BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
…..***…..
LÊ THỊ PHƯƠNG
Sö DôNG M¹NG X· HéI TRONG SINH VI£N
TR¦êNG §¹I HäC Y Hµ NéI N¡M 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2012 – 2016
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. PHẠM BÍCH DIỆP
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong trường
Đại học Y Hà Nội, cũng như các thầy cô trong Viện đào tạo Y học dự phòng
và Y tế công cộng đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích
và quý báo trong suốt thời gian học tập đại học tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn Giám đốc Trung tâm khảo thí và đảm bảo
chất lượng, cùng với các cán bộ làm việc tại trung tâm đã tạo điều kiện giúp
đỡ em trong suốt quá trình thu thập số liệu tại trung tâm.
Em xin cảm ơn tới toàn thể thầy cô trong Bộ môn Giáo dục sức khỏe đã
có những nhận xét và góp ý chân thành giúp em hoàn thành tốt khóa luận tốt
nghiệp này.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo ThS. Phạm Bích Diệp
DANH MỤC VIẾT TẮT
MXH
Mạng Xã Hội
SV
Sinh Viên
TT
Truyền Thông
TTGDSK
Truyền Thông Giáo Dục Sức Khỏe
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các biến số/chỉ số trong nghiên cứu
Bảng 3.1: Số lượng sinh viên theo giới tính và năm học
Bảng 3.2: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo giới tính
Bảng 3.4: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo năm học
Bảng 3.5: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo học lực
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ sử dụng các mạng xã hội để học tập trong sinh viên
Biểu đồ 3.7: Mức độ sẵn sàng sử dụng mạng xã hội để học tập của sinh viên
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên số khi mà mỗi giây mỗi phút trôi
qua có không biết bao nhiêu là hoạt động trên internet đang diễn ra. Cùng với
sự tiến bộ của công nghệ, sự ra đời của mạng xã hội trực tuyến đánh dấu một
sự thay đổi lớn trong cách chúng ta giao tiếp với nhau. Sự ra đời ồ ạt của các
mạng xã hội (MXH) thời gian gần đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam với
những tính năng, nguồn thông tin phong phú, đa dạng kéo theo sự gia tăng
ngày càng nhiều thành viên tham gia.
Tại Việt Nam, MXH phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc, có đến 86%
người dùng internet từng ghé thăm các trang MXH. Những trang MXH
thường được sử dụng tại Việt Nam là Facebook, Youtube, Zingme, Instagram,
Twitter,…. Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng thành viên trên các
trang mạng xã hội là cao nhất trên thế giới [1]. Tỷ lệ sử dụng MXH rất cao
trong đối tượng sinh viên (96,9% sinh viên đang sử dụng MXH và chỉ có
3,1% số sinh viên được hỏi trả lời là không sử dụng MXH [1]). Điều này cho
thấy MXH ở một khía cạnh nào đó có khả năng ảnh hưởng đến thói quen, tư
duy, lối sống, văn hóa… của những người sử dụng mạng xã hội nói chung và
sinh viên nói riêng.
Cùng với sự phát triển đó, MXH có thể hỗ trợ tích cực cho sinh viên trong
việc học tập, đặc biệt là sinh viên đại học. Thậm chí, mạng xã hội còn tạo ra
môi trường tốt cho sinh viên mở rộng kiến thức nhờ vào những tiến bộ của
công nghệ (94,7% sinh viên cho rằng mình có thêm kiến thức xã hội và học
tập từ MXH [2]). Sinh viên không chỉ có thể học tập mà còn có thể rèn luyện
1.1.1. Định nghĩa mạng xã hội
“ Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng
rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông
tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn
(forum), trò chuyện trực tiếp (chat) và các hình thức tương tự khác”[1].
MXH cũng giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau.
Nhưng nó khác một trang web thông thường ở chỗ, MXH có khả năng truyền
tải thông tin và tích hợp các ứng dụng tương tác. Một trang web bình thường
sẽ giống như truyền hình cung cấp càng nhiều thông tin, thông tin càng hấp
dẫn càng tốt. Còn MXH được tạo ra để mọi người có thể trao đổi, trò chuyện
với nhau bằng cách gửi tin nhắn, hình ảnh, video,…[1].
