhiều đồ cay nóng,
hoặc trẻ ăn thức ăn không hợp lứa tuổi gây khó tiêu, thức ăn tích lại ở trường
•
vị, hoá nhiệt sinh tiện bí.
Nguyên nhân gây ra di niệu phần lớn do tiên thiên bất túc, hậu thiên phát
triển không đầy đủ, chức năng của ba tạng phế tỳ thận không điều hoà, hoặc do
tâm thận bất giao, thấp nhiệt ở kinh can. Trong đó đa số trường hợp là do thận
khí bất cố, hạ nguyên hư hàn. Di niệu thì tạng phủ bị bệnh là ở bàng quang
nhưng có liên quan tới các tạng thận phế tỳ. Cơ chế gây bệnh là do tam tiêu
không khí hoá, chức năng của bàng quang suy giảm.Điều trị chủ yếu dùng pháp
ôn bổ hạ nguyên, cố sáp bàng quang; phế tỳ khí hư thì kiện tỳ ích khí, tâm thận
bất giao thì thanh tâm tư thận, nếu có thấp nhiệt thì thanh lợi thấp nhiệt [23].
1.5.9. Ngũ trì, ngũ nhuyễn
Ngũ trì là 5 chứng chậm: Chậm mọc tóc, chậm mọc răng, chậm biết đi,
chậm biết nói và chậm khôn. Ngũ nhuyễn là 5 chứng mềm: cổ mềm, môi
mềm xệ, tay mềm rũ, chân mềm yếu, lưng mềm. Chứng này tương đương với
bệnh bại não theo YHHĐ.
Bệnh chủ yếu do thận tiên thiên bất túc và hậu thiên nuôi dưỡng không
đầy đủ.Theo YHCT, trẻ sinh thiếu tháng thường do “tiên thiên thai bẩm thụ bất
túc, nguyên khí hư yếu”. Nếu lại thêm đẻ khó, chuyển dạ kéo dài gây ngạt,
nguyên khí càng bị tổn thương. Sách Y tông kim giám, mục “Ấu khoa tâm
pháp” viết: “Chứng ngũ trì ở trẻ em phần nhiều do khí huyết của cha mẹ hư
yếu, tiên thiên sút kém, đến nỗi sinh ra gân xương mềm yếu, đi lại khó khăn,
răng mọc chậm, ngồi không vững, chủ yếu đều do thận khí không đầy đủ”.
13
Ngoài ra, do nuôi dưỡng kém, làm tinh huyết không đầy đủ, không có nguồn
hóa sinh tân dịch, khiến bệnh nặng thêm, gây phát dục chậm, tinh thần chậm
chạp. Cách chữa nên bổ ích ngũ tạng, bổ dưỡng khí huyết. Chậm biết đứng, biết
đi, chậm mọc răng thì bổ thận khí là chủ yếu, kiêm bổ khí huyết. Chậm mọc tóc
thì bổ huyết làm chủ; chậm biết nói thì dưỡng tâm ích khí làm chủ [23].
1.6. Tổng quan về bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội và khoa Nhi
2 bác sỹ chuyên khoa I) và 10 điều dưỡng. Hiện tại khoa có 1 phòng khám
ngoại trú và 20 giường điều trị nội trú, trong đó có 2 giường điều trị tự
nguyện khép kín và được trang bị nhiều trang thiết bị phục vụ nhu cầu cần
thiết cho người bệnh, đáp ứng điều trị trung bình 800 - 900 bệnh nhi/năm.
Khoa khám và điều trị kết hợp YHHĐ và YHCT các bệnh thường gặp ở trẻ
em như các bệnh hô hấp (viêm họng, hen phế quản, viêm phế quản phổi,...),
các bệnh tiêu hóa (táo bón, tiêu chảy, hội chứng dạ dày...), các bệnh sốt virus,
nhiễm trùng đường tiểu, suy dinh dưỡng, đái dầm, bại não, các di chứng viêm
não... Khoa đã ứng dụng các phương pháp YHHĐ, YHCT, kết hợp YHCT và
YHHĐ, phối hợp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc mang lại hiệu quả
cao trong công tác điều trị và phòng bệnh, góp phần bảo vệ, nâng cao sức
khỏe nhân dân.
15
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương tiện nghiên cứu
−
−
Mẫu bệnh án nghiên cứu (phụ lục kèm theo).
Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD – 10).
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả hồ sơ bệnh án của bệnh nhi dưới 15 tuổi,
đến khám hoặc điều trị nội trú tại Khoa Nhi - Bệnh viện đa khoa YHCT
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu.
Cỡ mẫu: Lấy mẫu toàn bộ.
Quy trình nghiên cứu:
Bệnh nhi đến khám và điều trị tại khoa Nhi – Bệnh viện đa khoa YHCT Hà
+
+
Nội, đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn.
Tiến hành thu thập số liệu theo mẫu bệnh án thống nhất.
Phân tích, xử lý số liệu thu thập được, từ đó đưa ra kết luận.
2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
16
2.4.1. Các chỉ tiêu về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Tuổi: Dựa vào ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm vào viện, phân thành
−
−
+
các nhóm:
+ < 1 tuổi.
