Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình - Pdf 25


1
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN

đặng thị nga

Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên
tr-ờng cao đẳng s- phạm Thái Bình
LUậN VĂN THạC Sỹ
Chuyên ngành: Tâm lý học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS.TS Trần Thị Minh Đức
Hà Nội - 2013

3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1. Tổng quan nghiên cứu về nhu cầu sử dụng mạng xã hội 13
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu về nhu cầu 13
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu về mạng xã hội 17
1.2. Một số khái niệm cơ bản 26
1.2.1. Khái niệm về nhu cầu 26
1.2.2. Khái niệm mạng xã hội 31
1.2.3. Những ảnh hưởng của mạng xã hội đến người sử dụng 36
1.2.4. Đặc điểm tâm lý của sinh viên 39
1.2.5. Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên 41
Tiểu kết chƣơng 43
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1. Tổ chức nghiên cứu 44
2.1.1. Giới thiệu chung về khách thể nghiên cứu thuộc trường Cao đẳng
Sư phạm Thái Bình 44
2.1.2. Tiến trình thực hiện 45
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 46
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 46

5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê số lượng sinh viên theo năm học và theo giới tính(%) 44
Bảng 3.1. Thời gian sinh viên vào mạng xã hội (%) 54
Bảng 3.2. Thời gian truy cập mạng xã hội của sinh viên xét theo năm học 55
Bảng 3.3. Thời gian truy cập mạng xã hội của sinh viên xét theo giới tính (%) 56
Bảng 3.4.Số bạn trên mạng xã hội của sinh viên(%) 59
Bảng 3.5.Nhận thức về tính năng của MXH 66
Bảng 3.6. Những khó khăn khi sử dụng MXH 72
Bảng 3.7. Cảm xúc của sinh viên khi không được sử dụng mạng xã hội 76
Bảng 3.8. Đánh giá của sinh viên về sự đáp ứng của MXH đối với nhu cầu học
tập, giải trí và tìm kiếm việc làm (ĐTB) 87
Bảng 3.9.Đánh giá của sinh viên về sự đáp ứng của mạng xã hội đối với nhu
cầu giao tiếp xã hội (ĐTB) 88
Bảng 3.10.Đánh giá của sinh viên về những ảnh hưởng tiêu cực của
MXH9(%) 96
6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thống kê số lượng sinh viên theo nơi sinh(%) 45
Biểu đồ 3.1: Mức độ sử dụng MXH của sinh viên(%) 51
Biểu đồ 3.2. Các mạng xã hội sinh viên thường xuyên sử dụng(%) 52
Biểu đồ 3.3: Thời gian trong ngày SV thường sử dụng MXH (%) 57
Biểu đồ 3.4. Đối tượng giao lưu trên mạng của sinh viên(ĐTB) 60
Biểu đồ 3.5: Nguồn cập nhật kiến thức chủ yếu của sinh viên(%) 62
Biểu đồ 3.6: Vai trò của MXH đối với bản thân sinh viên(%) 65

viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình đã hợp tác giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài không tránh khỏi thiếu sót, tôi kính mong
nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2013
Tác giả Đặng Thị Nga

8
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng
bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Trần Thị Minh Đức.