1.1.2. Chức năng của mạng xã hội
Ngày nay, MXH có rất nhiều tính năng khác nhau và thuận tiện cho người
sử dụng như: chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận.
Nhưng nhìn chung, MXH có bảy chức năng chính [6] như sau:
- Chức năng “danh tính” cho biết thông tin bao gồm: tên, tuổi, giới tính,
nghề nghiệp, địa điểm… của người sử dụng.
- Chức năng “giao tiếp” là chức năng chủ yếu của MXH. Giao tiếp là
hoạt động không thể thiếu trong các trang MXH.
- Chức năng “chia sẻ” trên MXH là người sử dụng có thể trao đổi, truyền
đi hay nhận được một nội dung bất kỳ từ những người dùng khác, ví dụ như:
một văn bản, video, hình ảnh, âm thanh,….
11
- Chức năng “hiển thị sự có mặt” cho người dùng biết được trong số bạn
bè trên MXH của họ có những ai đang truy cập MXH hay nói theo cách khác
là đang online cùng họ. Điều này xảy ra thông qua các dòng trạng thái như
‘hiện’ hoặc ‘ẩn’.
Ngoài ra, trong sinh viên còn ưa chuộng sử dụng e-mail (đứng thứ 2 sau
Facebook) [3].
Tại Việt Nam, cũng như trên thế giới mọi người sử dụng mạng xã hội
Facebook nhiều hơn các mạng xã hội khác, tiếp đến là Zingme, Twitter,
Youtube…. Một khảo sát của Vietnamsurvey 2/2013 về mức độ ưa chuộng
của một số trang MXH tại Việt Nam đã chỉ ra rằng Facebook là MXH được
sử dụng nhiều nhất (93%), Zingme (55%), tiếp đến Twitter (45%), Youtube
(27%) [9].
Trong sinh viên Việt Nam, Facebook cũng được sử dụng rất nhiều. Xu thế
sử dụng MXH trong sinh viên Việt Nam hiện nay đều lựa chọn các trang
MXH nước ngoài là nhiều, còn những trang MXH thuần Việt thì ít được sử
dụng hơn [10].
1.2. Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong cuộc sống, học
tập và giảng dạy.
1.2.1. Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong cuộc sống
Trong thời kỳ công nghệ như ngày nay, MXH đã được ứng dụng rộng rãi
trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống như: MXH trong marketing, MXH trong
tuyển dụng,… Trong lĩnh vực tuyển dụng, một số nhà tuyển dụng thường sử
dụng thông tin cá nhân trên các trang mạng xã hội của các ứng cử viên để cho
điểm về cá nhân đó. Theo cuộc điều tra của một website về tuyển dụng hàng
đầu thế giới CareerBuilder.com, các nhà tuyển dụng có xu hướng tra cứu
thông tin cá nhân của ứng viên trên các mạng xã hội như Facebook, Linkedin
[11]. Trong lĩnh vực marketing, ứng dụng của MXH được sử dụng để nắm bắt
13
xu hướng mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng, thông qua số liệu thống kê
về số người truy cập internet và mạng xã hội. Từ đó giúp hình thành kế hoạch
phát triển sản phẩm và hướng kinh doanh cho sản phẩm đó [12].
Đối với nghề y là một nghề đặc biệt không chỉ chú trọng về kiến thức
sách vở mà kỹ năng cũng như kinh nghiêm thực hành là không thể thiếu, nên
việc ứng dụng MXH trong học tập và giảng dạy là rất bổ ích. Trên thế giới,
với việc đưa ứng dụng MXH vào trong giảng dạy tại các trường Đại học y
khoa đã mang lại hiệu quả cao trong học tập của sinh viên, đặc biệt là về kỹ
năng lâm sàng.
