NHẬN XÉT CÁC DẤU HIỆU THƯỜNG GẶP TRONG NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN CỦA
BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2015
Bùi Vũ Bình, Hoàng Khắc Toàn
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nhận xét các dấu hiệu thường gặp trên bệnh nhân có nhiễm khuẩn bệnh viện tại
Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Đối tượng
nghiên cứu: Bệnh nhân được điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội. Kết quả:
Trong 202 bệnh nhân tham gia nghiên có 29 (14.4%) bệnh nhân có nhiễm khuẩn bệnh viện
tại thời điểm khảo sát. Trong số đó những bệnh nhân có tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện
cao hơn khi thực hiện thủ thuật xâm lấn mở khí quản ( OR=12.7 và 95%CI=1.1-145.4) và đặt
nội khí quản (OR=35.2 và 95%CI=4.0-319.9). Các dấu hiệu thường gặp của bệnh nhân như
suy giảm chức năng sinh hoạt, ho mới mắc, sưng không nóng, đau họng, dẫn lưu có dịch
hồng. Trong những bệnh nhân có nhiễm khuẩn bệnh viện thì các dấu hiệu như sốt
(RR=20.37 và 95%CI=9.64-43.03) , suy giảm chức năng sinh hoạt (RR=10.03 và
95%CI=1.75-6.74) và sưng nóng (RR=7.62 và 95%CI=4.03-11.55) xuất hiện thường xuyên
nhất.
Từ khóa
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV), Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội ( BVDHYHN), Kiểm soát nhiễm
khuẩn (KSNK), Tổ chứ Y tế thế giới (WHO)
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong những nguyên nhân hàng đầu đe dọa
đến an toàn của bệnh nhân, tăng tỷ lệ tử vong và các biến chứng, ngày điều trị tăng lên, làm
tăng chi phí và gánh nặng thuốc cho cả bệnh nhân và hệ thống y tế. Ước tính bất kỳ thời
điểm nào trên thế giới cũng có hơn 1,4 triệu người mắc NKBV [1]. NKBV là nhiễm khuẩn mắc
phải trong thời gian nằm viện mà không xuất hiện nhiễm khuẩn trước khi nhập viện. Nhiễm
khuẩn xảy ra sau 48 giờ kể từ khi nhập viện được xác định là NKBV [1].
NKBV thường gặp trên nhưng bệnh nhân có các can thiệp và thủ thuật xâm nhập như
phẫu thuật ngoại khoa, đặt nội khí quản, mở khí quản, đặt catheter mạch. Bệnh nhân được
điều trị tại khu vực hồi sức tích cực có tỷ lệ NKBV cao với nhiễm khuẩn hô hấp, tiếp đến là
N
- ≤ 4 ngày
93
46.0
- 5-15 ngày
71
35.2
38
18.8
- Chăm sóc tích cực
13
6.4
- Phẫu thuật
99
49.0
- Nội khoa
51
15.3
29
Đặc điểm
Khoa điều trị
Số ngày điều trị
- ≥ 16 ngày
Phương pháp điều trị
Tỷ lệ bệnh nhân điều trị tại khoa ngoại tổng hợp chiếm phần lớn (44.1%). Hơn một
nửa số bệnh nhân có số ngày điều trị nhỏ hơn 15 ngày (81.2%). Gần một nửa số bệnh nhân
điều trị bằng phương pháp phẫu thuật (49.0%). Số bệnh nhân mắc bệnh ung thư chiếm
29.0% trên tổng số bệnh nhân.
Bảng 3. Tình trạng bệnh nhân nhiễm khuẩn
Đặc điểm
Trước nhập viện
Số lượng (n)
44
Phần trăm (%)
21.8
Nhiễm khuẩn bệnh viện
khuẩn bệnh viện tại thời gian khảo sát. Trong đó hơn một nửa là nhiễm khuẩn hô hấp
(58.6%).
3.2 Các dấu hiệu của bệnh nhân
Bảng 4. Tỷ lệ xuất hiện của các dấu hiệu
Dấu hiệu
Suy giảm chức năng sinh hoạt
Ho mới mắc
Sưng không nóng
Đau họng
Sốt
Có mủ
Tiêu chảy
Dẫn lưu có mủ
Đỏ kết mạc
Mắt hồng đỏ
Số lượng (n)
59
54
44
40
27
2
1
0
0
0
Phần trăm (%)
29.2
RR
95%CI
81.48%
5
18.52%
20.37
9.64-43.03
17
28.81%
42
71.19%
10.03
1.75-6.74
7
77.78%
0.00%
7.18
5.25-10.52
Sốt
Suy giảm chức
năng sinh hoạt
Sưng nóng
ó
22
Trong số 27 bệnh nhân có dấu hiệu sốt thì có tới 22 bệnh nhân có nhiễm khuẩn bệnh
viện. Cả 2 bệnh nhân có mủ đều có nhiễm khuẩn bệnh viện.
3.3. Các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện
Bảng 6. Các thủ thuật, can thiệp liên quan đên nhiễm khuẩn bệnh viện
Đặc điểm
Số lượng
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Có
Không
Thủ thuật, can thiệp
- Kim luồn tĩnh mạch
3 (1.5%)
2 (66.7%)
1 (33.3%)
12.7
1.1-145.4
- Sonde dạ dày
25 (12.4%)
8 (32.0%)
17 (68%)
3.5
1.3-9.1
1 (0.5%)
1 (100%)
0 (100%)
7.1
Nguyễn Việt Hùng tỷ lệ là 50,2% nam và 49,8% nữ giới [5], cho thấy sự phân bố của
nam và bệnh nhân nữ là gần như cân bằng.