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2013
Tác giả Đặng Thị Nga
Mạng xã hội là mô hình truyền thông mới nhất trong quá trình phát triển xã
hội đương đại, làm đơn giản hoá các phương thức tương tác và kết nối giữa con
người với nhau. Dù tuổi đời chỉ mới vài năm song các mạng xã hội như Facebook,
Twitter… đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng phổ biến toàn cầu, thu hút đông
đảo người dùng và thậm chí còn "gây nghiện" cho không ít người. Với rất nhiều
người, mạng xã hội không chỉ là nơi giao lưu kết bạn, bày tỏ bản thân, liên lạc với
gia đình, mà còn là một công cụ tiếp thị, đánh bóng tên tuổi, lôi kéo bạn bè. Mạng
xã hội cũng là miếng đất màu mỡ tạo cơ hội phát triển tội phạm mạng. Nó không
chỉ ảnh hưởng đến người dùng nhẹ dạ, mà còn kéo theo những hệ lụy cho cả bạn bè,
đồng nghiệp và gia đình thông qua những tội phạm mạng lừa đảo. Mạng xã hội
cũng chính là môi trường lý tưởng cho các “tư tưởng độc hại”, thiếu lành mạnh lan
truyền, hay tạo nên những trào lưu xã hội khó kiểm soát…
Các nghiên cứu về mạng xã hội đã không ngừng phát triển nhằm khai thác
những thế mạnh của mạng xã hội nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của người sử dụng.
Trên bình diện nghiên cứu, hiện nay chúng ta chưa có một cuộc điều tra xã hội nào
mang tính cả nước về việc sử dụng mạng xã hội như: những mạng xã hội nào thanh
niên thường sử dụng? Những lý do sử dụng mạng xã hội là gì? Những ảnh hưởng
nào của chúng đến đời sống tâm lý- xã hội của thanh niên? Việc học sinh, sinh
viên và không ít người trưởng thành tiêu tốn thời gian, tiền bạc, tương lai… vào
hình thức giao tiếp ảo - mạng xã hội, mà quên đi những hình thức giao tiếp truyền
thống đã khiến các mạng xã hội có thể trở thành một vấn nạn xã hội. Tất cả những
câu hỏi này đều chưa có lời giải đáp.
Thái Bình là một tỉnh thuần nông, tuy nhiên những năm gần đây sự bùng nổ
mạnh mẽ của internet cũng đã tác động không nhỏ đến mọi tầng lớp nhân dân nói
chung và học sinh sinh viên nói riêng. Nhận thấy được mạng xã hội là một phương
tiện truyền thông ngày càng gắn bó chặt chẽ thân thiết với sinh viên nói chung, sinh
viên trường CĐSP Thái Bình nói riêng và sự tham gia sử dụng mạng xã hội của sinh

11
viên ngày càng nhiều. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu sử

giữa các nhóm khách thể nghiên cứu.

12
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống phương pháp luận và những cơ sở lý luận về mạng xã
hội; nhu cầu và nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong sinh viên.
- Khảo sát về nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên CĐSP Thái Bình
hiện nay.
- Đánh giá thực trạng nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên CĐSP Thái
Bình và ảnh hưởng của nó tới hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên.
- Phân tích các yếu tố tác động của MXH đối với nhu cầu sử dụng MXH của
sinh viên từ đó, giúp họ nhận thức được những mặt lợi hại của dịch vụ này.
- Đề xuất các giải pháp giúp sinh viên nói chung và sinh viên CĐSP Thái
Bình nói riêng có định hướng tốt hơn và đạt hiệu quả hơn trong việc sử dụng mạng
xã hội.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về khách thể nghiên cứu đề tài chỉ tập trung khảo sát 300 sinh viên tại
trường CĐSP Thái Bình
- Về nội dung nghiên cứu đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng nhu cầu, những
biểu hiện nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên và những tác động chủ yếu
của MXH đến đời sống và học tập của sinh viên.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích đánh giá
các tài liệu và các nghiên cứu trước để kế thừa có chọn lọc xây dựng tổng quan và
lịch sử vấn đề nghiên cứu góp phần bổ sung hệ thống lý luận cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi (Anket): Đây là phương pháp chính của đề
tài nhằm thu thập những thông tin về nguyên nhân sử dụng mạng xã hội, thực trạng
sử dụng mạng xã hội (tần suất và thời gian vào mạng ), thái độ xã hội đối với việc
sinh viên dùng mạng xã hội. Với đề tài này chúng tôi sử dụng thiết kế nghiên cứu
điều tra một lần theo lát cắt ngang.

cơ bản của con người và cho rằng cần phải thỏa mãn nhu cầu đó trong quá trình hình
thành và phát triển nhân cách. Đó là các nhu cầu và thứ tự được sắp xếp như sau:
Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và
nhu cầu tự khẳng định. Ông nhấn mạnh khả năng làm thỏa mãn nhu cầu cấp thấp dễ
hơn thỏa mãn nhu cầu cấp cao vì nhu cầu cấp thấp có giới hạn và sự thỏa mãn bên
ngoài, nhu cầu cấp cao khó thỏa mãn hơn với lí do chúng được thỏa mãn từ nhu cầu
bên trong, từ nội tâm cá nhân. Sự thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy con người