Có thể kể đến như, việc trường Đại học Rhode Island đã đưa MXH
Facebook vào một khóa học dược lão khoa tại trường với mục đích khuyến
khích sinh viên thảo luận trong lớp và để kết nối sinh viên với người cao tuổi
tình nguyện tham gia vào khóa học. Kết quả đạt được là sinh viên cải thiện
nhận thức của mình về người lớn tuổi [4]. Ngoài ra, mạng xã hội Twitter cũng
đã được sử dụng để tăng cường kỹ năng lâm sàng và ra quyết định của sinh
viên điều dưỡng trong chăm sóc sức khỏe [17]. Tương tự như thế, MXH
Youtube được áp dụng khá hiệu quả trong các lớp học lâm sàng, bằng việc
sinh viên sẽ được xem các video minh họa những trường hợp bệnh trên lâm
sàng, sau đó sinh viên thảo luận để đưa ra câu hỏi cũng như câu trả lời phù
hợp [17]. Sự kết hợp của mạng xã hội vào giáo dục lâm sàng đã mang lại hiệu
quả cao trong học tập của sinh viên y khoa.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng của mạng xã hội trong giảng dạy y khoa cũng
có thể được tiến hành qua việc xây dựng các mô hình, còn có thể gọi là “Mô
hình mạng xã hội trong y khoa”. Những mô hình này đã đem lại kết quả khả
quan và được ghi nhận rất tích cực trên thế giới. Ví dụ mô hình "mEducator"
hay còn gọi là "Thực hành tốt nhất”, đặt ra mục tiêu là giáo dục và chia sẻ nội
dung liên quan đến y tế. Thông qua các trường hợp lâm sàng có sẵn, tương tác
với bệnh nhân giả, từ đó trao đổi, thảo luận giữa giảng viên thính giảng và
15
học viên tham gia diễn đàn để phân tích vấn đề, xác định kiến thức và tranh
cập internet trong ngày để lên mạng xã hội [1],[2]. Sinh viên Việt Nam có xu
hướng dành nhiều thời gian sử dụng mạng xã hội hơn so với sinh viên trên thế
giới (3h/ngày > 2h/ngày) [5],[8]. Bên cạnh đó, thời gian truy cập mạng xã hội
trung bình trên các công cụ của sinh viên là khác nhau. Sinh viên chủ yếu sử
dụng điện thoại di động và ipad nhiều hơn các công cụ khác [21].
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội trong sinh viên
Bất kỳ hành vi nào của con người đều chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố
khác nhau như: cá nhân, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, môi trường
sống…, đối với hành vi sử dụng MXH cũng không ngoại lệ. Hành vi sử dụng
MXH chịu ảnh hưởng từ lúc tiếp cận đến lúc đã sử dụng và duy trì hành vi sử
dụng đó. Ví dụ, có đến 80% sinh viên sử dụng MXH là do tự mình tìm hiểu
và sử dụng, tiếp đến 73% sinh viên trả lời rằng họ sử dụng MXH là do bạn bè
giới thiệu. Ngoài ra, hành vi sử dụng MXH còn chịu ảnh hưởng của mục đích
sử dụng như giải trí, tìm kiếm tài liệu, học nhóm hay giáo viên yêu cầu [2].
Trong sinh viên, mục đích sử dụng MXH để giao tiếp vẫn cao hơn so với
mục đích học tập. Tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quý Thanh về
“Internet và định hướng giá trị của sinh viên về tình dục trước hôn nhân” đã
chỉ ra rằng sinh viên Việt Nam sử dụng internet cho mục đích chat là 66,3%;
còn việc tìm kiếm thông tin học tập, đọc báo, truyện tranh trên mạng 65,6%
[22]. Giới không phải là yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng MXH. Ở Việt Nam nữ
giới sử dụng MXH ít hơn nam giới. Tuy nhiên, nghiên cứu của Hargittai
(2007), thì nữ giới sử dụng MXH gấp 1,6 lần nam giới. Một nghiên cứu khác
của Clark, Logan, Luckin, Mee, và Oliver – 2009 thì lại cho rằng sử dụng
MXH giữa nam và nữ không có gì khác nhau [8],[22].