+ 1 –
2.4.3. Các chỉ tiêu về mô hình bệnh tật tại khoa điều trị nội trú:
Chẩn đoán tên bệnh theo YHHĐ.
Chẩn đoán mã bệnh theo ICD 10.
Chẩn đoán bệnh danh theo YHCT
−
−
−
2.4.4. Các chỉ tiêu về tình hình điều trị nội trú:
−
+
Phương pháp điều trị:
YHHĐ:
Các nhóm thuốc: Kháng sinh, long đờm, hạ sốt, giãn phế quản, chống viêm
steroid, chống phù nề, hạ sốt, bù nước – điện giải, men tiêu hóa, thuốc khác.
17
+
−
−
Đại học Y Hà Nội.
− Đề tài nghiên cứu hoàn toàn nhằm mục đích khoa học, không vì mục
đích khác.
− Trung thực với các số liệu thu thập được,tính toán đảm bảo chính xác.
−
Không làm hư hỏng hay thất lạc bệnh án, hoàn trả lại phòng lưu trữ sau
khi thu thập số liệu.
18
19
2.8. Phương pháp khống chế sai số
− Xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu, bao gồm: Bệnh án nghiên cứu nội
trú (Phụ lục 2), Bệnh án nghiên cứu ngoại trú (Phụ lục 3), phiếu hướng
dẫn thu thập số liệu (Phụ lục 4).
− Tập huấn cho các thành viên tham gia thu thập số liệu.
− In ấn chính xác phiếu điều tra và các tài liệu hướng dẫn.
− Kiểm tra các tài liệu thu thập được trong quá trình lấy số liệu.
Bệnh nhi đến khám, điều trị tại khoa Nhi
Đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn
817
44,3
11,6%
T9/2016 –
T8/2017
n
%
8474
Tổng 2 năm
54,6
1029
55,7
12,1%
n
1551
%
100
6
1846
100
11,9 %
Nhận xét: Số lượng bệnh nhi đến khám và điều trị tại Khoa Nhi trong 2
3 -
kê với p < 0,05.
3.1.4. Phân bố bệnh nhi theo bảo hiểm y tế
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhi đến khám theo bảo hiểm y tế
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhi đến khám có BHYT khá cao, chiếm 71,9%.
Tuy nhiên, vẫn còn tới 28,1% bệnh nhi đến khám chưa có BHYT.
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhi nội trú theo bảo hiểm y tế
22
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhi điều trị nội trú có BHYT tuyến 1 cao nhất
(69,8%), sau đó là bệnh nhi thuộc BHYT tuyến 2, chiếm 22,2%. Chỉ có 8%
bệnh nhi tự túc.
3.1.5. Phân bố bệnh nhi theo nơi cư trú
Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhi theo nơi cư trú
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhi tới khám và điều trị đa số thuộc khu vực quận
Cầu Giấy với tỷ lệ 43,4%, tiếp theo là quận Bắc Từ Liêm và quận Nam Từ
Liêm với tỉ lệ lần lượt là 22,3% và 27,2%. Các quận, huyện khác ở Hà Nội và
các tỉnh, thành phố khác chiếm tỉ lệ thấp.
23
3.2. Đặc điểm mô hình bệnh tật theo Y học hiện đại
3.2.1. Đặc điểm mô hình bệnh tật tại phòng khám
Bảng 3.4: Bảng phân loại bệnh tậttheo ICD 10
Chương
Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II: Khối u (Bướu tân sinh)
318
2,0
203
1,3
117
128
163
109
92
5594
2293
220
307
1750
0,8
0,8
1,0
0,7
0,6
36,0
14,8
1,4
2,0
11,3
4
5
6
Bệnh
Viêm phế quản
Viêm phế quản phổi
Viêm mũi họng
Viêm họng
Viêm amydal
Bệnh khác
Tổng
Mã ICD 10
J20
J18.0
J00
J02
J03
n
1647
1440
1273
769
259
206
5594
Tỉ lệ (%)
799
34,8
2
Viêm tuyến nước bọt
K11.2
490
21,4
3
Tiêu chảy
K59.1
357
15,6
4
Rối loạn tiêu hóa
K30
n
Tỉ lệ (%)
25
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
NK hô hấp trên
NK hô hấp dưới
NK tiết niệu
Sốt virus
Tiêu chảy cấp
Táo bón
Đái dầm
Suy dinh dưỡng
Bại não
Viêm tuyến nước bọt mang tai
J02-J04
2,0
Nhận xét: Ở khoa điều trị nội trú, thường gặp nhất là các bệnh về NK
hô hấp dưới, chiếm 59,4% tương ứng với 1096 bệnh nhi, trong khi các bệnh
về NK hô hấp trên chỉ chiếm 6,3% tương ứng 117 bệnh nhi. Đứng thứ 2 là sốt
virus (sốt xuất huyết Dengue, sốt virus khác...) với tỷ lệ 11,1% tương ứng 205
bệnh nhi. Tiếp đến là NK tiết niệu với 104 bệnh nhi (5,6%). Các bệnh không
nhiễm khuẩn như táo bón, đái dầm, suy dinh dưỡng, bại não chiếm tỉ lệ thấp,
lần lượt là 3,1%; 1,2%; 0,9%; 1,5%.