14
hành động. Các hành vi mua hàng, hành vi tiêu dùng du lịch, hành vi sử dụng các
phương tiện thông tin đại chúng có thể bị chi phối 5 loại nhu cầu trên.
Maslow khẳng định các nhu cầu trong hệ thống thứ bậc của con người có
quan hệ với nhau, ông cho rằng hệ thống thứ bậc nhu cầu của con người rất linh
hoạt và thay đổi vị thế phù hợp với hoạt động của chủ thể cũng như thích ứng với
hoàn cảnh, trạng thái cơ thể trong những thời điểm nhất định. Khi cá nhân thỏa mãn
nhu cầu ở mức độ thấp thì nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ xuất hiện, sự thỏa mãn nhu
cầu và xuất hiện những nhu cầu ở mức độ cao hơn.
Trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng các bậc thang nhu cầu
của Maslow làm cơ sở nghiên cứu nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên. Các
biểu hiện nhu cầu sử dụng MXH của sinh viên cũng chính là sự cụ thể hóa các bậc
thang nhu cầu của Maslow.
- Quan điểm các nhà tâm lý học hoạt động về nhu cầu
Sau cách mạng tháng Mười, nền Tâm lý học Liên Xô đã có bước phát triển
mạnh mẽ. Dưới ánh sáng của Triết học Mác – Lê Nin, các nhà Tâm lý học Liên Xô
khi nghiên cứu về con người, đời sống tâm lý người đã khẳng định: Nhu cầu là yếu
tố bên trong quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người. Ngay trong triết
học, F Anghen- tuy không phải là một nhà tâm lý học, nhưng khi nói về quan điểm
của mình về nhu cầu, ông khẳng định: “Người ta quy cho trí óc, cho sự mở mang và
hoạt động của bộ óc tất cả công lao làm cho xã hội phát triển được nhanh chóng và
đáng lẽ người ta phải giải thích rằng hoạt động của mình là do nhu cầu của mình

tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần, chứa đựng những khả năng thỏa
mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò định hướng, đồng thời là động lực bên trong kích
thích hoạt động của con người.” [10,tr.221]. Ông cho rằng: cũng như những đặc
điểm tâm lý khác của con người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực
tiễn. Theo ông, nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ
cũng là nhu cầu về một “cái gì đó”. Nhu cầu, với tính chất là sức mạnh nội tại thì
chỉ có thể được thực thi trong hoạt động. Lúc đầu, nhu cầu chỉ xuất hiện như là một
điều kiện, một tiền đề cho hoạt động, chỉ đến khi chủ thể thực sự bắt đầu hành động
với đối tượng thì lập tức xảy ra sự biến hoá của nhu cầu, nó không còn tồn tại một
cách tiềm tàng. Sự phát triển của hoạt động càng đi xa bao nhiêu thì nhu cầu càng
chuyển hoá bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động.[10,tr.221]
Tóm lại, các nghiên cứu nói trên về nhu cầu đã nêu bật được vai trò quan
trọng của nhu cầu đối với hoạt động của con người cũng như đối với sự hình thành

16
và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở quan
điểm cho rằng nhu cầu của con người là một hệ thống, khi hệ thống này bắt đầu
phát huy tác dụng thì con người chuyển sang trạng thái tích cực năng động nói
chung cả về mặt sinh lý thần kinh và tâm lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
nhận thức, rung cảm và hoạt động thực tiễn diễn ra. Nhu cầu của con người không
ngừng biến đổi theo sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi nghiên cứu theo hướng đối tượng
của nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên cũng chính là động cơ thúc đẩy
hành động sử dụng mạng xã hội của sinh viên. Đồng thời nhu cầu sử dụng mạng xã
hội của sinh không ngừng biến đổi theo sự phát triển của xã hội nói chung và theo
sự phát triển của công nghệ thông tin nói riêng.
1.1.1.2. Các nghiên cứu về nhu cầu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu nhu cầu trên khách thể là học sinh,
sinh viên và một số nhóm quần chúng nhân dân đã được thực hiện trong các khoá luận,
luận văn, luận án của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Theo đó, có thể