Hành vi sử dụng MXH chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi suy nghĩ của bản
thân. Việc nhận định sử dụng mạng xã hội là tốt hay xấu ảnh hưởng đến hành
vi sử dụng MXH. Hiện nay đa phần mọi người đều cho rằng sử dụng mạng xã
17
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên đại học hệ chính quy trường Đại học Y
Hà Nội năm thứ 2, năm thứ 4 và năm thứ 6 năm học 2014 - 2015 thuộc các
chuyên ngành: đa khoa, răng hàm mặt, y học cổ truyền, y học dự phòng, y tế
công cộng, điều dưỡng, kỹ thuật y học và dinh dưỡng.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Y Hà Nội
2.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành bắt đầu từ tháng 15/01/2016 đến 15/05/2016
2.4. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.5. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu: Được tính toán theo công thức cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong
quần thể
n=
Z2(1 – α/2) p ( 1 – p)
(p.ε)2
Trong đó: n = Cỡ mẫu: Số sinh viên cần điều tra. Z (1 – α/2) = 1,96 là giá trị
của độ tin cậy trong nghiên cứu tương ứng với α = 0,05 và độ tin cậy là 95%.
p = 22,3% là tỷ lệ sử dụng MXH Instagram 2014 [26]. ε = 0,05 là khoảng sai
lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệ của quần thể (P).
Từ công thức trên ta tính được n = 264
Cỡ mẫu tối thiểu là 264 và cộng với 10% dự phòng không tiếp cận được
với đối tượng nghiên cứu, làm tròn 300 mẫu.
Năm thứ 2/ năm thứ 4/ năm thứ 6
5
Nơi ở
Nơi ở hiện tại
Điểm học lực học kỳ II Điểm trung bình học lực lực học kỳ II năm
6
năm học 2014 - 2015
học 2014 - 2015
Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên trường Đại học Y Hà
Nội
Mức độ sử dụng mạng
Hàng ngày/ hàng tuần/ hàng tháng/ vài lần
7
xã hội
trong năm/ chưa bao giờ
Công cụ truy cập
Tỷ lệ % các công cụ sinh viên thường sử
8
dụng để truy cập mạng xã hội
9
Tiếp cận mạng xã hội
SV biết đến mạng xã hội lần đầu từ đâu
Thời gian sử dụng mạng Phút/ngày
10
xã hội trong ngày
Mục đích sử dụng mạng Tỷ lệ % các mục đích sử dụng mạng xã hội
11
xã hội
của sinh viên
12 Những mạng xã hội đã Tỷ lệ % các trang mạng xã hội mà sinh viên
học tập
Mục đích học tập trên
Tỷ lệ % các mục đích học tập trên mạng xã
16
mạng xã hội
hội của sinh viên
Hình thức học tập trên
Tỷ lệ % các hình thức học tập trên mạng xã
17
mạng xã hội
hội của sinh viên
Mức độ thường xuyên
SV cho biết tần số sử dụng thông tin học tập
18 sử dụng thông tin học
trên mạng xã hội của bản thân
tập trên mạng xã hội
Mức độ sẵn sàng sử
Tỷ lệ % mức độ sẵn sàng sử dụng mạng xã
19 dụng mạng xã hội để
hội để học tập của sinh viên
học tập
Mức độ đồng ý của sinh SV lựa chọn 1 trong 5 mức độ từ rất không
viên về việc sử dụng
đồng ý đến rất đồng ý
20
mạng xã hội trong giảng
dạy tại trường
Ý kiến của sinh viên về SV lựa chọn 1 trong 5 mức độ từ rất không
khả năng áp dụng mạng đồng ý đến rất đồng ý
21
Tập huấn kỹ cho cán bộ thu thập số liệu để trong quá trình sinh viên
điền phiếu, cán bộ thu thập số liệu có thể giải thích thống nhất những điểm
sinh viên không hiểu.