Tỷ lệ bệnh nhân bị nhiễm khuẩn trước khi nhập viện trong một nghiên cứu của
Nguyễn Thị Hiền Lương năm 2012 là 14.10% [6]. Nhưng trong nghiên cứu này, tỷ lệ
bệnh nhân bị nhiễm khuẩn trước khi nhập viện là 21,8% viện (44 bệnh nhân). Những
bệnh nhân được chẩn đoán chủ yếu là viêm ruột thừa. Họ đã có những triệu chứng
cấp tính thường trước khi được đưa vào bệnh viện, được điều trị bằng phẫu thuật
khẩn cấp kết hợp với thuốc kháng sinh sau khi nhập viện. NKBV là một vấn đề sức
khỏe toàn cầu. Cuộc khảo sát do WHO tiến hành tại 47 bệnh viện của 14 quốc gia đại
diện cho các khu vực khác nhau của thế giới cho thấy 8,4% số bệnh nhân mắc nhiễm
khuẩn bệnh viện[7]. Một cuộc khảo sát tách ra ở 36 bệnh viện ở Việt Nam dưới nhiều
bệnh viện khác nhau, tỷ lệ bệnh nhân có NKBV là 7,8% [5]. Phát hiện của chúng tôi
trong 202 bệnh nhân tại BVDHYHN thấy rằng tỷ lệ NKBV là 14,4%. Theo nghiên cứu
của NKBV trong bộ phận chăm sóc đặc biệt Bệnh viện Bạch Mai năm 2003 [8], nhiễm
khuẩn đường hô hấp chiếm 75% của nhóm NKBV. Kết quả giám sát trên toàn quốc
cũng cho thấy bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp đứng đầu trong các loại NKBV và tỷ
lệ 36,5 [9]%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, cùng một kết quả nghiên cứu NKBV ở
các quốc gia khác, nhiễm khuẩn đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (58,6%), tiếp theo
là nhiễm khuẩn vết mổ với tỷ lệ 17,2% và nhiễm khuẩn đường tiết niệu là 6,9%. Ngoài
ra còn có sự xuất hiện của các loại nhiễm khuẩn khác như nhiễm khuẩn đường tiêu
hóa, nhiễm khuẩn da, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương. Do
kích thước nhỏ mẫu của nghiên cứu và thực hiện tại BVDHYHN nên tỷ lệ các loại khác
nhau của bệnh nhiễm trùng cũng không phải là đặc trưng.
Dấu hiệu giảm khả năng chức năng sinh hoạt xuất hiện 59 lần là nhiều nhất. Bởi
vì nhiều bệnh nhân nhập viện do chấn thương, bệnh đường hô hấp, ung thư hay các
bệnh khác không thể làm một số hoạt động bình thường. Dấu hiệu ho mới mắc cũng
xuất hiện 54 lần, nhưng vì bệnh nhân nhập viện có dấu hiệu của người mới bắt đầu ho
có thể được đánh giá là ho mới mắc. Bầu không khí của bệnh viện cũng là một trong
những lý làm bệnh nhân xuất hiện ho. Ngoài ra còn có một số dấu hiệu thường xuất
hiện như: đau họng 40 lần, sưng không nóng 44 lần. Một số dấu hiệu xuất hiện rất ít
xuất hiện cùng với một số dấu hiệu đặc trưng của từng loại nhiễm khuẩn, bệnh nhân
sẽ có nguy cơ NKBV. Sau đó, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân để làm thêm các xét nghiệm
cận lâm sàng để đảm bảo hơn trong chẩn đoán điều trị NKBV.
KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này ở 202 bệnh nhân tại BVDHYHN. Sau khi
hoàn thành, các tác giả đã đưa ra một số kết luận:
- Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội là 14,4%.
- Ba loại nhiễm khuẩn chủ yếu là: nhiễm trùng đường hô hấp: 58,6%, nhiễm trùng vết
mổ: 17,2%, nhiễm trùng đường tiết niệu: 6,9%. và các loại nhiễm trùng khác:
17,3%.
- Yếu tố nguy cơ gây gây NKBV: đặt nội khí quản (OR = 35.8, 95%CI=4.0-319.9), mở
khí quản (OR = 12.7, 95%CI=1.1-145.4), ống thông dạ dày (OR = 3.5, 95%CI=1.39.1).
- Bệnh nhân có NKBV thường xuất hiện các dấu hiệu triệu chứng: sốt, sưng nóng, thở
nhanh, tiếng thở/phổi bất thường, đau ngực.
BÀN LUẬN
Sau khi hoàn thành nghiên cứu của tôi, tôi có một số kiến nghị cho BVDHYHN:
- Đầu tiên HMUH nên xây dựng một nghiên cứu quy mô lớn để đánh giá chính xác hơn
tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan
- Thứ hai, tiếp tục phát triển hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tạo điều kiện
cho việc hạn chế nhiễm khuẩn bệnh viện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. WHO (2002). Prevention of hospital-acquired infections: a practical guide/editors.
2. World Health Organization (2013). Health care associated infections fact sheet.
2013.
3. Craig J. C., Williams G. J., Jones M., et al. (2010). The accuracy of clinical symptoms and
signs for the diagnosis of serious bacterial infection in young febrile children: prospective
cohort study of 15 781 febrile illnesses. Bmj, 340,
4. Vũ Văn Giang and Nguyễn Việt Hùng (2005). Đánh giá hiệu quả phòng ngừa nhiễm khuẩn