TS. Lã Thu Thủy với đề tài: “Hệ thống nhu cầu của cư dân ven đô trong quá
trình đô thị hóa”. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy thực trạng nhu cầu của
người dân ven đô là vô cùng phong phú và đa dạng. Xem giữa nhu cầu vật chất đơn
thuần là những nhu cầu tinh thần mang tính tinh tế. Tác giả cho rằng, nếu có thể tạm
định lượng các loại nhu cầu để xem xét xu hướng chung trong hệ thống nhu cầu của
người dân vùng ven đô cho thấy nhu cầu học tập của con cái chiếm ưu thế nhất, thứ
hai là nhu cầu việc làm, thứ ba là nhu cầu vật chất, nhu cầu văn hóa tinh thần và nhu
cầu đất đai được xếp cuối cùng với vị trí ngang nhau. Trong quá trình đô thị hóa
những nhu cầu đó có những biến đổi nhất định, tùy thuộc vào mức độ đô thị hóa của
từng vùng khác nhau.
Các công trình ở Việt Nam đã góp phần làm rõ thêm lí luận nhu cầu của tâm
lý học macxit trong các lĩnh vực thực tiễn, đặc biệt là trong giáo dục. Hầu hết các
công trình ở Việt Nam đều nhằm phát hiện các đặc điểm và biểu hiện của nhu cầu
trong các hoạt động cụ thể của con người, trên cơ sở lí thuyết và thực nghiệm tìm ra
giải pháp làm thoả mãn và nâng cao hơn nữa chất lượng của nhu cầu đó.
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu về mạng xã hội
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới về mạng xã hội
Mạng xã hội (Social network) hay còn gọi là Mạng xã hội ảo là dịch vụ kết
nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác

18
nhau. Khi các cá nhân tham gia vào xã hội ảo - mạng xã hội thì khoảng cách về
không gian địa lý, giới tính, độ tuổi, thời gian trở nên vô nghĩa. Nhờ vào những ưu
việt này mà mạng xã hội đang có tốc độ lây lan chóng mặt ở mọi lứa tuổi, đặc biệt
là ở thanh niên trên toàn thế giới.
Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1995 với sự ra đời của trang
Classmate với mục đích kết nối bạn học. Tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees
vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích [23]. Năm 2002,
Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh.
Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như phim ảnh (embedded video) đã

“nghiện” mạng xã hội, biểu hiện ở việc nếu không online họ có thể bị rơi vào trạng
thái nôn nao, khó chịu, buồn bực… Mạng xã hội nhanh chóng tạo hiệu ứng xã hội
bằng cách truyền tải những thông tin, hình ảnh cho hàng ngàn, hàng triệu thành viên
khác về những chuyện xấu như nữ sinh cởi áo giữa lớp học, cấu xé nhau nơi công
cộng, “lộ hàng” Điều này gây nên hiện tượng bắt chước, lây lan trong xã hội, ảnh
hưởng đến lối sống của giới trẻ.
Nhiều nhà khoa học hàng đầu của Anh cảnh báo rằng các trang web cộng
đồng đang gây nên nhiều thay đổi tiêu cực đối với não của trẻ em tại xứ sở sương
mù. Susan Greenfield, một chuyên gia thần kinh nổi tiếng của Anh, khẳng định các
mạng xã hội như Facebook, Twitter và Bebo khiến trẻ em trở nên ích kỷ hơn, đồng
thời làm giảm khả năng tập trung và làm tăng tính tự mãn. Baroness Greenfield,
một nhà thần kinh học của Đại học Oxford, hiện giữ chức giám đốc Viện Hoàng gia
Anh, cho rằng, việc tiếp xúc liên tục với mạng xã hội sẽ đảo ngược mọi hoạt động
của não: “Các mạng xã hội, trò chơi điện tử bạo lực, chương trình truyền hình sẽ
làm chậm tốc độ phát triển của não trẻ, vì chúng rất dễ bị thu hút bởi âm thanh và
ánh sáng mạnh”. Baroness cũng khẳng định việc việc chơi game, chat và tham gia
mạng xã hội có thể khiến cả một thế hệ mất đi khả năng tập trung trí óc: “Tôi luôn
sợ rằng một ngày nào đó, cách giao tiếp truyền thống sẽ bị thay thế bởi những hộp
thoại trên màn hình máy tính”, bà tâm sự [29].
Nhiều nhà tâm lý cũng cho rằng công nghệ số đang thay đổi cách tư duy của
con người. Họ chỉ ra rằng học sinh ngày nay không cần phải lập dàn ý trước khi
viết bài luận vì sự phổ biến của các chương trình xử lý văn bản trên mạng. Sue
Palmer, tác giả của cuốn sách nổi tiếng Toxic Childhood, phát biểu: “Sự phát triển
trí óc của trẻ em ngày nay đang bị cản trở vì chúng không tham gia vào những hoạt
động mà loài người đã thực hiện từ hàng nghìn năm nay. Tôi không phản đối việc