+ Với sai số nhập liệu: tạo file nhập liệu trong Epidata, trong đó có file
check, có thể hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu. Làm sạch số liệu trước
khi nhập bằng cách kiểm tra chéo thông tin giữa các câu hỏi.
22
2.9. Nhập liệu và quản lý số liệu
Số liệu được kiểm tra và mã hóa và làm sạch trước khi nhập vào máy
tính. Số liệu được quản lý bởi phần mềm EpiData 3.1
2.10. Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý phân tích bằng phần mềm STATA 12.0. Để phân tích
thực trạng sử dụng mạng xã hội và sự khác biệt giữa các nhóm test Khi bình
phương và test Fisher’s được sử dụng để kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ giữa
các nhóm. MannWithney test và Kruskal Wallis test được sử dụng để kiểm
định sự khác biệt về giá trị trung bình của các nhóm. Điểm trung bình được sử
dụng để mô tả ý kiến của sinh viên về sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy
và khả năng áp dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường. Mỗi câu hỏi đều
có 5 mức độ lựa chọn từ 1 đến 5: rất không đồng ý đến rất đồng ý. Ý kiến của
sinh viên được đánh giá qua điểm trung bình. Trên 3 điểm được xem là đồng
ý, dưới 3 điểm là không đồng ý.
2.11. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được hội đồng đạo đức trường đại học Y tế công cộng
phê duyệt. Mọi thông tin trong nghiên cứu đều được bảo mật. Đối tượng có
quyền lựa chọn tham gia/không tham gia vào nghiên cứu. Ngoài ra, đối tượng
có thể dừng tham gia vào nghiên cứu bất cứ lúc nào.
%
n
%
n
%
Nam
37
12,5
41
13,8
55
18,5
133
44,8
Nữ
297
100
Nhận xét: Tổng số sinh viên nam là 133 chiếm 44,8%, tổng số sinh viên nữ
là 164 chiếm 55,2%. Sinh viên năm thứ 2 chiếm 32,6%, sinh viên năm thứ 4
và năm thứ 6 mỗi năm chiếm 33,7%.
24
Bảng 3.2: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm (n = 297)
Đa khoa
Y học dự phòng
Y tế công cộng
Chuyên
Điều dưỡng
Kỹ thuật y học
ngành học
Răng hàm mặt
Y học cổ truyền
Dinh dưỡng
Ký túc xá của trường
Sống ở nhà với bố mẹ
Nơi hiện
Thuê nhà trọ
đang ở
Khác
Trung bình/dưới trung bình
0,3
24,3
15,9
56,8
3,0
25,8
55,7
18,5
Nhận xét: Sinh viên thuộc chuyên ngành đa khoa chiếm tỷ lệ nhiều nhất
63,7%, tiếp đến là sinh viên chuyên ngành điều dưỡng chiếm 11,5%, sau đó là
sinh viên chuyên ngành răng hàm mặt chiếm 8,1% và dự phòng chiếm 7,8%.
Sinh viên thuộc các chuyên ngành khác chiếm tỷ lệ ít hơn.
Sinh viên phần lớn là thuê trọ ở ngoài chiếm 56,8%. Ngoài ra, có 24,3%
sinh viên ở ký túc xá của trường và 15,9% sinh viên sống cùng gia đình. Khi
trả lời về học lực của năm học vừa qua có 4 sinh viên (chiếm 1,4%) học lực
xếp loại dưới trung bình, 71 sinh viên (chiếm 24,7%) có học lực xếp loại
trung bình, nhiều nhất có 160 sinh viên (chiếm 55,8%) xếp loại học lực khá
và 52 sinh viên (chiếm 18,1%) có học lực giỏi.
3.2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội nói chung trong sinh viên trường
Đại học Y Hà Nội
100% sinh viên trường Đại học Y Hà Nội tham gia nghiên cứu trả lời có
sử dụng mạng xã hội.
25
3.2.1. Kênh tiếp cận với mạng xã hội lần đầu tiên
Biểu đồ 3.1: Kênh cung cấp thông tin về sử dụng mạng xã hội lần đầu tiên