20
cho trẻ tiếp cận với công nghệ số và máy tính, nhưng trước khi tham gia vào xã hội
ảo, chúng cần phải biết cách tạo mối quan hệ với người thực”. Trong một cuốn
sách mang tên Alone Together vừa xuất bản mới đây, tiến sĩ Turkle đã kêu gọi

này, internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày
của họ. Học hành, giao tiếp, đọc thông tin… tất cả đều qua internet. Đây là thế hệ
không ngại chia sẻ trên internet - mức độ thông tin mà họ không ngại ngần bày tỏ
qua internet thật là đáng ngạc nhiên đối với thế hệ già hơn. Như nhận xét của tạp
chí Time trong bài viết về nhân vật của năm: “Ý thức về bản thân của chúng ta
thay đổi nhiều hơn, trong khi ý thức về sự riêng tư mở rộng hơn. Những gì đã
từng được coi là thầm kín thì nay được chia sẻ với hàng triệu người chỉ bằng một
cú nhấp chuột” [33].
Theo ông Effendy Ibrahim, giám đốc kiêm cố vấn Luật về An toàn Internet
của Symantec Châu Á: “Chúng ta đang cho đi một cách hào phóng những thông tin
mà tin tặc có thể lợi dụng để tấn công chính chúng ta”. Chỉ bằng những thông tin
công khai có được, tin tặc có thể dễ dàng nắm được sở thích chiếm được niềm tin
của người dùng. Chúng có thể dễ dàng truy cập và tấn công trang profile để rồi từ
đây mở rộng vùng tấn công sang toàn bộ bạn bè trong Frendlist [34].
Tại Việt Nam, Zing Me có 6,1 triệu người sử dụng chiếm xấp xỉ 20 % tổng
số người dùng Internet Việt Nam; Yume.Vn có 2,9 triệu người dùng; Facebook có
2,6 triệu người dùng. Hiện nay, cộng đồng mạng ngày càng thu hút đông đảo học
sinh, sinh viên, doanh nhân, doanh nghiệp Theo ước tính của VNG thì đến năm
2014 tỉ lệ sử dụng mạng xã hội của người Việt Nam có thể lên tới 50% [35].
Giới trẻ Việt Nam hiện nay năng động và thành thạo với công nghệ thông
tin. Việc tham gia vào các mạng xã hội của giới trẻ như là một nhu cầu tất yếu. Tuy
nhiên tính kết nối toàn cầu của mạng xã hội Việt Nam còn thấp. Các mạng xã hội
riêng của Việt Nam như Tamtay.vn; Truongxua.vn; Banbe.net hay Zing me cũng
ít người dùng dù giao diện dễ sử dụng, có các chức năng thuận lợi cho việc tìm lại
bạn học cũ ở mọi miền đất nước, giao lưu, chia sẻ tâm tình Theo khảo sát của tổ
chức Cimigo Việt Nam, số người dùng mạng xã hội tính tới cuối năm 2010 tại Việt
Nam đã đạt gần 10 triệu người [34]. Khảo sát này chưa đi sâu vào thói quen và hành
vi lướt mạng xã hội của người dùng Việt, nhưng chắc chắn chân dung ảo của đại đa
số người dùng không hề mờ nhạt chút nào, thậm chí là rất chi tiết từ tên tuổi, nơi
làm việc, địa chỉ, ngày sinh cho đến ảnh chân dung, tình trạng hôn nhân, con

Nguyễn An Ni nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ của việc sử dụng internet và hoạt
động học tập của sinh viên” Mã số Q.CL.05.01[13]. Đề tài đã tiến hành khảo sát
640 sinh viên của 10 trường đại học, trong đó 5 trường ở Hà Nội và 5 trường ở
Thành phố Hồ Chí Minh.

23
Đề tài đã đưa ra những kết quả chính như: Mối liên hệ giữa hành vi học tập
chủ động tích cực của sinh viên với việc sử dụng internet đó là, internet chỉ có liên hệ
tới hành vi lên thư việc đọc tài liệu theo chiều hướng tích cực, tức là những người
càng truy cập càng nhiều thì càng chăm lên thư viện.Về dạng hành vi phản học tập có
mối liên hệ với việc truy cập Internet ở khía cạnh khác. Có một nghịch lý là tần xuất
truy cập Internet càng cao thì tỷ lệ nghỉ học lại càng giảm. Sinh viên sử dụng mạng
với mục đích giao tiếp nói chuyện riêng trong lớp nhiều hơn. Sinh viên truy cập
Internet hàng ngày làm việc trái giờ chiếm tỷ lệ lớn nhất nhưng ở mức độ thường
xuyên thì những người không bao giờ truy cập vi phạm nhiều hơn. Đặc biệt, những
người sử dụng Internet phục vụ học tập ít có hành vi giờ này học bài môn khác so với
những người truy cập mạng không với mục đích đó. Tần suất truy cập Internet cũng
liên hệ tới hành vi ngủ, chơi cờ hoặc đánh bài trong giờ học. Những người truy cập
mạng hàng ngày vi phạm nhiều nhất nhưng nếu sử dụng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ
này thấp hơn so với những người không truy cập Internet.
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu, đề tài đi đến kết luận Internet là một
công cụ hữu hiệu bổ trợ cho quá trình giảng dạy- học tập của sinh viên. Tuy nhiên,
cho dù nó đã tạo ra những sự thay đổi nhất định trong cách học của sinh viên, xét về
cơ bản mức độ ảnh hưởng này không sự lớn như kì vọng. Việc phổ cập và tạo điều
kiện cho sinh viên có thể truy cập vào mạng internet phục vụ cho việc học là cần
thiết, nhưng đi kèm nó phải là việc thay đổi một cách căn bản quá trình dạy. Vì nếu
không, sinh viên cũng chẳng cần chủ động hơn, không cần có thêm những thông tin
từ internet thì họ vẫn có kết quả cao. Nhóm tác giả cũng khẳng định rằng, điểm bất
hợp lý này cần được giải quyết đồng bộ từ phía giảng viên, sinh viên cũng như
những nhà quản lý giáo dục.

ở nhà và trong trường học từ đó sẽ dẫn đến tình trạng “lợi bất cập hại”. Bài viết
cũng đưa ra được sự cần thiết có những kế hoạch đào tạo định hướng sử dụng máy
tính và Internet một cách cơ bản và rộng rãi cho học sinh, sinh viên.
Tác giả Nguyễn Quý Thanh với bài viết “Internet và định hướng giá trị của
sinh viên về tình dục trước hôn nhân” [12]. Bài viết được rút ra từ cuộc nghiên cứu
thực nghiệm khảo sát trên 640 sinh viên trên quy mô tại 5 trường đại học ở Hà Nội
và 5 trường đại học ở TP.HCM. Từ kết quả nghiên cứu của mình, Nguyễn Quý
Thanh đã đưa ra mô thức sử dụng Internet phổ biến nhất của sinh viên Việt Nam đó
là: Sử dụng cho mục đích Chat (66.3%), còn việc tìm kiếm thông tin học tập và đọc
báo, truyện tranh trên mạng (65.6%). Từ phân tích trên có thể dễ dàng nhận thấy

25
rằng sinh viên lên mạng tìm kiếm thông tin cho nhu cầu giải trí nhiều hơn là để thu
thập thông tin cho việc học tập, thu thập kiến thức. Qua bài viết, tác giả nhấn mạnh
đến việc sử dụng Internet thường xuyên có ảnh hưởng đến định hướng giá trị của
sinh viên. Đồng thời cũng đưa ra nhận định về số lượng các nghiên cứu về tác động
của Internet đối với lối sống sinh viên là còn nhiều hạn chế và chưa nhiều.
- Tác giả Phạm Hồng Tung có bài nghiên cứu về “Văn hóa và lối sống của
thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”[16]. Trong
khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả không đi sâu phân tích và trình bày kỹ về
những vấn đề lý thuyết và cách tiếp cận đối với các đối tượng nghiên cứu phức tạp
là thanh niên, văn hóa thanh niên và lối sống thanh niên. Tuy nhiên, để bước đầu
xây dựng những nguyên tắc cho cách tiếp cận đối với chủ đề chính và góp phần
nhận diện những xu hướng biến đổi của văn hóa và lối sống của thanh niên Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, tác giả đã đề cập tới
một số khái niệm công cụ và khía cạnh phương pháp luận của các vấn đề nghiên
cứu. Trên cơ sở của các cách tiếp cận, tác giả trình bày cho phép nhận diện và đánh
giá xu hướng và mức độ biến đổi của lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối
cảnh đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước chủ động hội nhập quốc tế.
- Tác giả Nguyễn Bích với bài viết “Internet và những tác động làm thay đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status